TÔNG HUẤN

CHRISTIFIDELES LAICI

của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lo II

 

Về - ƠN GỌI & SỨ MỆNH

 của - NGƯỜI GIÁO DÂN

 

Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế

 

-----000----

 

Bản dịch của Gs. Nguyễn Đăng Trúc

Trung Tâm Anrê Phú Yên, Học Viện An Đức

 

 

 

 

   -  Nhập đề 

-  Chương Một:

 TA LÀ CÂY NHO CÁC CON LÀ CÀNH

-  Chương Hai: 

 TẤT CẢ LÀ CÀNH NHO CỦA MỘT CÂY NHO DUY NHẤT

-  Chương Ba:

THẦY ĐĂ SAI CHÚNG CON RA ĐI VÀ MANG LẠI KẾT QUẢ

-  Chương  Bốn:

 NHỮNG NGƯỜI THỢ TRONG VƯỜN NHO CỦA CHÚA

-      Chương  Năm:

 ĐỂ CHÚNG CON MANG LẠI HOA TRÁI

 

 

+

 

*     Gởi các Giám Mục

*     Các Linh mục và Phó tế

*     Các tu sĩ nam nữ

*     Tất cả tín hữu giáo dân

------&&&-----

 

NHẬP ĐỀ

1. "ƠN GỌI VÀ SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN (Chistifldeles laici) , trong Giáo Hội và thế giới" đă được Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1987 dùng làm đề tài thảo luận. Mọi tín hữu đều thuộc về Dân Chúa và Dân Chúa là những thợ làm vườn nho được đề cập đến trong Phúc âm thánh Mathêu: "Nước Trời giống như chủ nhân vườn nho lúc tảng sáng ra đi t́m thợ làm vườn nho. Ông đồng ư trả cho họ một đồng mỗi ngày và đưa họ vào làm vườn nho ḿnh" (Mt. 20:1-2).

Dụ ngôn Phúc âm mô tả trước mắt chúng ta vườn nho mênh mông của Chúa và đoàn lũ người gồm đàn ông đàn bà mà Ngài gọi và sai vào làm việc.

Vườn nho đó là toàn thể thế giới (Mt. 13:38), và thế giới này phải được biến đổi theo ư định của Thiên Chúa trong một viễn ảnh của vương quốc Người vào ngày thế mạt.

CÁC ÔNG CŨNG THẾ, HĂY VÀO LÀM VƯỜN NHO CHO TA.

2. "Vào lúc 9 giờ chủ nhân lại ra và thấy nhiều người khác c̣n đứng tại chỗ không có việc làm. Ông bảo họ: "Các ông cũng thế hăy vào làm trong vườn nho cho Ta" (Mt.20.3-4).

Lời mời gọi của Chúa Giêsu, từ xa xưa ấy trong lịch sử, vẫn c̣n luôn luôn vang dội đến tai chúng ta: Ngài mời gọi hết mọi người đến trong thế gian này.

Trong thời đại chúng ta, Giáo Hội sau Công Đồng Vaticanô Il, như một lễ Hiện Xuống mới với ơn Chúa Thánh Thần đổ xuống tràn trề, đă nhận thức sâu sắc về bản tính truyền giáo của ḿnh, và đă ngoan ngoăn lắng nghe tiếng Chúa sai đi vào trần thế, như "bí tích cứu rỗi mọi người" .(1)

**Cả các ngươi nữa. Lời mời gọi không chỉ nói với các Chủ chăn, linh mục, các tu sĩ nam nữ, nhưng nói với hết mọi người: người tín hữu giáo dân, cũng được Chúa mời gọi đích danh. Họ cũng nhận một sứ mệnh đối với Giáo Hội và đối với thế giới. Thánh Grêgôrio Cả cũng đă nhắc lại điều đó khi chú giải dụ ngôn này trong bài giảng.

 "Anh em thân mến, anh em hăy kiểm điểm lại cách sống của ḿnh, và xét lại xem anh em có phải là những người thợ của Chúa. Mỗi người hăy phán đoán việc ḿnh làm và kiểm điểm xem có phải là ḿnh đang làm việc trong vườn nho của Chúa". (2)

Công Đồng đă thừa hưởng một gia sản tín lư, linh hướng và mục vụ vô giá, v́ thế Công Đồng đă viết ra những trang tuyệt diệu về bản tính, về phẩm giá, về linh hướng, về sứ mệnh và trách nhiệm của người tín hữu giáo dân. Và các Nghị Phụ Công Đồng, đáp lại lời mời gọi của Chúa Kitô, đă lên tiếng kêu cầu mọi người giáo dân, nam cũng như nữ vào làm việc trong vườn nho của Ngài:

** "Thánh Công Đồng, lấy danh nghĩa Chúa, hết ḷng kêu cầu mọi giáo dân hăy t́nh nguyện và hăng hái đại độ đáp lại lời mời của Chúa Kitô là Đấng chính trong lúc này đang mời gọi họ một cách khẩn khoản, cũng như đáp lại sự thúc đẩy của Chúa Thánh Linh. Riêng với giới trẻ, họ phải cảm nghiệm rơ ràng là tiếng mời gọi ấy đặc biệt dùng cho họ, và tiếp nhận nó với niềm hân hoan và ḷng quảng đại. Chính Chúa đă dùng Công Đồng để thôi thúc mọi giáo dân mỗi ngày phải kết hợp với Ngài mật thiết hơn và coi lợi ích của Chúa như chính lợi ích của ḿnh (Phil. 2:5), phải hợp tác sứ mệnh cứu rỗi của Ngài. Một lần nữa, Ngài lại sai họ vào các thị thành, các nơi chỗ mà chính Ngài sẽ đến (Lc. 10.1; Ap-Act) (3)

Các ông cũng thế, hăy vào làm vườn nho cho Ta. Về mặt thiêng liêng, những lời này đă vang vọng suốt cả thời gian Thượng Hội Đồng Giám Mục tại Rôma từ ngày 1 đến 30 tháng 10 năm 1987. Các Nghị Phụ theo vết chân của Công Đồng, hơn nữa với kinh nghiệm bản thân cũng như kinh nghiệm từ các Công đồng của toàn thể Giáo Hội; nhất là nhờ sự đóng góp dồi dào của các Thượng Hội Đồng trước, các vị đă nghiên cứu một cách uyên thâm ơn gọi và sứ mệnh của giáo dân trong Giáo Hội và thế giới.

**Trong Thượng Hội Đồng này, c̣n có các vị đại diện giáo dân nam nữ. Họ đă đem lại cho Thượng Hội Đồng những đóng góp quư giá. Trong bài giảng bế mạc, Thượng Hội Đồng đă xác nhận : "Chúng ta cảm ơn Chúa v́ suốt khóa họp Thượng Hội Đồng này không những chúng ta đă vui mừng đón nhận sự tham dự của giáo dân (dự thính viên nam nữ), hơn nữa trong lúc bàn căi c̣n được nghe tiếng của những đại diện giáo dân khắp nơi trên thế giới tới từ các quốc gia khác nhau. Nhờ đó, chúng ta có dịp lắng nghe những kinh nghiệm, ư kiến và đề nghị của họ phát xuất từ ḷng tha thiết với quyền lợi chung" (4)

**Duyệt lại những năm sau Công Đồng, các Nghị Phụ đă có thể xác nhận được việc Chúa Thánh Thần đang làm là tiếp tục canh tân Giáo Hội, tạo nên sức sống thánh thiện mới với sự tham gia của một số đông tín hữu giáo dân. Việc tham gia này được thể hiện trong nhiều h́nh thức. Thí dụ: hợp tác mới giữa linh mục, tu sĩ và tín hữu giáo dân; tham dự tích cực vào phụng vụ, vào việc rao truyền Lời Chúa, vào việc dạy giáo lư; chu toàn một cách tốt đẹp những nhiệm vụ hay công tác phục vụ trao phó cho tín hữu giáo dân; phát triển các nhóm, các đoàn thể, các phong trào Công Giáo tiến hành và thiện nguyện, và việc nữ giới tham gia một cách rộng răi và nổi bật vào đời sống Giáo Hội, và sự phát triển của xă hội.

* Nhưng đồng thời, Thượng Hội Đồng cũng không quên nhận thấy con đường hậu Công Đồng của người tín hữu giáo dân không phải là không có nhiều chông gai nguy hiểm. Trong thực tế, có thể nói đến hai thử thách mà không phải lúc nào họ cũng dễ dàng vượt qua: đó là hăng say phục vụ đến độ quên sót bổn phận riêng của ḿnh trong phạm vi nghề nghiệp, xă hội, kinh tế, văn hóa hay chính trị, hoặc t́m cách hợp-thức-hóa để tách rời Đức Tin ra khỏi đời sống, đó là phân tách Phúc âm ra khỏi hoạt động cụ thể trong những phạm vi xă hội.

Suốt thời gian nghiên cứu, Thượng Hội Đồng luôn luôn đề cập đến Công Đồng Vaticanô II, v́ các giáo huấn của Công Đồng về vai tṛ giáo dân, mặc dù đă sau hai chục năm vẫn luôn hợp thời một cách lạ lùng, mang dấu chỉ của lời tiên tri: Một giáo huấn như thế có thể soi sáng và hướng dẫn để giải đáp vấn đề mới của thời đại hôm nay. Thật vậy, các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đă vạch rơ được những con đường chắc chắn để "lư thuyết" phong phú về vai tṛ giáo dân, từng được Công Đồng tŕnh bày, được "áp dụng" trong Giáo Hội. Mặt khác, cũng có những vấn đề phải đặt ra v́ tính cách "hợp thời", nói một cách khác, là các vấn đề hậu công Đồng. Ít nữa theo nghĩa thời gian, những vấn đề này, các Nghị Phụ đă đặc biệt chú trọng đến suốt trong thời gian bàn căi và suy nghĩ. Trong những vấn đề đó, phải nói đến những liên hệ giữa các thừa-tác-vụ và chức-vụ của người tín hữu giáo dân hiện tại và trong tương lai, sự bành trướng và triển nở các "phong trào" mới bên cạnh các h́nh thức hiệp hội giáo dân đă có, và vị thế cùng vai tṛ của phụ nữ trong Giáo Hội cũng như trong xă hội.

Sau khi đă sốt sắng hoàn thành công việc với đầy khả năng và thiện tâm thiện chí, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă bày tỏ và xin Ta, vào một thời điểm thuận tiện, tŕnh bày cho Giáo Hội hoàn vũ một tài liệu tóm lược, đúc kết về hàng giáo dân Công Giáo.(5)

Bức Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng và Công Đồng này muốn làm bật nổi giá trị công việc của Thượng Hội Đồng, từ "các đường hướng" (Lineamenta) đến "phương tiện làm việc" (Instrumentum laboris), từ bản tường tŕnh nhập đề đến các lời phát biểu của mỗi Gíám Mục và giáo dân, cả đến biên bản đúc kết sau cuộc tranh luận chung, từ những cuộc thảo luận và tường tŕnh của các nhóm nhỏ cho đến "đề nghị", và cả sứ điệp kết thúc. Tài liệu này của Ta không nằm ngoài lề Thượng Hội Đồng Giám Mục, nhưng là những lời diễn tả mạch lạc và trung thực của Thượng Hội Đồng; là hoa trái của việc làm tập thể mà giai đoạn chót là soạn thảo một bản tường tŕnh, nhờ những đóng góp của Hội Đồng Văn Pḥng Tổng Thư Kư Thương Hội Đồng và của chính Văn Pḥng

Mục đích của Tông Huấn này là khơi dậy và nuôi dưỡng một ư thức rơ ràng hơn về ân huệ và trách nhiệm mà mọi tín hữu giáo dân lănh nhận trong sự thông hiệp, và sứ mệnh của Giáo Hội.

 

NHỮNG NHU CẦU KHẨN THlẾT CỦA THẾ GlỚl NGÀY NAY:

"TẠl SAO CÁC NGUỜl ĐỨNG ĐÂY SUỐT NGÀY MÀ CHẲNG LÀM G̀?"

3. Ư nghĩa căn bản của Thượng Hội đồng, và kết quả rất quư giá và rất mong đợi của nó, là dẫn đưa tín hữu giáo dân đến lắng nghe Đức Kitô đang mời gọi họ vào làm việc trong vườn nho của Ngài, và cộng tác một cách hăng say đầy ư thức trách nhiệm trong sứ mệnh của Giáo hội, giữa giai đoạn vừa rực rỡ cũng vừa bi thảm của lịch sử, trước ngưỡng cửa của đệ tam thiên niên.

** Những hoàn cảnh đổi mới trong Giáo Hội cũng như của thế giới, trong thực tại xă hội, kinh tế chính trị và văn hóa hôm nay đ̣i hỏi một cách đặc biệt hoạt động của người tín hữu giáo dân. Nếu trước đây ai làm ngơ bổn phận này là điều không thể chấp nhận được, th́ hiện giờ thái độ lại càng đáng bị khiển trách hơn . Không ai được phép ở không, không làm ǵ.

**Chúng ta hăy đọc lại dụ ngôn Phúc âm: "Vào lúc năm giờ chủ nhân lại đi ra, ông c̣n gặp một số người khác đứng đấy và người bảo họ: "Tại sao các ông C̣n đứng đây, suốt ngày không làm ǵ cả. " Họ trả lời. "V́ không ai mướn chúng tôi". Ngài bảo: "Các ông cũng thế, hăy vào làm vườn nho của Ta" (Mt. 20. 6- 7).

**Khi mà trong vườn nho của Chúa đầy tràn công việc đang đợi chờ tất cả chúng ta, th́ không ai được biếng nhác. "Chủ nhân vườn nho" lại c̣n khẩn khoản đi mời lại: "Các ông cũng thế, hăy vào làm vườn nho cho Ta".

**Chắc chắn lời của Chúa vẫn vang vọng trong thâm tâm của mỗi người Công Giáo. Bỡi v́ mỗi người đă được trở nên giống như Đức Kitô nhờ Đức Tin và các bí tích khai tâm Kitô giáo, đă được ghép vào Giáo Hội như một phần thân thể sống động và đă trở nên một công dân linh hoạt của sứ mệnh cứu rỗi. Tiếng gọi của Chúa cũng đă được lưu truyền qua các biến cố lịch sử Giáo Hội và nhân loại, như Công Đồng nhắc nhở chúng ta: "Dân Chúa nhờ Đức Tin thúc đẩy biết rằng Thánh Linh Chúa chiếu sáng khắp vũ trụ đang hướng dân ḿnh, đă cố gắng nh́n nhận trong các biến cố, những đ̣i hỏi và ước vọng của thời đại chúng ta, và cũng là những đ̣i hỏi, uớc vọng của ḿnh, đâu là dấu chỉ chân thật của sự hiện diện và ư định Thiên Chúa. Bởi v́ Đức Tin cho chúng ta một ánh sáng mới, để nh́n xem mọi sự và giúp chúng ta biết được ư muốn của Chúa về ơn gọi toàn diện của con người, hướng tâm trí đi t́m những giải pháp hoàn toàn nhân bản". (6) (Vui Mừng và Hy Vọng -Gaudium et Spes 11) (7)

**Phải can đảm nh́n vào bộ mặt của thế giới này, là thế giới của chúng ta, với tất cả những giá trị, những vấn đề của nó, với tất cả những lo âu những hy vọng, những thành qủa chinh phục và những thất bại của nó: một thế giới với hiện t́nh kinh tế, xă hội, chính trị và văn hóa đầy dẫy các vấn đề và khó khăn nguy ngập hơn cả t́nh trạng được mô tả trong Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng. Dù sao, đây là vườn nho, là mảnh đất mà người tín hữu giáo dân được gọi để sống sứ mệnh của ḿnh. Chúa Giêsu muốn cho họ như Ngài đă muốn cho các môn đệ của Ngài, trở nên muối đất và ánh sáng của thế gian (Mt. 5.13-14).

Nhưng "địa cầu", "trần thế" mà người tín hữu phải là "muối mặn", phải là "ánh sáng", bộ mặt nó như thế nào?

**Thế giới hôm nay thay đổi mau lẹ, có nhiều t́nh trạng khác biệt nhau nên có nhiều cách đặt vấn đề. V́ thế phải thận trọng không nên "vơ đũa cả nắm", cũng không nên đơn-giản-hóa quá đáng. Nhưng cũng có thể ghi được một vài khuynh hướng đang phát sinh trong xă hội ngày nay. Cũng như trong cánh đồng Phúc âm cỏ dại và giống tốt cùng đồng thời mọc lên, trong lịch sử là hí trường của tự do con người cũng thế, điều thiện, điều ác, bất công và công lư, lo âu và hy vọng cùng đi song đôi, có khi lại quyến chặt vào nhau.

 

Tục hóa và nhu cầu tôn giáo

**4. Làm sao chúng ta không nghĩ đến t́nh trạng lănh đạm đối với tôn giáo đang phổ biến không ngừng và thuyết vô thần dưới nhiều h́nh thức khác nhau, nhất là dưới h́nh thức rất phổ thông là phong trào tục hóa? Con người say mê theo những cuộc chinh phục ngợp trời của khoa học, kỹ thuật tung hoành không giới hạn, và nhất là lâng lâng theo chước cám dỗ, một chước cám dỗ vừa rất cũ nhưng vẫn mới luôn, là muốn đặt ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa (Gn. 3:5) bằng việc sử dụng tự do của ḿnh một cách bừa băi. Con người như thế đă tự chặt đứt căn rễ sâu xa tôn giáo của ḿnh; họ đă bỏ quên Thiên Chúa, cho rằng Thiên Chúa không có một ư nghĩa ǵ đỗi với cuộc sống của họ, hoặc chối bỏ Ngài để sấp ḿnh thờ lạy đủ mọi thứ "tà thần" .

**Chủ thuyết tục hóa hiện tại, là một hiện tượng rất nghiêm trọng. Không những nó làm tổn thương đến cá nhân, nhưng c̣n đến cả những cộng đồng, như Công Đồng đă ghi; "Nhiều đoàn lũ ngày càng đông đảo rời xa tôn giáo trong đời sống thực tế".(8) Chính Ta cũng đă nhiều lần nhắc nhở, hiện tượng tục hóa đă đánh ngă nhiều dân tộc có truyền thống Công Giáo rất xa xưa, và hiện tượng này đ̣i hỏi phải cấp tốc có một tổ chức truyền giáo mới.

** Nhưng, ước vọng và nhu cầu tôn giáo không thể hoàn toàn mai một. Lương tâm mỗi người khi họ có can đảm đương đầu với những vấn nạn rất hệ trọng của cuộc sống, nhất là vấn nạn về ư nghĩa cuộc sống, ư nghĩa đau khổ và sự chết, họ không thể ngần ngại kêu lên như thánh Augustinô: "Lạy Chúa, Chúa đă dựng nên con cho Chúa, v́ thế tâm hồn con không thể an nghỉ cho đến khi được nghỉ an trong Chúa".(9)  Như vậy, thế giới hôm nay, dưới nhiều h́nh thức ngày càng phổ biến, ngày càng linh động, họ đă làm chứng rằng con người đang mở mắt nhận ra cuộc sống có cái ǵ thiêng liêng và siêu việt, trở về với ư thức thần thánh qua việc cầu nguyện, và đ̣i hỏi tự do kêu cầu danh Chúa.

 

Nhân vị con ngườ́: Phẩm giá bị chà đạp và được ca tụng.

**5. Chúng ta hăy nghĩ đến vô số điều xúc phạm đến phẩm giá con người. Khi phẩm giá con người là h́nh ảnh sống động của Thiên Chúa không được nh́n nhận và yêu thương (Jn. l:26), th́ họ bị trở nên công cụ, nô lệ cho bạo quyền dưới nhiều h́nh thức thật sai lạc và bỉ ổi. "Kẻ cường bạo" này mang nhiêu bộ mặt khác nhau: nó là ư thức hệ, là quyền lực kinh tế, hệ thống chính trị bất nhân, kỹ thuật chuyên chế khoa học, hoặc bá chủ "phương tiện truyền thông xă hội". Lại một lần nữa chúng ta thấy trước mắt một số lớn anh chị em chúng ta; quyền lợi căn bản họ bị cướp đoạt, có khi là do hậu qủa của thái độ dung túng qúa đáng, có khi là do bất công trắng trợn của những bộ nhân luật: chẳng hạn quyền được sống, quyền được bảo vệ thân xác toàn vẹn, quyền có nhà ở, việc làm, quyền lập gia đ́nh và sinh sản con cái với trách nhiệm làm cha mẹ, quyền tham gia vào đời sống xă hội và chính trị, quyền hưởng tự do lương tâm và tự do tôn giáo.

**Ai có thể kể cho hết số những trẻ thơ không được chào đời v́ đă bị bóp chết trong ḷng mẹ, những trẻ em bị bỏ rơi hoặc bị cha mẹ bạc đăi, những người con lớn lên cô đơn, thiếu t́nh thương và không được giáo dục? Nhiều nơi, không có việc làm và thiếu cả những phương tiện tối thiểu để sống một đời sống xứng đáng là con người. Ngay quanh những đô thị lớn, vẫn c̣n thấy nổi lên những xóm nghèo tận mạt, trong đó con người phải sống trong cùng cực khốn khổ cả về thể xác lẫn tinh thần luân lư.

**Nhưng tính cách thần thánh của nhân vị con người không thể tiêu diệt được, cho dầu nó phải luôn luôn bị khinh thị và xúc phạm: v́ nền tảng bất di dịch của nó chính là Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa và là Cha; bởi thế tính cách thần thánh của nhân vị vẫn luôn cần được tôn trọng.

*Cũng nhờ thế mà hiện nay ư thức về phẩm giá của con người ngày càng được minh định và phổ biến sâu rộng. Một luồng khí lành mạnh tốt đẹp đang thổi đến và bao trùm các dân tộc trên thế giới giúp ư thức hơn về phẩm giá con người: con người không phải là "một sự vật" hay "một đồ vật" mà người ta có thể sử dụng, nhưng nó luôn luôn và độc nhất là một "chủ thể" có lương tri và tự do, được mời gọi sống với tinh thần trách nhiệm trong xă hội và lịch sử, được đặt định để hướng về giá trị thiêng liêng và tôn giáo.

**Có thể xác quyết được rằng thời đại chúng ta là thời đại của những "chủ nghĩa nhân bản". Ngược lại, những chủ nghĩa phát xuất từ vô thần và tục hóa lại chủ trương trái ngược, hạ bệ và tiêu diệt con người, những chủ thuyết suy tôn con người quá đáng đến nỗi rơi vào những h́nh thức tôn thờ thần tượng. Tuy nhiên cũng có những chủ thuyết đi đúng theo sự thật, nh́n nhận tính cách vừa cao cả vừa khốn khổ của con người, nâng đỡ và hỗ trợ phẩm giá toàn diện của con người.

**Chúng ta có thể nhận ra dấu hiệu và kết qủa của những phong trào nhân bản ấy là con người càng cảm thấy cần nhu cầu hợp tác. Rơ ràng đó là một trong những nét đặc biệt của nhân loại hôm nay, một "dấu thời gian" chân chính đang chín mùi trong nhiều địa hạt, nhiều lănh vực khác nhau: nhất là trong giới phụ nữ, trong giới thanh niên, trong phạm vi gia đ́nh, học đường, cũng như trong lănh vực văn hóa, kinh tế, xă hội và chính trị. Nhận lănh một vai tṛ, tự tạo cho ḿnh thành vị sáng lập một nền văn hóa nhân bản, đó là một đ̣i hỏi đối với cá nhân và chung cho toàn thể các dân tộc.(10)

 

Tranh chấp và ḥa b́nh

**6. Chúng ta cũng không thể bỏ qua một hiện tượng được coi như dấu chứng của ngày nay: có lẽ hơn bất cứ giai đoạn nào của lịch sử, nhân loại hôm nay đang bị lung lay v́ tranh chấp. Đây là một hiện tượng mang nhiều h́nh thức, nó không chỉ là sự đa diện chính đáng tùy tâm trạng hay sáng kiến, nhưng là sự chống đối gây thương tổn giữa người với người, nhóm này với nhóm khác, giữa tầng lớp này với tầng lớp khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác, và giữa khối này với khối khác. Sự chống đối này lộ diện với nhiều h́nh thức của vũ lực, của khủng bố, của chiến tranh. Một lần nữa, nhưng lần này là một con số đông đảo, nhiều nhóm người v́ muốn phô trương "tối cao quyền lực" của ḿnh, đă lập lại kinh nghiệm điên cuồng xây "Tháp Babel" (Gn. 11:1-9); là một hành động chỉ tạo ra hỗn loạn, đấu tranh, chia rẽ và áp bức. Gia đ́nh nhân loại v́ thế mà phải đảo lộn và xâu xé một cách thê thảm.

Mặt khác, chúng ta thấy xuất hiện một cách mạnh mẽ không thể đè bẹp được, ước vọng của mỗi người, của các dân tộc được lợi ích vô giá của ḥa b́nh trong công chính.

** Một trong Tám Mối Phúc Thật của Tin Mừng: "Phúc cho ai xây dựng ḥa b́nh" (Mt. 5.9) t́m thấy trong nhân loại thời đại chúng ta một âm vang mới mẻ và đặc biệt: Toàn thể nhân loại ngày nay sống, chịu đau khổ, và lao động để mang lại ḥa b́nh và công chính. Việc tham dự của nhiều người và nhiều hội đoàn vào đời sống xă hội ngày nay đang tiếp nối nhau cách không ngừng như những phương thế để đem niềm khao khát ḥa b́nh trở thành một sự thật. Trên cùng một con đường, chúng ta bắt gặp nhiều tín hữu giáo dân đang quảng đại dấn thân trong nhiều lănh vực hoạt động chính trị và xă hội dưới nhiều h́nh thức chính trị khác nhau, hoặc một số khác đóng góp ít nhất một cách vô vị lợi vào những hoạt động này.

 

ĐỨC GlÊSU KlTÔ, HY VỌNG CỦA NHÂN LOẠl.

**7. Hiện tại và tương lai một cánh đồng rộng lớn cần nhiều canh tác đang xuất hiện trước những công nhân được gởi tới bởi "chủ nhân" để làm việc trong vườn nho Ngài.

** Trong cánh đồng mà Giáo Hội đang hiện diện và hoạt động này gồm mọi người chúng ta chủ chăn, linh mục, phó tế, nam nữ tu sỹ và tín hữu giáo dân. Có những t́nh trạng trái ngược được lưu tâm cách sâu xa ảnh hưởng đến Giáo Hội: Chúng tác dụng một phần nào sinh hoạt nhưng không làm tê liệt hoặc hạn chế thành quả của Giáo Hội. Bởi v́ Thánh Linh, Đấng ban cho Giáo Hội sự sống, sẽ nâng đỡ hoạt động của Giáo Hội.

** Mặc dù có nhiều khó khăn, đ́nh trệ và mâu thuẫn đủ loại do giới hạn của con người, do tội lỗi và Thần Dữ, Giáo Hội hiểu rằng mọi nỗ lực của nhân loại để tạo sự hiệp thông và tham gia hợp tác, rồi ra cũng được đền đáp qua việc can thiệp của Đức Giêsu Kitô, vị Cứu Tinh của nhân loại và thế giới.

Giáo Hội biết rơ ḿnh được Đức Kitô sai đến như "dấu hiệu và phương thế của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và sự hợp nhất của toàn nhân loại" (11)

V́ thế bất chấp mọi biến cố, nhân loại có thể cậy trông, và phải hy vọng: chính Chúa Kitô là Phúc âm sống động, là Tin Mừng đem lại vui mừng mà Giáo Hội, loan báo cho chúng ta  mỗi ngày, và chính Giáo Hội đă trở thành chứng nhân cho mọi người.

Trong việc loan truyền và tŕnh bày nhân chứng này, người tín hữu giáo dân chiếm một chỗ độc đáo và không thay thế được: nhờ họ, Giáo Hội Chúa Kitô được hiện diện trong nhiều địa hạt khác nhau giữa thế giới như dấu hiệu và nguồn mạch hy vọng và t́nh yêu.

+ Giáo Hoàng Gioan Phaolo II

 

 

 

CHÚ THÍCH

1- Vaticanô II - Lumen Gentium, số 48.

2- Thánh Grêgôriô Cả - Bài giảng I, XIX, 2.

3- Vaticanô II - Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân Apostolicam

Actuositatem, SỐ 33.

4- Gioan-Phaolô II - Bài gíảng lễ bế mạc kỳ Thượng Hội Đồng Giám Mục VII - (30.10.1987). ASS 80 (/988), 598.

5- Xem Propositio 1.

6- Vaticanô II - Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, số 11

7- Sau khi quả quyết lại "tầm quan trọng và thời sự của Hiến chế Gaudium et Spes". Các Giám mục tham dự Thượng Hội đồng nói tiếp: "Tuy thế, chứng tôi nhận thấy những dấu chỉ ngày nay có phần khác với các dấu chỉ thời Công đồng, và c̣n mang nhiều vấn đề và nhiều nỗi khắc khoải lớn hơn. Thật thế, đâu đâu cũng thấy gia tăng t́nh trạng đói khát, bỉ áp bức, bất công, chiến tranh đau khổ và nhiều loại bạo hành khác". (Relatio finalis II D1).

8- Vaticanô II - Gaudium et Spes, số 7.

9-Thánh Augustinô - Confessiones, 1,1.

10 Xem Instrumentum laboris " ơn gọi và sứ mạng của giáo dân trong Giáo hội và giữa trần thế, 20 năm sau Vaticanô II ' 5-10.

11- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 1 .

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

 

TA LÀ CÂY NHO CÁC CON LÀ CÀNH

Phẩm giá của ngườí Tín Hữu Giáo Dân Trong Giáo Hội Mầu Nhiệm

 

MẦU NHlỆM CÂY NHO

8. H́nh ảnh cây nho trong Thánh Kinh được dùng nhiều cách và nhiều ư nghĩa. Đặc biệt nó được dùng để diễn tả mầu nhiệm Dân Chúa. Theo ư nghĩa này, người giáo dân không chỉ là những người thợ làm việc trong vườn nho, nhưng họ là một phần tử cây nho. Chúa nói: "Ta là cây nho, các con là cành" (Jn.15.5).

**Trong Cựu ước các tiên tri khi muốn nói đến dân được chọn, cũng đă dùng h́nh ảnh cây nho. Israel là cây nho của Thiên Chúa, là mềm vui của tâm hồn Ngài: "Ta đă trồng ngươi như một cây nho được chọn lọc" (Jer. 2:21); "Mẹ ngươi giống như một cây nho trồng bên bờ nước. Nó sai trái và um tùm hoa lá nhờ có nhiều nước tràn trề " (Ez.19.10); "Người bạn tôi có một vườn nho trên một sườn đồi ph́ nhiêu. ông cày bừa trở đất lượm đá sỏi để trồng vào đó một cây hảo hạng..." (Is. 5.l-2).

**Chính Đức Giêsu cũng dùng h́nh ảnh cây nho để mạc khải một số khía cạnh về Nước Thiên Chúa: "Một người kia trồng một vườn nho, ông rào dậu bốn bề, một hầm ép nho, và xây một tháp canh rồi ông cho các người làm nho thuê mướn và ông khởi hành đi xa." (Mk. 2:1 - Mt. 21:2S).

**Thánh Sử Gioan c̣n mời gọi chúng ta đi xa hơn, và đưa chúng ta đến khám phá mầu nhiệm của cây nho: Nó là biểu tượng và h́nh ảnh không những của dân Thiên Chúa, mà c̣n là biểu tượng và h́nh ảnh của chính Đức Giêsu. Ngài là gốc cây nho, c̣n chúng ta, môn đệ Ngài, chúng ta là cành. Ngài là "Cây Nho thật", các cành phải kết hợp để được sống (Jn . 15: 1.. )

**Công Đồng Vaticanô II lấy lại h́nh ảnh Thánh kinh để giải thích mầu nhiệm Giáo Hội, cũng đưa ra h́nh ảnh cây nho và cành: "Cây nho thật chính là Chúa Kitô; chính Ngài ban phát sự sống và sức sinh sản cho các cành là chúng ta. Qua Giáo hội chúng ta sống trong Ngài, và không có Ngài chúng ta chẳng làm được việc ǵ." (Jn. 15.1-5) .(12)

**Chính Giáo Hội là vườn nho trong Thánh Kinh. Là nhiệm mầu bởi v́ t́nh thương và sự sống của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, là ân huệ tuyệt đối ban nhưng không cho tất cả những ai được sinh ra bởi nước và Thánh-linh (Jn. 3:5), được gọi để sống chính sự hiệp thông của Thiên Chúa, để tỏ bày và thông truyền sứ mệnh hiệp thông này trong lịch sử. Chúa Giêsu nói: "Trong ngày ấy các con sẽ biết rơ Thầy Ở trong Cha Thầy, và các con Ở trong Thầy và Thầy Ở trong các con" (Jn. 14:20).

Người giáo dân chỉ nhận diện ḿnh, nhận chân bản tính nguyên thủy của ḿnh bên trong mầu nhiệm của Giáo Hội là mầu nhiệm hiệp thông ơn gọi cũng như sứ mệnh trong Giáo Hội và thế giới của người giáo dân cũng chỉ định nghĩa được bên trong phẩm giá này.

 

NGUỜl TÍN HỮU GlÁO DÂN LÀ Al?

9. Các Nghị Phụ đă nêu lên một nhận xét chính đáng là phải minh định cách rơ ràng về ơn gọi và sứ mệnh của tín hữu giáo dân, qua việc nghiên cứu sâu xa giáo lư của Công đồng Vaticanô lI, theo ánh sáng của các văn kiện mới của Giáo Hội, và kinh nghiệm sống của Giáo Hội được hướng dẫn do Chúa Thánh Thần. (13)

Để trả lời câu hỏi nguời tín hữu giáo dân là ai? Công Đồng đă đi xa hơn với lối giải thích tiêu cực trước đây, bằng một cái nh́n hoàn toàn tích cực. Công Đồng đă đưa ra ư hướng căn bản và đầy đủ thuộc về người giáo dân đối với Giáo Hội và mầu mhiệm của Giáo Hội. Ơn gọi đặc biệt của họ là "T́m nước Chúa trong khi quản trị các việc trần thế mà họ sắp xếp theo ư Chúa. " (14) Hiến chế ánh Sáng Muôn Dân (Lumengentium) c̣n thêm:

***"Danh hiệu Giáo dân có nghĩa là tất cả các Kitô hữu không thuộc thành phần chức thánh hay bậc tu tŕ được Giáo Hội công nhận, nghĩa là các Kitô hữu đă được rửa tội sáp nhập vào thân thể Chúa Kitô, được nhập tịch Dân Chúa, được trở thành kẻ tham gia theo cách của ḿnh vào chức vụ tư tế, chức vụ rao giảng Lời Chúa và chức vụ vương giả của Chúa Kitô, họ là những người thi hành sứ mệnh của toàn dân Kitô hữu trong Giáo Hội và giữa trần thế theo nhiệm vụ riêng của ḿnh. " (15)

Đức Piô thứ XII đă quả quyết: "Các tín hữu nói một cách rộng hơn, là các giáo dân là kẻ đứng ở mặt trận tiền phong trong đời sống của Giáo Hội. Nhờ họ, Giáo Hội trở nên nguyên lư sự sống cho xă hội loài người. V́ thế, chính họ phải ư thức ngày càng rơ rệt là họ không những thuộc về Giáo Hội mà là Giáo Hội, nghĩa là cộng đồng các tín hữu trên mặt đất, dưới sự hướng dẫn của vị thủ lănh chung là Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục hiệp thông với Ngài. Họ là Giáo Hội".(16)

** Theo h́nh ảnh Thánh kinh về cây nho, người tín hữu giáo dân cũng như tất cả các phần thân thể khác của Giáo Hội, là những cành nho tháp nhập vào Đức Kitô là Cây Nho Thật; chính nhờ Ngài mà họ được sống và trổ sinh hoa trái.

** Được ghép vào Đức Kitô nhờ Đức Tin và phép Thánh Tẩy, là gốc rễ đầu tiên tạo nên thân phận mới của người Kitô hữu trong mầu nhiệm Giáo Hội, tạo nên sắc thái căn bản, và là nền tảng của tất cả mọi ơn gọi và hoạt động của đời sống Kitô hữu của người tín hữu giáo dân. Trong Đức Kitô chết và sống lại, người đă rửa tội trở nên một "thụ tạo mới" (Gal. 6.15,2 Cor.5.17), một thụ tạo được thanh tẩy hết tội lỗi và sống ơn nghĩa Chúa.

Như thế "h́nh ảnh" người giáo dân được phác họa dựa vào kho tàng phong phú nhiệm mầu Thiên Chúa đă ban cho người Kitô hữu trong bí tích Rửa Tội.

 

PHÉP RỬA TỘl VÀ THÂN PHẬN MỚl CỦA NGƯỜl KlTÔ HỮU"

** 10. Không phải là quá đáng khi chúng ta quả quyết rằng: toàn cuộc sống của người tín hữu giáo dân chỉ có mục đích là đưa họ đến nhận biết mầu nhiệm chính yếu của họ phát xuất từ phép Rửa Tội, là bí tích Đức Tin, để họ có thể sống nghĩa vụ theo ơn gọi Chúa đă chỉ định. Để phác họa "h́nh ảnh" người tín hữu giáo dân, chúng ta hăy kiểm xét một cách trực tiếp và rơ ràng các khía cạnh căn bản sau đây: Phép Rửa Tội đă tái sinh chúng ta trong sự sống con Chúa; nó hợp nhất chúng ta với Chúa Giêsu Kltô, với thân thể Ngài là Giáo Hội, xức dầu cho chúng ta trong Chúa Thánh Thần bằng cách làm cho chúng ta trở nên những đền thờ thiêng liêng.

 

Con Chúa trong Người Con Một

11. Chúng ta nhớ lại những Lời của Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô: "Ta nói rất thật với ông, hễ ai chẳng sinh lại bởi nước và Thánh Linh, th́ không được vào nước Thiên Chúa"(Jn. 3. 5). Phép Rửa Tội là một sinh hạ mới, một cuộc tái sinh.

**Chính khi nghĩ đến khía cạnh này của phép Rửa Tội mà Thánh Phêrô Tông Đồ đă ca lên: "Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, v́ ḷng từ bi cao cả Ngài đă tái sinh chúng ta nhờ sự sống lại của Đức Giêsu Kitô từ trong kẻ chết, để chúng ta được hưởng gia tài bất diệt, không t́ ố, cũng không tàn héo" (1 Pt. 1:3-4), và Người gọi là Kitô hữu những ai Chúa đă "tái sinh, không phải do hạt giống hay hư nát, nhưng do hạt giống bất diệt là Thiên Chúa hằng sống và tồn tại muôn thuở" (1 Pt.1:23)

** Nhờ Phép Rửa, chúng ta trở nên con cái nam nữ của Thiên Chúa, trong Con Một của Ngài, là Đức Giêsu Kitô. Khi ra khỏi giếng nước Rửa Tội, mỗi người Kitô hữu đều được nghe tiếng đă phán trước kia trên bờ sông Giođanô: "Con là con ta yêu dấu, rất đẹp ḷng ta" (Lk. 3:22). Và như thế họ hiểu là họ được kết hợp với Người Con yêu dấu v́ đă trở thành dưỡng tử (Gal. 4:4- 7) và là anh em của Chúa Kitô. Như thế, được thể hiện trong lịch sử cuộc đời của Thiên Chúa: "Những ai Ngài đă nhận biết trước, th́ Ngài định cho họ được trở nên h́nh ảnh Con Ngài, để làm cho Con Ngài trở thành trưởng tử của vô số anh em " (Rom.8:29)

** Chính Chúa Thánh Thần làm cho những người đă rửa tội trở nên con cái nam nữ của Thiên Chúa, và đồng thời trở nên chi thể của Thân thể Đức Kitô. Thánh Phaolô đă nhắc lại cho các Kitô hữu thành Cônrintô: "Tất cả chúng ta đă được rửa tội trong một Thánh Thần độc nhất để làm thành một thân thể' (1 Cor. 12:13) đến nỗi vị Tông đồ Cả có thể nói với các tín hữu giáo dân của Ngài: "Anh em là thân thể Chúa Kitô, và mỗi người đều là chi thể " (1 Cor.12:27) ; " Và đây là chứng cớ rơ ràng anh em là con cái, được Thiên Chúa sai đến, Thần Linh của Con Ngài ở trong tâm hồn chúng ta" (Gal.4:6, Rom. 8.15-16).

 

Một thân thể trong Đức Kitô.

12. Được tái sinh trở thành "con trong người Con", những ai đă chịu phép Rửa Tội đều là "chi thể của Đức Kitô và cũng là thành phần trong nhiệm hề của Giáo Hội" theo như giáo huấn của Công Đồng Florence. (17)

Phép Rửa Tội có ư chỉ và đồng thời phát sinh sự tháp nhập mầu nhiệm nhưng thực sự vào Thân Thể bị đóng đinh và vinh hiển của Đức Giêsu. Nhờ Bí Tích ấy, Chúa Giêsu kết hợp người chịu phép Rửa Tội với cái chết của Ngài để kết hợp họ với sự sống lại của Ngài (Rom. 6.3-5), lột bỏ "con người cũ" để mặc cho họ "con người mới", nghĩa là chính Ngài: "Tất cả anh em đă được rửa tội trong Đức Kitô, anh em được mặc lấy chính Đức Kitô" (Gal. 3.27, Eph.4:22-24, Col. 3:9-10). Bởi đó "mặc dầu là số đông, chúng ta chỉ là một thân thể trong Đức Kitô" (Rom. 12:5).

Các lời của Thánh Phaolô là những tiếng vọng trung thực giáo huấn của chính Đức Giêsu, nó đă mặc khải cho chúng ta thấy sự hợp nhất nhiệm mầu của các môn đệ với Ngài và giữa họ với nhau, tŕnh bày sự hợp nhất ấy như là h́nh ảnh và sự nối tiếp của sự thông hiệp nhiệm mầu giữa Chúa Cha với Chúa Con, và Chúa Con với Chúa Cha trong mối giây t́nh thương của Chúa Thánh Thần (Jn. 17.21). Chính Chúa Giêsu đă đề cập đến sự hợp nhất này khi Ngài dùng h́nh ảnh cây nho và cành nho: "Ta là cây nho, chúng con là cành " (Jn. 15. 5) . Một h́nh ảnh nói lên không những sự mật thiết sâu xa của các môn đệ với Chúa Giêsu, mà cũng biểu lộ sự thông hiệp sinh động giữa các môn đệ: tất cả đều là cành của một Cây Nho duy nhất.

 

 

Đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần.

13. Trong một h́nh ảnh so sánh khác là h́nh ảnh của một ngôi nhà, Thánh Phêrô Tông Đồ đă định nghĩa các người đă chịu phép Rửa Tội như những "viên đá sống động" xây trên Đức Kitô là "viên đá góc" . V́ thế, các người đă chịu phép Rửa Tội được dành riêng "xây đền thờ thiêng liêng" (1 Pt. 2:5).

H́nh ảnh này đưa chúng ta vào một khía cạnh mới lạ khác do phép Rửa Tội đem lại, mà Công đồng Vaticanô II tŕnh bày qua những lời sau đây: "V́ chưng những kẻ đă rửa tội, nhờ sự tái sinh và ơn xức dầu của Chúa Thánh Thần, họ được hiến dâng để trở nên một ṭa nhà thiêng liêng." (18)

Chúa Thánh Thần "xức dầu" kẻ chịu phép Rửa Tội, đóng trên họ ấn tín không thể xóa bỏ (2 Cor. l:21-22), làm cho họ trở thành đền thờ thiêng liêng, nghĩa là thông ban tràn đầy sự hiện diện của Thiên Chúa nhờ kết hợp và nên giống Đức Giêsu Kitô.

** Người Kitô hữu, nhờ ơn "xức dầư" này làm cho mạnh dạn, có thể lặp lại những lời của Chúa Giêsu theo cách của ḿnh "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, v́ Ngài dă xức dầu thánh hiến tôi; sai tôi đem Tin Mừng cho kẻ nghèo khổ, loan tin giải phóng cho kẻ bị cầm tù, đem sự sáng cho kẻ đui mù, đem tự do cho kẻ bị áp bức, và loan báo năm Hồng ân của Chúa" (Lk. 4:lS-19, Is. 61:1-2).

** Như thế, nhờ ơn Chúa đổ tràn xuống qua phép Rửa Tội và phép Thêm Sức, người đă được rửa tội tham gia vào sứ mệnh của Đức Giêsu Kitô, Đấng Thiên sai cứu Thế.

 

THAM GlA VÀO CHỨC TƯ TẾ,

RAO GIẢNG VÀ VƯƠNG GIẢ CỦA ĐỨC KITÔ

***14. Khi nói với những người đă chịu phép Rửa Tội, Thánh Phêrô Tông Đồ xem họ như "những người con mới sinh", Người viết: "Chúng con hăy lại gần Ngài, Ngài là tảng đá hằng sống, mà loài người loại bỏ nhưng Thiên Chúa đă chọn v́ Thiên Chúa đă thẩm định giá trị. Chúng con cũng thế, chúng con hăy trở nên những viên đá sống động dùng để xây dựng Đền Thờ Thiêng Liêng, dâng lên những của lễ thiêng liêng mà Thiên Chúa có thể chấp nhận nhờ Đức Giêsu Kitô. Thật vậy, chính chúng con là ḍng dơi dược lựa chọn, và hàng tư tế vương giả, là một dân tộc thánh, một dân thuộc về Thiên Chúa, như thế chúng con có trách nhiệm rao giảng những kỳ vọng của Đấng đă gọi chúng con từ bóng tối đến ánh sáng lạ lùng của Ngài" (1 Pt. 2:4-5-9)

** Đó là một khía cạnh mới mẻ của ân sủng và của phẩm giá phép Rửa Tội. Người tín hữu giáo dân về phần riêng họ cũng tham gia vào ba chức vụ của Đức Kitô là chức tư tế rao giảng và vương giả. Đây là khía cạnh mà truyền thống Giáo Hội không bao giờ lăng quên, như thánh Augustinô đă tŕnh bày khi chú giải Thánh Vịnh 26; "Đavít nhận lănh nghi lễ xức dầu làm Vua. Trong thời ấy chỉ có Vua và Tư Tế được xức dầu. Hai vị này tiên báo h́nh ảnh vị Vua Thượng Tế độc nhất - Đức Kitô (tiếng Kitô bởi chữ "Chrisma" có nghĩa là xức dầu). Không chỉ vị thủ lănh của chúng ta, là thân thể của Ngài, chúng ta cũng đuợc xức dầu với Ngài... V́ thế mọi Kitô hữu đều được xức dầu, trái với thời Cựu Uớc chỉ có hai người được xức dầu. Nếu chúng ta là thân thể Đức Kitô, v́ tất cả chúng ta được xức dầu trong Ngài và trở thành những Kitô, bởi v́ đầu và thân thể làm thành một Đức Kitô toàn vẹn." (19)

***Theo đường lối của Công đồng Vaticanô II,(20) ngay từ khi mới bắt đầu công việc mục vụ, Ta đă lưu ư ca tụng phẩm chức tư tế rao giảng và vương giả của toàn dân Thiên Chúa. Ta nói: "Đấng đă sinh ra bởi Trinh Nữ Maria, Con của bác thợ mộc theo người đời ấy nghĩ tưởng, nhưng là Con Thiên Chúa Hằng Sống như Thánh Phêrô tuyên bố, đă đến để làm cho chúng ta tất cả trở nên "một vương quốc linh mục". Công đồng Vaticanô II đă nhắc nhở cho chúng ta về mầu nhiệm của quyền bính này, và về sứ mệnh của Đức Kitô là Linh Mục, là Thầy rao giảng, là Vua vẫn tiếp tục trong Giáo Hội. Tất cả mọi người, toàn dân Thiên Chúa tham gia vào ba sứ mệnh này" (21)

*****Với bức Tông Huấn này, Ta muốn kêu mời một lần nữa tất cả mọi tín hữu giáo dân đọc lại và suy ngắm, để lănh hội một cách tường tận và yêu mến say mê giáo huấn súc tích và phong phú của Công Đồng đề cập đến việc họ tham gia vào ba chức vụ của Đức Kitô.(22). Và đây là một tổng hợp những căn bản của giáo huấn ấy.

Các tín hữu giáo dân tham gia vào trách vụ tư tế, đó là trách vụ Chúa Giêsu đă dùng để hiến tế ḿnh trên Thánh Giá và c̣n tiếp tục hiến tế ḿnh trong nghi lễ Phép Thánh Thể để làm vinh danh Đức Chúa Cha và cứu rỗi nhân loại. Được ghép vào Đức Giêsu Kitô, những ai đă chịu phép Rửa Tội đều được kết hợp với Ngài bằng việc dâng hiến chính ḿnh và các hoạt động của ḿnh (Rom. 12:l-2). Khi nói đến người tín hữu giáo dân, Công Đồng tuyên bố:

 "Tất cả những hoạt động của họ, những lời cầu nguyện cũng như các hoạt động tông đồ, đời sống hôn nhân, gia đ́nh, những công việc lao động hằng ngày, cả việc giải trí, tinh thần thể xác, nếu  tất cả đều được hướng dẫn do Thần Linh Thiên Chúa, ngay cả những thử thách của cuộc đời, miễn là chịu đựng một cách nhẫn nại, tất cả trở thành của lễ thiêng liêng đẹp ḷng Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô (1 Phêrô.2:5). Trong Thánh Lễ, các của lễ này hiệp với Ḿnh Chúa được dâng lên cho Đức Chúa Cha với tâm hồn sốt sắng. Như thế người giáo dân thánh hiến cho Thiên Chúa chính cả trần thế này. Nhờ ḷng phụng thờ Chúa khắp mọi nơi bằng một đời sống thánh thiện." (23)

Việc tham gia vào trách vụ rao giảng của Đức Kitô "là Đấng lấy cả cuộc sống ḿnh cũng như lấy sức mạnh của lời nói để tuyên bố vương quốc Chúa Cha", (24) sự tham gia này làm cho người giáo dân có đủ năng-cách và dấn thân để nhận lănh Phúc âm trong Đức Tin, để rao giảng bằng lời nói và hành động, và để tố cáo một cách bạo dạn không do dự những ǵ là điều ác. Người tín hữu giáo dân hợp nhất với Đức Kitô "vị Đại Tiên Tri" (Lk. 7.16) và được đặt làm "chứng nhân" của Đức Kitô Phục Sinh trong Chúa Thánh Thần họ trở thành những người tham dự vào ư thức Đức Tin siêu nhiên của Giáo Hội "không thể sai lầm trong Đức Tin" (25) cũng như tham gia vào ân sủng của lời nói (Acts. 2:17-18, Ap. 19:10). Hơn nữa họ được gọi để chiếu sáng sự mới lạ và sức mạnh của Phúc âm trong đời sống thường ngày, trong đời sống gia đ́nh và xă hội của họ, cũng như để diễn tả niềm hy vọng vinh quang "ngay cả trong những cơ cấu của cuộc sống trần thế  (L.G. 35) với một tâm hồn nhẫn nại và can đảm giữa những khó khăn của thời hiện đại. (26)

Người tín hữu giáo dân thuộc về Đức Kitô là Chúa tể là Vua vũ trụ, nhờ đó họ được tham gia vào trách vụ vương giả của Ngài, và được Ngài kêu gọi để phục vụ và phổ biến Ngài trong lịch sử. Họ sống vương quyền Kitô hữu trước tiên bằng cách chiến đấu để chiến thắng thế gian tội lỗi (Rom 6. 12) ngay trong chính ḿnh họ, rồi hiến dâng ḿnh để phục vụ trong đức bác ái và trong công bằng. Chính Đức Kitô hiện diện trong mọi người anh em, nhất là trong những người thấp hèn nhất (Mt. 25.40).

Nhưng người tín hữu giáo dân được gọi đặc biệt để đem lại cho các tạo vật những giá trị nguyên thủy của nó. Khi hoạt động trong ơn nghĩa Chúa, người giáo dân liên kết mọi thụ tạo vào lợi ích chân thật của con người. Làm như thế, họ được tham gia vào việc thi hành quyền bính của Đức Kitô Phục Sinh là Đấng đă lôi kéo mọi sự về Ngài, và đặt mọi sự và chính ḿnh dưới quyền Đức Chúa Cha, để Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người (Jn. 12:32, 1Co r. 18: 28).

***Sự tham gia của giáo dân vào ba chức vụ của Chúa Giêsu Linh Mục, rao giảng và Vua bắt nguồn từ việc xức dầu của phép Rửa Tội, được phát triển nhờ phép Thêm Sức, được nâng đỡ và kiện toàn trong phép Thánh Thể. Đây là một sự tham gia ban cho mỗi tín hữu giáo dân, nhưng với tư cách là họ tạo thành một thân thể duy nhất của Chúa Kitô. Bởi v́ Chúa Giêsu làm cho Giáo Hội được sung túc bằng các ân huệ của ḿnh, v́ Giáo Hội là Thân thể và là Hiền thê của Ngài. Như thế mỗi người được tham gia vào ba sứ vụ của Đức Kitô chỉ v́ họ là phần thân thể của Giáo Hội, như Thánh Phêrô Tông đồ đă dạy khi gọi những người đă chịu phép rửa tội "là ḍng giống được lựa chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, là dân tộc thuộc về Thiên Chúa" (1 Pt. 2:9).

** Và cũng v́ nó bắt nguồn từ sự thông hiệp trong Giáo Hội nên việc tham dự của các tín hữu giáo dân vào ba chức vụ của Đức Kitô đ̣i hỏi phải sống và thực hiện trong sự thông hiệp, và để cho sự thông hiệp ngày càng tăng trưởng. Thánh Augustinô viết: "Cũng như chúng ta tất cả được gọi là Kitô-hữu (Christiani) v́ đă được xức dầu (Chrisma) một cách thiêng liêng, do đó tất cả được gọi là linh mục, bởi v́ chúng ta là thành phần thân thể c ủa Linh Mục duy nhất." (27)

 

NGƯỜl TÍN HỮU GlÁO DÂN VÀ TÍNH CÁCH TRẦN THẾ

** 15. Tính chất mới lạ của đời sống Kitô-hữu là nền tảng và tước hiệu của sự b́nh đẳng giữa tất cả những ai đă chịu phép Rửa Tội trong Đức Kitô, giữa tất cả những thành phần của Dân Chúa: "Phẩm giá của tất cả mọi thành phần đều giống nhau v́ mọi thành phần đều cùng được tái sinh trong Đức Kitô; ơn làm nghĩa tử cũng như nhau; mọi người cùng (đều được kêu gọi đến sự trọn lành, chỉ có một ơn cứu rỗi, một đức cậy trông, một đức ái không phân chia" (28). Nhờ phẩm giá chung do phép Rửa Tội này, người tín hữu giáo dân là người đồng trách nhiệm với tất cả các vị thừa-tác-viên đă được phong chức thánh, với các tu sĩ nam nữ, đối với sứ mệnh của Giáo Hội.

Nhưng phẩm giá chung do phép Rửa Tội nơi người tín hữu giáo dân có một h́nh thái làm cho họ khác biệt, nhưng không chia cách họ khỏi linh-mục và tu-sĩ nam nữ. Công Đồng Vaticanô II đă diễn tả h́nh thái này chủ tại trong tính cách trần thế. "tính cách trần thế là đặc tính riêng biệt của giáo dân." (29)

Muốn hiểu rơ một cách đầy đủ vị trí chuyên biệt của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội, phải đào sâu tầm mức thần học của tính cách trần thế theo ánh sáng của chương tŕnh cứu chuộc của Thiên Chúa, và mầu nhiệm của Giáo Hội.

Như Đức Phaolô VI quả quyết, Giáo Hội "mang tính chất trần thế chính tông, bẩm sinh trong bản tính thâm sâu và sứ mệnh của ḿnh, gốc rễ nó nằm trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể và thực hiện dưới nhiều h́nh thức khác nhau đốí với các thành phần của ḿnh." (30)

Tuy Giáo Hội sống giữa trần thế, mà không thuộc về trần thế (Jn. 17.16). Giáo Hội được sai đi để tiếp nối công tŕnh Cứu Chuộc của Đức Giêsu Kitô; công tŕnh này "chính là lo cứu rỗi con người, nhưng cũng bao gồm việc canh tân những trật tự thế giới." (31)

** Dĩ nhiên mọi thành phần của Giáo Hội đều phải tham gia vào lănh vực trần thế của Giáo Hội, nhưng bằng những cách thế khác nhau. Đặc biệt sự tham gia của người giáo dân có một h́nh thái thực hiện và chức vụ "riêng rẽ và đặc biệt" theo như Công Đồng phân tích. Chính những h́nh thái này đă được gọi là "tính cách trần thế." (32) Trong thực tế, khi Công Đồng nói về thân thế của các tín hữu giáo dân, th́ trước tiên chỉ thân thế ấy như nơi chỗ họ được Thiên Chúa gọi: "Đó là nơi họ được gọi" .(33)  Đó là "nơi" được tŕnh bày với từ ngữ có nghĩa hoạt động, các tín hứu giáo dân "sống giữa đời, nghĩa là dấn thân vào đủ mọi nghĩa vụ và công tác của trần thế, trong những điều kiện thường nhật của đời sống gia đ́nh và xă hội đă tạo nên." (34). Đó là những con người đang sống một đời sống thông thường giữa thế giới, đang học hành, đang làm việc, đang tạo nên những t́nh bạn, những tương giao xă hội, nghề nghiệp, văn hóa. Công Đồng không nh́n thân phận của họ một cách đơn giản do khuôn mẫu những điều kiện và môi trường bên ngoài, nhưng t́m gặp đầy đủ ư nghĩa của nó trong Đức Giêsu Kitô. (35) Công Đồng lại qủa quyết: "Ngôi Lời nhập thể đă muốn đích thân chia xẻ t́nh liên đới nhân loại. Người thánh hóa những mối liên hệ của con người, nhất là những liên hệ gia đ́nh là ngưồn gốc phát sinh những liên hệ xă hội. Người đă tự nguyện tuân theo luật lệ quốc gia của Người . Người đă muốn sống cuộc sống thợ thuyền với người đương thời trong quê hương ḿnh." (36)

Như vậy, "thế giới ", đă trở nên môi trường và phương thế cho ơn gọi Kitô-hữu của người tín hữu giáo dân, v́ chính trần thế được chỉ định để tôn vinh Chúa Cha trong Đức Kitô. Với ư nghĩ này, Công Đồng có thể giải thích ư nghĩa nêng tư và đặc biệt ơn gọi của Thiên Chúa muốn kêu mời các tín hữu giáo dân. Họ không phải được kêu gọi để bỏ vị trí của ḿnh giữa thế giới. V́ phép Rửa Tội không kéo họ ra khỏi thế giới như Thánh Phaolô Tông Đồ đă nhấn mạnh: "Hỡi; anh chị em, mỗi người hăy ở trước mặt Chúa, trong vị thế ḿnh đang ở khi được kêu gọi" (1 Cor. 7.24). Trái lại, phép Rửa Tội trao phó cho họ một ơn gọi liên quan mật thiết với t́nh trạng của họ giữa thế giới. Các tín hữu giáo dân "được gọi, để nhờ sự hướng dẫn của tinh thần Phúc âm, họ hành động như men dậy từ bên trong, để thánh hóa thế giới bằng việc thực thi các nhiệm vụ của ḿnh. Như thế họ có thể đem Chúa Kitô đến cho kẻ khác bằng chứng tá của một đời sống sáng chói Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến." (37). V́ Vậy, sống và hành động giữa thế giới đối với các tín hữu giáo dân, không chỉ là một thực tại nhân-sinh-xă-hội, mà c̣n là một thực tại chuyên-biệt-thần-học giữa trần thế. Thiên Chúa muốn biểu lộ ư định của Ngài và thông ban cho họ ơn gọi đặc biệt là "t́m nước Thiên Chúa bằng cách quản lư các thực tại trần thế mà họ phải sắp xếp theo ư Thiên Chúa." (38)

*** Theo ư hướng này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă tuyên bố. "Tính cách trần thế của người tín hữu giáo dân không chỉ được định nghĩa theo quan niệm xă hội, mà theo ư nghĩa thần học. Tính cách trần thế phải hiểu theo ánh sáng của tác động tạo dựng và cứu chuộc của Thiên Chúa, Đấng đă trao phó trần thế này cho con người cả nam lẫn nữ để họ tham gia vào việc tạo dựng, để họ giải thoát thụ tạo khỏi ảnh hưởng của tội lỗi, để họ tự thánh hóa ḿnh trong đời sống hôn nhân hoặc độc thân, trong gia đ́nh, trong chức nghiệp và trong các hoạt động xă hội". (39)

Vị trí của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội được minh định rơ ràng từ gốc rễ, bắt nguồn từ những mới lạ của đời sống Kitô-hữu và đặc tính trần thế của nó. (40)

Các h́nh ảnh trong Phúc âm nói về muối mặn, ánh sáng và men bột, mặc dầu có ư nói về tất cả mọi tín đồ của Đức Giêsu, nhưng áp dụng cách riêng cho người tín hữu giáo dân. Đó là những h́nh ảnh mang nặng ư nghĩa tuyệt vời, bởi v́ không những nó diễn tả việc hội nhập sâu xa và tham gia toàn diện của các người tín hữu giáo dân trên mặt đất, vào sự sống của thế giới, của cộng đồng nhân loại, nhưng nhất là nói lên nét mới mẻ và độc đáo của một sự hội nhập và tham gia để phổ biến Tin Mừng Cứu Độ.

 

*** ĐUỢC KÊU GỌl ĐỂ NÊN THÁNH

16. Chúng ta sẽ thấy rơ ràng trọn vẹn phẩm giá của người tín hữu giáo dân nếu chúng ta khảo sát ơn gọi đầu tiên và căn bản mà Chúa Cha kêu mời mỗi người trong Đức Giêsu Kitô qua trung gian của Chúa Thánh Thần: ơn gọi nên Thánh nghĩa là ơn gọi đạt đến sự trọn lành của Đức ái. Thánh nhân là người đă sống cuộc đời làm chứng nhân phẩm giá của tín hữu Đức Kitô một cách sáng lạn.

Công Đồng Vaticanô II đă nói rất rơ ràng về ơn gọi mọi người phải nên Thánh. Có thể qủa quyết đó là đường hướng chính đă được vạch ra cho con cái nam nữ của Giáo Hội do Công Đồng, một Công Đồng đă được triệu tập để canh tân đời sống Kitô hữu theo ánh sáng Phúc âm.(41) Đường hướng này không chỉ đơn giản là một lời khích lệ luân lư, nhưng đó là một đ̣i hỏi mầu nhiệm của Giáo Hội: Giáo Hội là một cây nho được tuyển chọn, nhờ Giáo Hội các cành nho sinh trưởng nhờ nhựa sống của chính Đức Kitô, nhựa sống vừa thánh thiện vừa có sức thánh hóa; Giáo Hội là Nhiệm Thể, các phần thân thể của Giáo Hội thông phần sự sống thánh thiện của đầu là Đức Kitô; Giáo Hội là Hiền thê khả ái của Chúa Giêsu, là Đầng đă hiến thân để thánh hóa Giáo Hội (Eph. 5. 25). Chúa Thánh Thần là Đấng đă thánh hóa nhân-tính Chúa Giêsu trong ḷng Trinh Nữ Maria (Lk. 1:35) th́ cũng chính Chúa Thánh Thần ấy cư ngụ và hoạt động trong Giáo Hội để thông ban cho Giáo Hội sự thánh thiện của Con Thiên Chúa làm người.

Ngày nay hơn bao giờ hết, mọi người Kitô-hữu phải đi lại con đường canh tân theo tinh thần Phúc âm, đại độ chấp nhận lời mời của vị Tông Đồ "phải nên thánh trong mọi tác phong của ḿnh" (1 Pt. 1:15). Thượng Hội Đồng ngoại lệ năm 1985, hai chục năm sau Công Đồng, đă nhấn mạnh kịp thời về t́nh trạng khẩn cấp này: "Giáo Hội trong Đức Kitô là mầu nhiệm, v́ thế Giáo Hội phải được xem như là dấu chỉ, và phương thế của sự thánh thiện. Các vị Thánh nam, nữ, đă luôn luôn là nguồn gốc canh tân trong Giáo Hội và những giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử Giáo Hội. Ngày hôm nay chúng ta cần có những vị Thánh lớn, chúng ta hăy khẩn khoản cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta những vị Thánh như vậy." (42)

Mọi người trong Giáo Hội, v́ là phần thân thể Giáo Hội, nên nhận được và chia sẻ ơn gọi nên thánh chung của mọi người. Người tín hữu giáo dân được mời gọi nên thánh, và họ có quyền được gọi giống như mọi thành phần khác của Giáo Hội: "Tất cả những ai tin vào Đức Kitô, không phân biêt bậc sống, địa vị, đều được kêu gọi tiến đến sự sung măn của đời sống Kitô hữu và sự trọn lành của Đức ái" .(43) "Tất cả những tín hữu của Đức Kitô đều được mời gọi và có bổn phận nên thánh và nên trọn lành theo địa vị của ḿnh .(44)

++ Ơn gọi nên thánh bắt nguồn từ phép Rửa Tội và được các bí tích khác thêm sinh lực, nhất là phép Thánh Thể. Được mặc lấy Chúa Kitô và được hướng dẫn bởi Thánh Linh Ngài, các Kitô hữu là những "thánh nhân" và v́ thế, có năng-cách để dấn thân hầu biểu lộ sự thánh thiện của hành động ḿnh. Thánh Phaolô Tông Đồ luôn luôn khuyến khích các Kitô hữu sống "như những vị thánh" (Eph.5. 3).

Sống theo Thánh Linh đem lại kết qủa là sự thánh thiện (Rom. 6.22, Gal. 5.22). Sự sống này khởi dậy trong tầm hồn mọi người và mỗi người đă chịu phép Rửa Tội, ước muốn và đ̣i hỏi phải theo và bắt chước Đức Giêsu Kitô, bằng cách chấp nhận các Mối Phúc Thật của Ngài, bằng việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa, bằng cách tham gia một cách ư thức và linh động vào đời sống phụng vụ và bí tích của Giáo Hội, bằng việc cầu nguyện cá nhân, trong gia đ́nh hay trong cộng đồng, bằng tâm hồn đói khát sự công chính, bằng việc thực hành giới răn yêu thương trong mọi hoàn cảnh của đời sống, và bằng việc phục vụ anh em, đặc biệt những người khó hèn, nghèo túng và đau khồ.

 

Thánh Hóa bản thân giữa thế giới.

17. Ơn gọi nên thánh của người tín hữu giáo dân đ̣i hỏi sống theo tác động của Thánh Linh một cách đặc biệt trong việc hội nhập của họ vào thực tại trần thế, và trong việc tham gia vào các hoạt động trần gian. Chính vị Tông Đồ Cả đă khuyên khích chúng ta như vậy: "Những ǵ chúng ta nói, những ǵ chúng ta làm đều phải thực hiện với danh nghĩa Đức Giêsu Kitô, nhờ Ngài để cảm tạ Thiên Chúa Cha" (Col. 3:17). Áp dụng lời của Thánh Tông Đồ cho tín hữu giáo dân, Công Đồng qủa quyết một cách cứng rắn: "Họ không được để cho việc gia đ́nh việc trần thế lấn át đời sống thiêng liêng của ḿnh".(45)

*** Sau Công Đồng, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng tuyên bố. "Sự thống nhất đời sống của người tín hữu giáo dân rất quan trọng: v́ họ phải tự thánh hóa trong cuộc sống hằng ngày, cuộc sống nghề nghiệp và xă hội. Để đáp lại ơn gọi của ḿnh, người tín hữu giáo dân phải xem đời sống thường nhật như một cơ hội kết hiệp với Chúa và thực hiện ư muốn của Ngài, như một cơ hội phục vụ tha nhân bằng cách đưa họ tới hiệp thông với Thiên Chúa trong Đức Kitô" (46)

**Ơn gọi nên thánh phải được người tín hữu giáo dân nhận thức và sống, không phải như một bổn phận đ̣i hỏi và không thể lẩn tránh, nhưng một dấu chỉ chói sáng của t́nh yêu vô biên của Chúa Cha là Đấng đă tái sinh họ trong đời sống thánh thiện. Một ơn gọi như thế, trong những điều kiện ấy, phải được định nghĩa như yếu tố căn bản và không thể phân ĺa của đời sống mới do phép Rửa Tội, và v́ thế, như một yếu tố cấu tạo nên phẩm giá của họ. Đồng thời, ơn gọi nên thánh lại được liên kết mật thiết với sứ mệnh và trách nhiệm được trao phó cho người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội và giữa thế giới. Bởi v́, sự thánh thiện đang sống trong tín hữu phát xuất từ việc tham gia vào đời sống thánh thiện của Giáo Hội, tự nó cũng biểu tượng sự đóng góp tiên khởi và căn bản vào việc xây dựng Giáo Hội như là "việc các thánh thông công".

*** Trước cặp mắt Đức Tin đang mở ra một cảnh tượng lạ lùng: đó là bao nhiêu tín hữu giáo dân, nam và nữ trong cuộc sống và sinh hoạt hằng ngày, không ai hay biết tới họ, đôi khi cũng không ai hiểu được họ, các kẻ quyền hành trần thế không đếm xỉa tới họ nhưng Chúa Cha nh́n họ đầy vẻ tŕu mến, họ là nhưng người thợ đang mài miệt làm việc trong vườn nho của Chúa, là những kẻ thấp hèn nhưng cao sang v́ nhờ sức mạnh của ân sủng Thiên Chúa, họ đang mở rộng Nước Thiên Chúa trong ḍng lịch sử.

Phải nh́n nhận sự thánh thiện cũng là nền tảng căn bản và là điều kiện tuyệt đối không thay thế được để hoàn thành sứ mệnh của Giáo Hội. Chính sự thánh thiện của Giáo Hội là nguồn gốc sâu nhiệm và là mực thước không sai lầm của hoạt động tông đồ, và nghị lực truyền giáo của Giáo hội. Giáo hội Hiền thê của Đức Kitô càng được Ngài yêu mến và đáp lại T́nh yêu Ngài bao nhiêu, th́ Giáo Hội càng trở nên người Mẹ phong phú trong Thánh Linh bấy nhiêu.

** Một lần nữa, chúng ta hăy lấy lại h́nh ảnh của Thánh Kinh: sự sinh trưởng của cành nho tùy thuộc vào việc kết hợp với cây nho: "Cũng như cành nho không tự nó sinh hoa kết qủa nếu nó không ở trong cây nho, cũng thế chúng con sẽ không đem lại hoa trái nếu chúng con không ở trong Thầy, Thầy là Cây Nho, chúng con là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, họ sẽ mang lại nhiều hoa trái, bởi v́, ngoài Thầy, chúng con không làm ǵ được" (Jn. 15. 4-5).

Ở đây cần phải nhắc lại việc tôn phong chân phúc hay hiển thánh cho các tín hữu nam, nữ trong thời gian Thượng Hội Đồng. Toàn dân Thiên Chúa, nhất là các tín hữu giáo dân có thể t́m ở họ, những vị mô phạm mới cho việc nên thánh, những chứng nhân mới của các nhân đức anh hùng, được thực hiện trong những hoàn cảnh thông thường hằng ngày. Như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng quả quyết: "Các Giáo Hội địa phương nhất là các Giáo Hội trẻ trung phải lưu ư t́m xem trong con cái ḿnh, những giáo dân nam nữ giữa những cánh đồng như thế (cảnh sống thường nhật ở trần thế và bậc sống vợ chồng) đă sống chứng nhân thánh thiện và có thể trở nên gương mẫu cho người khác, để đề nghị phong Chân Phước hoặc Hiển Thánh". (47)

Suy nghĩ đên đây, để định vai tṛ người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội, Ta nhớ lại lời kêu mời của Thánh Lêô Cả: "Hỡi người tín hữu hăy nhận chân phẩm giá của ḿnh" (48). Đó cũng là điều mà Thánh Maxime, Giám Mục thành Turin nói với những người đă chịu phép Rửa Tội: "Anh em hăy nh́n nhận vinh dự anh em đă được trong mầu nhiệm này". (49) Tất cả những ai đă chịu phép Rửa Tội đều được mời gọi lắng nghe một lần nữa những lời của Thánh Augustinô: "Chúng ta hăy vui mừng và tạ ơn: Không những chúng ta đă được trở nên những Kitô-hữu, mà là trở nên Chúa Kitô... Chúng ta hăy vui sướng hân hoan, chúng ta đă trở nên Chúa Kitô!" (50)

Phẩm giá người Kitô hữu, nguồn phát sinh sự b́nh đẳng của mọi thành phần Giáo Hội, bảo đảm và cổ vơ tinh thần hiệp thông và huynh đệ, và đồng thời trở nên nguồn sức mạnh âm thầm của nghị lực tông đồ truyền giáo của người tín hữu giáo dân. Tuy nhiên là một phẩm giá đ̣i hỏi nhiều tước vị khác nhau của những người thợ được Chúa gọi vào làm vườn nho của Ngài, Công Đồng nói: "Bởi vậy, nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ư định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tới tất cả mọi người, ở mọi nơi và mọi thời đại ". (51)

 

 

CHÚ THÍCH

12- Vaticanô II - Hiến chếLumen Gentium, số 6.

13- Xem Propositio, số 8.

14- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 81.

15- tld

16- Piô XII - Diễn văn đọc trước các Hồng Y mới nhậm chức (20-02-1946) - AAS. 38 (1946) 149.

17- Công đồng Florentiô, Sắc lệnh Pro Armentis - DS 1314.

18- Vaticanô II - Hiến Chế Lumen Gentium, số 10.

19- Thánh Augustinô - Ennar-in PS XXVI, II,2.

20- Xem Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 10.

21- Gioan-Phaolô II - Bài giảng ngày nhậm chức Giáo Hoàng (22-10-1978)- AAS 70 (1978) 946.

22- Xem lại giáo huấn này trong Instrumentum laboris "ơn gọi và sứ mạng...", số 25.

23- Vaticanô II - Hiên chế Lumen Gentium, số 34.

24- tld - 35

25- tld - 12

26- tld - 35

27- Thánh Augustinô - De Civitate Dei - XX, 10.

28- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 32.

29- tld - 31

30- Phaolô VI . Bài giảng trước các Bề trên và Hội viên của các Tu hội đời (02-02-1972). AAS. 64 (1972) 208.

31- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam Actuasitatem, 5.

32- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 31.

33- tld - 31

34- tld - 31

35- Xem tld 48.

36- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et Spes, số 32.

37- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 31.

38- tld -

39- Propositio, 4.

40- "Là thành phần của Dân Chúa và Thân thể Mầu nhiệm, qua Bí tích Thánh tẩy tham dự vào ba chức vụ Tư tế, Ngôn sứ và Vương giả của Chúa Kitô, ǵáo dân diễn tả và thể hiện những kho tàng của phẩm giá đó khi sống giữa trần thế. Đốí với những ai có chức thừa tác vụ được phong chức thánh, đó là một phận vụ bổ sung hoặc đặc biệt khác thường, th́ đốí với người giáo dân lại là một sứ mệnh đặc loại của họ, Ơn gọi riêng của họ là "t́m Nước Chúa trong việc quản lư thế sự theo ư Chúa" (Lumen Gentium, số 31), (Gioan-Phaolo II  Kinh Truyền tin (15-3-1987), Insegnamenti. X,1 (1957), 566)."

41- Xem Chương V - Hiến chế Lumen Gentium, số 39-42. - "Ơn gọi nên thánh của mọi người trong Giáo hội".

42- Buổi họp lần II Thượng Hội Đồng Giám mục (1985) Relatio finalis II. A,4.

43- Vaticanô II - Hiên chế Lumen Gentium, số 40.

44- tld - 42 - Những xác quyết của Công đồng, nói lên một cách long trọng và rơ rệt, nhắc lại một chân lư nền tảng của Đức tin Kitô giáo. Chẳng hạn, Đức Piô XI trong Thông điệp Casti Connubii nói với vợ chồng Kitô giáo như sau: "Bất cứ ở hoàn cảnh nào, ở bậc sống nào tùy ư ḿnh chọn, mọi người có thể và phải bắt chước mẫu mực hoàn hảo về sự thánh thiện mà Chúa muốn con người thực hiện, mẫu mực đó là Chúa Giêsu Kitô; và với ơn Chúa giúp họ có thể và phải đạt đến mức sống trọn lành của Kitô giáo, như các Thánh đă làm gương cho chúng ta" AAS - 22 (1980), 548.

45- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, 4.

46- Propositio, 5.

47- Propositio, 8.

48- Thánh Lêo Cả - Bài giảng XXI

49- Thánh Maximô - Luận giải III về Bí tích Rửa tội.

50- Thánh Augustinô - Luận giải về Phúc âm Thánh Gioan - 21,8.

51- Vaticanô II - Hiên chế Lumen Gentium, số 33.

 

 

 

 

***********

 

 

Chương II

 

TẤT CẢ LÀ CÀNH NHO

CỦA MỘT CÂY NHO DUY NHẤT

Sự tham gia của tín hữu giáo dân

vào đời sống của Giáo Hội Hiệp Thông

 

 

MẦU NHlỆM CỦA GlÁO HỘl THÔNG HlỆP

18. Chúng ta hăy nghe lại lời của Đức Giêsu: "Ta là Cây Nho Thật, và Cha Ta là Người trồng nho... các con hăy ở trong Ta, như Ta ở trong các con" (Jn 15:l-4).

Chỉ mấy lời đơn sơ này cũng đă mặc khải cho chúng ta thấy sự thông hiệp mầu nhiệm kết hợp Chúa và các môn đệ Ngài, nối kết Đức Kitô với các người đă chịu phép Rửa Tội trong sự hợp nhất toàn vẹn: một sự thông hiệp linh động và chuyển ban sinh lực, nhờ đó người Kitô-hữu không c̣n thuộc về ḿnh nữa, nhưng trở thành sở hữu của Đức Kitô, như cành nho hợp nhất với cây nho.

Sự thông hiệp của người Kitô-hữu với Đức Giêsu, lấy sự thông hiệp của Chúa Con với Chúa Cha trong ơn Chúa Thánh Thần làm kiểu mẫu, nguồn gốc và cùng đích: Người Kitô-hữu hiệp nhất với Chúa Con trong mỗi giây ràng buộc t́nh yêu của Chúa Thánh Thần cũng được hiệp nhất với Chúa Cha. Chúa Giêsu c̣n tiếp: "Ta là cây nho, chúng con là cành" (Jn. 15.5). Người Kitô hữu hiệp thông với Đức Kitô nên họ cũng hiệp thông với nhau. Tất cả đều là cành nho của Cây Nho duy nhất là Đức Kitô. Trong sự hiệp thông huynh đệ này, Chúa Giêsu phản ảnh lạ lùng việc tham dự nhiệm mầu vào đời sống t́nh yêu thâm sâu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Để thực hiện sự thông hiệp này, Chúa Giêsu đă cầu nguyện: ** "Cho hết thảy được hợp nhất, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha vậy, để họ cũng được liên hiệp cùng Ta, cho thiên hạ tin rằng Cha đă sai con đến."

Sự thông hiệp này, chính là mầu nhiệm của Giáo Hội như Công Đồng Vaticanô II đă dùng những lời của Thánh Cypnanô để nhắc lại: "Giáo Hội phổ quát xuất hiện như một dân tộc được hợp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần".(52) Mầu nhiệm Giáo Hội hiệp thông này được nhắc nhở ở mỗi đầu Thánh Lễ khi vị chủ tế đón mời chúng ta bằng lời chào của Thánh Phaolô Tông Đồ: **"Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, và t́nh yêu của Chúa Cha và ơn Thông Hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em " (2 Cor. 13:13).

 

Công Đồng và Giáo-Hội-Học Hiệp Thông

19. Đây là tư tưởng chính mà Giáo Hội đă đưa ra ánh sáng để tự định-nghĩa ḿnh trong Công Đồng Vaticanô II, cũng như Thượng Hội Đồng Giám Mục ngoại lệ năm 1985, đă nhắc lại: "Giáo-hội-học về hiệp thông là tư tưởng trung tâm căn bản của các văn kiện Công Đồng. Giáo Hội Hiệp Thông (koinonia - Communion) dựa trên Thánh Kinh, đă được tôn trọng trọng Giáo Hội thời sơ khởi, và trong Giáo Hội Đông phương cho tới ngày nay. Công Đồng Vaticanô II đă nỗ lực làm việc, khảo sát để Giáo Hội được hiểu một cách rơ ràng như là một sự hiệp thông và để khái mệm này được thực thi một cách cụ thể trong đời sống. "Thông Hiệp", tiếng phức tạp này có nghĩa ǵ? Từ nguồn gốc nó có nghĩa là sự hiệp thông với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô trong Chúa Thánh Thần. Sự hiệp thông này chúng ta nhận được nhờ Lời Chúa và các phép Bí Tích. Phép Rửa Tội là cánh cửa và cũng là nền tảng của sự hiệp thông trong Giáo Hội. Phép Thánh Thể là nguồn và đỉnh cao của sự sống người Kitô hữu. Sự hiệp thông với Ḿnh Thánh Chúa Kitô là dấu chỉ và phát sinh, hay nói cách khác, xây dựng sự hiệp thông mật thiết của mọi tín hữu trong Thân Xác của Chúa Kitô là Giáo Hội". (53)

Công Đồng vừa bế mạc, Đức Phaolô VI đă nói với tín hữu: "Giáo Hội là một sự hiệp thông”. Tiếng hiệp thông ở đây có nghĩa ǵ? Ta mời chúng con đọc lại giáo lư nói về việc các Thánh Thông Công - và các Thánh Thông Công mang hai nghĩa: Người Kitô hữu được thông công vào sự sống Đức Kitô và sự lưu thông của chính đức ái này trong toàn thể cộng đồng các tín hữu ở trần gian, và bên kia thế giới. Hợp nhất với Đức Kitô và trong Đức Kitô, hợp nhất các Kitô hữu với nhau trong Giáo Hội. (54)

Các h́nh ảnh Thánh Kinh Công Đồng đă dùng để giúp chúng ta suy niệm mầu nhiệm Giáo Hội, đă đưa ra ánh sáng cho chúng ta thấy thực tại Giáo Hội hiệp thông khăng khít giữa các Kitô hữu với Đức Kitô, và hiệp thông các Kitô hữu với nhau. Đó là h́nh ảnh chuồng chiên, đàn chiên, cây nho, toà nhà thiêng liêng, và h́nh ảnh thành Thánh. (55) Nhưng trên tất cả, h́nh ảnh về nhiệm thể của Thánh Phaolô được Công Đồng lưu ư nhiều hơn cả v́ giáo lư của Người dạy luôn luôn sống động và hấp dẫn .(56) Công Đồng dựa theo lịch sử Cứu Rỗi cũng tŕnh bày Giáo Hội như là Dân Thiên Chúa: "Thiên Chúa đă không muốn cho con người nhận lănh sự thánh hóa và ơn Cứu Độ một cách riêng rẽ, không một giây liên lạc ràng buộc, nhưng Ngài muốn làm cho họ trở thành một dân tộc nhận biết Ngài theo sự thật và phụng sự Ngài trong sự thánh thiện" (57). Ngay từ hàng chữ đầu, Hiến Chế "ánh Sáng Muôn Dân" đă tóm lược tín lư này một cách tuyệt diệu: "Giáo Hội Ở trong Chúa Kitô như là Bí Tích, nghĩa là vừa là dấu chỉ, vừa là phương tiện đưa đến sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và hợp nhất của toàn thể nhân loại." (58)

Thực tại Giáo Hội Hiệp Thông như thế là phần tất yếu hay nói đúng hơn, nó là nội dung trung điểm của "Mầu Nhiệm", nghĩa là của ư định Thiên Chúa trong việc Cứu Rỗi nhân loại. V́ thế sự hiệp thông trong Giáo Hội không chỉ nói về phương diện xă hội hay tâm lư. Giáo Hội Thông Công là dân tộc "mới", là dân tộc "thời đại Đấng Thiên Sai" dân tộc "mà vị thủ lănh là Đức Kitô..." và sự hiệp thông của nó là phẩm giá và sự tự do của con cái Chúa... Luật của dân này là giới răn mới yêu thương như chính Chúa Kitô đă yêu thương chúng ta... Cứu cánh của họ là Nước Thiên Chúa... và dân tộc này đă được Chúa Kitô thiết lập như một Cộng Đồng sống hiệp thông trong đức ái và chân lư" (59). Mối dây liên kết các phần tử của Dân Mới này lại với nhau - và trước tiên với Đức Kitô - không phải là những mối dây "xác thịt" và "máu mủ" mà là dây tinh thần, nói rơ hơn là các mối dây của Thánh Thần mà những ai chịu phép Rửa Tội đă nhận lănh (Jl. 3:l).

Bởi v́ chính Chúa Thánh Thần tự đời đời đă là sợi giây liên kết của Thiên Chúa Ba Ngôi, là một và không phân chia được Thánh Thần này khi thời gian đến" (Gal. 4:4) đă vĩnh viễn kết hợp máu thịt con người với Con Thiên Chúa, là Thánh Thần qua suốt các thế hệ của đạo Chúa Kitô đă trở nên nguồn suối vô tận đem lại sự hiệp thông trong Giáo Hội.

 

Một sự Hiệp Thông có cơ cấu: khác biệt nhưng bổ túc

20. Sự thông hiệp trong Giáo Hội là một sự thông hiệp "có cơ cấu", giống như một thân thể sống động. Nó bao gồm các thành phần khác biệt và bổ túc nhau theo ơn gọi và địa vị, gồm các thừa-tác-vụ, các ơn đoàn-sủng (charismes), và các trách nhiệm khác nhau. Nhờ có sự khác biệt và bổ túc này, mỗi tín hữu giáo dân có liên hệ với toàn thân và đem lại phần đóng góp cho toàn thân.

Thánh Phaolô Tông Đồ đă đặc biệt nhấn mạnh về sự thông hiệp cơ cấu của Nhiệm Thể Đức Kitô. Chúng ta hăy lắng nghe lại một lần nữa giáo huấn súc tích của Người trong bản đúc kết Công Đồng Hiến Chế "ánh Sáng Muôn Dân" quả quyết: "Đức Giêsu Kitô khi thông ban Thánh Thần cho anh em ḿnh mà Ngài đă triệu tập từ các dân các nước lại, đă liên kết họ một cách nhiệm mầu thành Thân Thể Ngài. Trong Thân Thể này, sự sống của Đức Kitô tràn ra nơi các kẻ tin... tất cả các chi thể" tuy nhiều, nhưng lập thành một thân thể, cũng thế các tín hữu họp thành một thân thể trong Chúa Kitô (1 Cor. 12:12). Trong việc xây dựng Thân Thể Chúa Kitô cần có nhiều chi thể với chức vụ khác nhau. Chỉ có một Chúa Thánh Thần ban những ân sủng khác nhau để làm ích cho Giáo Hội theo sự sung măn của Ngài và tuỳ nhu cầu của các công tác (1 Cor.12:1-11). Trong các ân sủng ấy, ơn ban cho các Tông Đồ đứng hàng đầu: "Chính Chúa Thánh Thần đặt dưới quyền các Ngài những người lănh nhận các đoàn sủng (1 Cor.14). Cũng chính Thánh Thần ấy, là nguyên lư hợp nhất trong thân xác nơi đó thần lực của Ngài hoạt động và thể hiện sự liên kết các chi thể, làm phát sinh và khích lệ đức ái giữa các tín hữu. V́ thế, nếu một chi thể nào đau đớn, tất cả các chi thể khác đều bị đau đớn , và một chi thể nào được vinh dự tất cả các chi thể khác cùng chung vui".(60)

Luôn luôn chính cũng một Thánh Thần duy nhất là nguyên lư đầy động lực phát sinh sự khác biệt và sự hiệp nhất trong Giáo Hội. Chúng ta hăy đọc lại Hiến Chế Muôn Dân: "Để chúng ta được liên lỉ canh tân trong Ngài " (Eph.4:23), Đấng đă ban cho chúng ta Thánh Thần của Ngài để hiện hữu nơi đầu cũng như trong thân thể, là sống động, hợp nhất và thúc đẩy toàn thân. Các Thánh Giáo Phụ đă so sánh tác động của Chúa Thánh Thần như công việc của linh hồn là nguyên lư sự sống, hoàn thành trong thân xác,(61) Trong một bản văn khác đặc biệt súc tích và hiếm có để giải thích không những "tính chất cơ cấư" riêng biệt của sự hiệp thông trong Giáo Hội, mà hiệp thông này phải luôn luôn trưởng thành cho đến ngày hiệp thông toàn vẹn, Công Đồng viết: "Chúa Thánh Thần ngự trong Giáo Hội và trong tâm hồn các tín hữu như ngự trong Đền Thánh (1Cor.3:16, 6.19). Trong họ, Ngài cầu nguyện và chứng nhận họ là dưỡng tử của Thiên Chúa (Gal. 4:6, Rom. 8:15-6, 26). Ngài thông đạt cho Giáo Hội toàn bộ chân lư (Jn.16.13). Ngài thống nhất Giáo Hội trong sự hiệp thông và phục vụ. Ngài xây dựng và dẫn dắt Giáo Hội bằng nhiều ân huệ khác nhau theo phẩm trật và ơn đoàn sủng, tô điểm Giáo Hội bằng hoa trái ân sủng của Ngài (Eph. 4:11-12,1 Cor.12:4, Gal.5:22). Nhờ sức mạnh Phúc âm, Ngài làm cho Giáo Hội được phát triển, luôn luôn đổi mới, và hướng dẫn Giáo Hội ngày kết hợp với vị Phu quân của ḿnh. Cả Chúa Thánh Thần và Hiền Thê cũng mời gọi Chúa Giêsu rằng: "Xin hăy đến".(62)

Sự hiệp thông trong Giáo Hội là một ân huệ, một đại ân huệ của Chúa Thánh Thần, các tín hữu đươc mời gọi nhận lănh ơn này với ḷng biết ơn và đồng thời sống ơn này bằng tinh thần trách nhiệm. Việc này thực hiện một cách cụ thể khi họ tham gia vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội, và để phục vụ Giáo Hội các tín hữu giáo dân thi hành các thừa-tác-vụ, và các đoàn sủng của ḿnh.

Người tín hữu giáo dân "không được quyền tự cô lập ḿnh với cộng đoàn, nhưng họ phải luôn sống trong sự chia xẻ với anh em khác trong t́nh huynh đệ sâu đậm, trong niềm vui vẻ b́nh đẳng, và hợp tác với nhau để kho tàng gia tài mênh mông đă được nhận lănh được sinh hoa kết qủa. Thánh Thần Thiên Chúa ban cho họ cũng như ban cho kẻ khác nhiều ơn đoàn sủng, Ngài gọi họ lănh nhận nhiều thừa-tác-vụ và nhiều trọng trách khác nhau. Ngài nhắc lại cho họ cũng như cho kẻ khác biết rằng trong mối tương quan với nhau điều làm cho họ nổi bật, không phải là thăng tiến chức phận, mà chính họ là được trao quyền năng đặc biệt và bổ túc để phục vụ.... V́ thế, các ơn đoàn sủng, các thừa tác vụ, các trọng trách các dịch vụ của người tín hữu giáo dân nếu có là có trong sự hiệp thông. Đó là những kho tàng bổ túc lẫn nhau dùng để tạo lợi ích cho mọi người dưới sự hướng dẫn khôn nguan của các vị Chủ Chăn".(63)

THỪA-TÁC-VỤ VÀ ĐOÀN SỦNG

LÀ ƠN CỦA CHÚA THÁNH THẦN BAN CHO GlÁO HỘl

21. Công Đồng Vaticanô II tŕnh bày các thừa-tác-vụ và các ơn đoàn sủng như là ơn Chúa Thánh Thần ban để xây dựng Thân Thể Chúa Kitô, và để truyền giáo hầu để cứu rỗi thế giới.(64) V́ Giáo Hội được hướng dẫn điều hành do Chúa Thánh Thần là Đấng ban phát mọi sự khác nhau theo phẩm trật và có tính cách đoàn sủng, Ngài ban cho hết mọi người đă chịu phép Rửa Tội, và kêu gọi họ phải hoạt động và đồng chịu trách nhiệm mỗi người theo cách thế của ḿnh.

Giờ đây chúng ta hăy xem xét các thừa-tác-vụ và các ơn đoàn sủng đối với các tín hữu giáo dân, và việc tham gia của họ vào đời sống Giáo Hội Hiệp Thông.

Thừa-tác-vụ, Nhiệm-vụ và Chức-vụ

Các thừa tác vụ hiện tại đang tác động trong Giáo Hội, mặc dầu có khác biệt nhau trong cách thế, nhưng tất cả là đều tham gia vào thừa tác vụ của Chúa Giêsu Kitô là vị Chủ Chăn đă liều mạng sống v́ đàn chiên (Jn. 10.11), là người đầy tớ hèn mọn và hoàn toàn hy sinh để cứu rỗi mọi người (Mk. 10:45). Thánh Phaolô nói rất rơ ràng về sự thiết lập các thừa-tác-vụ trong Giáo Hội đời các Thánh Tông Đồ. Trong thư thứ nhất gửi các tín hữu thành Côrintô, Ngài viết: "Thiên Chúa đặt để trong Giáo Hội, trước tiên có các Tông Đồ, thứ đến các vị rao giảng, rồi đến những kẻ nhận trách nhiệm dạy dỗ... " (Cor. 12.28). Trong thư gởi cho giáo hữu thành Ephêsô Ngài viết: "Mỗi người trong chúng ta đă lănh nhận ơn nghĩa thánh như Chúa Kitô đă phân chia... và các ơn Ngài ban cho con người, trước tiên là các Tông Đồ, đến các vị rao giảng, các nhà Thừa Sai Phúc âm, các chủ chăn và những người lo việc dạy dỗ. Như thế, dân thánh Chúa được tổ chức để các thừa-tác-vụ được hoàn thành và để Thân Thể của Đức Kitô được xây dựng. Cuối cùng, tất cả chúng ta cùng nhau hiệp nhất trong Đức Tin và trong sự hiểu biết chân chính Con Thiên Chúa, để tiến tới t́nh trạng trưởng thành, và sung măn trọn vẹn của tầm vóc con người Đức Kitô" (Eph.4:7-11-13, Rom.12:4-8). Các bản văn này cũng như các văn bản khác của Tân ước cho chúng ta thấy là các thừa-tác-vụ, cũng như các ơn huệ và các công tác trong Hội Thánh, có rất nhiều và khác nhau.

 

Các thừa-tác-vụ phát sinh từ Phép Truyền Chức Thánh

22. Trong Giáo Hội , chúng ta thấy trước tiên các thừa-tác-vụ được truyền phong nghĩa là phát nguồn từ Phép Truyền Chức Thánh. Chúa Giêsu đă chọn và đặt các Tông Đồ "như là hạt giống nảy sinh dân Israel mới và đồng thời cũng là nguồn gốc của phẩm trật trong Giáo Hội" (65) , và truyền cho họ phải huấn luyện và đào tạo những môn đệ trong khắp các dân tộc (Mt. 28:19), và điều khiển hàng tư tế. Sứ vụ của các Tông Đồ mà Chúa Giêsu tiếp tục giao phó cho các vị Chủ chăn dân Ngài, là một chức vụ mà Thánh Kinh gọi là "diakonia" nghĩa là phục vụ hay mục vụ. Các vị này nhận lănh nơi Đức Kitô Phục sinh, ơn đoàn sủng của Chúa Thánh Thần được truyền thụ không ngừng từ đời các Tông Đồ, nhờ bí tích Truyền Chức Thánh: Từ Đức Kitô họ nhận lănh trách nhiệm và quyền năng linh thiêng để phục vụ Giáo Hội, họ hành động nhân danh Chúa Kitô là Đầu (66) và để hợp nhất Giáo Hội lại trong Chúa Thánh Thần nhờ Phúc âm và phép Bí Tích.

Các thừa-tác-vụ được truyền phong là một ân sủng được ban cho toàn thể Giáo Hội, chứ không chỉ là ân sủng riêng cho cá nhân người lănh nhận. Các thừa-tác-vụ này là sư thực thi và biểu lộ việc được tham dự vào chức linh mục của Chúa Kitô; sự tham dự này khác biệt ngay trong bản tính, chứ không chỉ trong mức độ tham dự đă được ban cho mọi tín hữu nhờ phép Rửa Tội và phép Thêm Sức. Đàng khác, chức linh mục thừa-tác-vụ, như Công Đồng Vaticanô II đă gọi hướng về chức tư-tế-vương-giả cộng đồng của mọi tín hữu, và cùng đích cốt yếu của nó nằm ở trong chức tư tế này.(67)

V́ thế, để bảo đảm và làm tăng trưởng sự hiệp thông trong Giáo Hội, đặc biệt về những ǵ có liên quan đến các thừa-tác-vụ khác nhau và bổ túc cho nhau, các vị chủ chăn phải xác tín chắc chắn rằng chức linh mục của ḿnh là để phục vụ toàn dân Thiên Chúa (Heb. 5.1). Các tín hữu giáo dân cũng phải nh́n nhận rằng chức linh mục thừa-tác-vụ tuyệt đối cần thiết cho cuộc sống của chính ḿnh trong Giáo Hội, và cho ḿnh được tham dự vào sứ mệnh của Giáo Hội.(68)

 

Thừa tác vụ, nhiệm vụ và chức vụ của giáo dân

23. Sứ mệnh cứu rỗi của Giáo Hội giữa thế giới được thực hiện không chỉ nhờ các vị thừa hành đă nhận lănh bí tích Truyền chức Thánh, nhưng cũng nhờ các tín hữu giáo dân; v́ họ đă được chịu phép Rửa Tội và được kêu gọi đặc biệt, để tham dự theo mức độ của mỗi người vào chức vụ tư tế, rao giảng và vương giả của Đức Kitô.

Bởi thế, các vị chủ chăn phải thừa nhận và cổ vơ các thừa-tác-vụ, nhiệm vụ và chức vụ của các tín hữu giáo dân, những nhiệm vụ và tác vụ này có nền tảng bí tích trong phép Rửa Tội, phép Thêm Sức và hơn nữa trong phép Hôn Phối đối với nhiều người trong giáo dân.

Hơn nữa, khi cần thiết hoặc v́ lợi ích của Giáo Hội đ̣i buộc, các chủ chăn có thể theo quy chế dự định trong bộ luật chung, giao phó cho tín hữu giáo dân một số nhiệm vụ hay chức vụ. Những nhiệm vụ hay chức vụ này vẫn (tuỳ thuộc) với thừa-tác-vụ chủ chăn của các Ngài, nhưng không cần chức Thánh mới thi hành đuược. Giáo Luật xác định: "Nơi nào nhu cầu Giáo Hội đ̣i hỏi và thiếu thừa-tác-viên, th́ các giáo dân dù không có chức tác-vụ đọc sách và giúp lễ, cũng có thể thay thế họ làm một số việc như đọc Lời Chúa, chủ tọa các buổi cầu nguyện, rửa tội và cho rước lễ theo các quy tắc luật định".(69)

Tuy nhiên, việc thi hành chức vụ này không làm cho người tín hữu giáo dân trở thành vị chủ chăn: Thật ra, điều tạo nên một thừa-tác-vụ, không phải là chính tác động mà là bí tích Truyền Chức. Chỉ có phép Truyền Chức Thánh mới ban cho vị thừa-tác-viên nhận chức sự tham gia vào chức tư tế của Đức Kitô.(70) Chức vụ thi hành với tư cách là kẻ thay thế được xem là hợp pháp, là v́ các chủ chăn đă lănh nhận một cách công khai sự đại diện chính thức. Vậy khi thi hành chức vụ này, người thay thế phải lệ thuộc vào quyền lănh đạo của Giáo-quyền.(71)

Thượng Hội Đồng Giám Mục vừa qua đă tŕnh bày cho thấy một cái nh́n bao quát t́nh trạng Giáo Hội về các thừa-tác-vụ, nhiệm-vụ và chức-vụ của những người đă chịu phép Rửa Tội. Các Nghị Phụ đă hết ḷng thán phục những sự cộng tác tông đồ của các tín hữu giáo dân nam nữ để làm cho Giáo Hội được sống và tăng trưởng bằng các ơn đoàn sủng, bằng các hoạt động nâng đỡ việc truyền giáo, việc thánh hóa và sống đạo. Đồng thời các vị Nghị Phụ cũng rất quư mến sự tận tâm sẵn có của họ để phục vụ các cộng đồng trong Giáo Hội, và việc chuẩn bị sẵn sàng của họ để thay thế các vị chủ chăn trong những trường hợp khẩn cấp hoặc trong các nhu cầu nhất thời.(72)

Sau khi Công Đồng cổ vơ việc canh tân Phụng vụ, các tín hữu giáo dân cũng ư thức rơ ràng về nhiệm vụ của họ trong khi chuẩn bị tham dự các nghi thức Phụng vụ; v́ thế họ đă tỏ ra rất quan tâm: V́ việc cử hành Phụng vụ là một việc Thánh của cộng đồng dân Chúa chứ không riêng ǵ của hàng giáo sĩ. Lẽ dĩ nhiên việc nào không phải dành riêng cho các vị có chức Thánh th́ phải do các tín hữu giáo dân đảm trách.(73) Một khi chấp nhận việc tham gia thật sự của người tín hữu giáo dân trong việc phụng sự, tự nhiên cũng để chấp nhận họ tham gia vào việc rao truyền Lời Chúa và trách nhiệm mục vụ.(74)

Trong buổi Đại Hội Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới, ngoài những phán đoán tích cực ủng hộ, cũng không thiếu những lời chỉ trích bài bác việc dùng từ ngữ "thừa-tác vụ, việc lẫn lộn chức linh mục cộng đồng với chức linh mục thừa hành, việc bỏ sót không áp dụng luật lệ và định chế của Giáo Hội, việc giải thích tự tiện khái niệm về việc thay thế, chỉ trích xu hướng giáo-sĩ-hóa, các tín hữu giáo dân có nguy tạo nên một cơ cấu phục vụ trong Giáo Hội song song với cơ cấu đă được xây dựng trên nền tảng của phép Truyền Chức Thánh.

Để ngăn ngừa các hiểm họa ấy, các Nghị Phụ lưu tâm đến việc cần thiết phải giải thích rơ ràng bằng cách quy định một từ ngữ chính xác, diễn tả hai điểm quan trọng này (75), sự duy nhất sứ mệnh của Giáo Hội là sứ mệnh tất cả những người đă chịu phép Rửa Tội phải tham gia, và sự khác biệt bản chất mà thừa-tác-vụ của các vị chủ chăn được xây dựng trên nền tảng của phép Truyền Chức Thánh, với các thừa-tác-vụ, nhiệm vụ và chức vụ khác được xây dựng trên nền tảng của phép Rửa Tội và phép Thêm Sức.

V́ thế, trước khi thừa nhận hay trao ban cho các tín hữu giáo dân các thừa-tác-vụ, nhiệm vụ hay chức vụ, các chủ chăn phải thận trọng cho họ hiểu là các nhiệm vụ này phát sinh từ phép Rửa Tội . Thứ đến các vị chủ chăn không nên dễ dăi viện cớ trường hợp khẩn trương hoặc thay thế khẩn cấp, khi thật sự không có hoặc lúc có thể sắp đặt một chương tŕnh mục vụ hữu hiệu hơn.

Các nhiệm-vụ và chức-vụ người tín hữu giáo dân có thể thực thi hợp pháp trong Phụng vụ, trong việc truyền bá Đức Tin và trong các cơ cấu mục vụ của Giáo Hội, phải được thực thi phù hợp với ơn gọi đặc biệt của họ, một ơn gọi khác biệt với các thừa-tác-vụ Thánh. Chính bức Tông Huấn "Truyền bá Phúc âm" của Đức Phaolô VI đă đề cập đến vấn đề này. Bức Tông Huấn đă đem lại những kết qủa rất lớn lao và tốt đẹp v́ đă cảnh tỉnh được người tín hữu giáo dân để họ tham gia bằng nhiều cách vào đời sống, và vào sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội. Bức Tông Huấn đă nhắc nhở rơ ràng rằng: "Môi trường riêng biệt của các hoạt động tông đồ của người giáo dân là thế giới mênh mông phức tạp của đời sống chính trị, của các thực tại xă hội và kinh tế, của đời sống văn hóa, khoa học và nghệ thuật, của đời sống quốc tế, của các phương tiện truyền thông xă hội. Nó cũng bao gồm các thực tại khác đặc biệt mở rộng cho việc rao truyền Phúc âm như t́nh yêu, gia đ́nh, giáo dục trẻ em và thanh thiếu niên, lao động chức nghiệp và đau khổ. Càng có nhiều giáo dân thấm nhuần tinh thần Phúc âm, ư thức trách nhiệm đối với các thực tại ấy và dấn thân một cách tích cực, đủ khả năng trong việc khai triển các thực tại ấy, và đồng thời ư thức được bổn phận buộc ḿnh phải phát huy tiềm năng Công Giáo của ḿnh đă từ lâu bị chôn vùi và bóp nghẹt, chúng ta càng thấy tầm mức siêu việt và hiệu năng trần thế của nó, để được xử dụng trong công cuộc xây dựng nước Thiên Chúa nghĩa là nước Cứu Rỗi trong Đức Giêsu Kitô".(76)

Trong Thượng Hội Đồng, các Nghị Phụ cũng đă khảo sát về chức Đọc Sách và chức Cầm Nến. Ngày xưa, trong Giáo Hội Latinh, hai chức này chỉ là hai giai đoạn thiêng liêng dọn đường đưa đến các Chức Thánh; nhưng Đức Phaolô VI trong Tự Sắc Ministeria quaedam - (15-8-1972) đă quyết định có thể truyền riêng hai chức này cho các nam tín hữu giáo dân.(77) Các Nghị Phụ đă đề nghị phải nghiên cứu lại Tự Sắc Ministeria quaedam đối chiếu với việc thi hành của các Giáo Hội địa phương, và nhất là định rơ các tiêu chuẩn để chọn các ứng cử viên vào các chức vụ ấy."(78)

Để thực hiện điều này, một ủy ban đặc biệt đă được thành lập. Ủy ban này không những có mục đích đáp lại ước nguyện các Nghị Phụ, mà nhất là để nghiên cứu một cách sâu rộng các vấn đề thần học, phụng vụ, pháp lư và mục vụ được nêu ra v́ hiện nay quá nhiều thừa-tác-vụ được trao phó cho giáo dân.

Trong thời gian chờ đợi công việc nghiên cứu của ủy ban kết thúc để việc thi hành các thừa-tác-vụ trong Giáo Hội trao cho tín hữu giáo dân cho có trật tự và hữu ích, các Giáo Hội địa phương phải tôn trọng những nguyên tắc thần học đă dẫn giải ở trên, nhất là sự khác biệt căn bản giữa chức linh mục thừa hành và chức linh mục cộng đồng, và do đó, sự khác biệt giữa các thừa-tác-vụ phát sinh từ phép Truyền Chức Thánh và các thừa-tác-vụ phát sinh từ phép Rửa Tội và phép Thêm Sức.

 

Đoàn Sủng                                    

**24. Chúa Thánh Thần trong lúc giao phó cho Giáo Hội Hiệp Thông các thừa-tác-vụ, th́ đồng thời cũng làm cho Giáo Hội được sung túc với nhiều ân huệ và ân sủng đặc biệt khác gọi là đoàn sủng. Các ơn này có nhiều h́nh thức khác nhau v́ Chúa Thánh Thần Đấng ban phát những ơn này là Đấng Tự Do tuyệt đối, và v́ lịch sử Giáo Hội có nhiều nhu cầu khác nhau. Tân ước đă mô tả và xếp hạng các ơn này, như chúng ta thấy có rất nhiều loại khác nhau: "V́ Thánh Linh hiển hiện trong mỗi người hầu mang lại ích lợi. Như người này nhờ Thánh Linh được ơn lợi khẩu, người khác cũng nhờ Thánh Linh được thông thái, bởi một Thánh Linh đó người này được tín ngưỡng và cũng do Thánh Linh ấy người kia được ơn trị bệnh; lại người được làm phép lạ, kẻ nói tiên tri, người phân biệt các tâm kồn, kẻ nói được nhiều ngoại ngữ, người khác có thể thông dịch các thứ tiếng" (Cor. 12: 7-10...)

**Các đoàn sủng cao siêu hay giản dị, tất cả đều là ân sủng Chúa Thánh Thần, trực tiếp hay gián tiếp các ơn này đều đem lại lợi ích cho sự sống Giáo Hội, v́ Chúa đă sắp xếp cho các ơn này được xử dụng để xây dựng Giáo Hội, để bổ ích cho con người và để đáp ứng lại các nhu cầu của thế giới.

Chính trong thời đại chúng ta, chúng ta cũng thấy đó đây nẩy nở những đoàn sủng nơi người tín hữu giáo dân cả nam lẫn nữ. Các ơn này được ban cho một người nhất định, nhưng các người khác cũng được thông phán và rồi được bảo tồn qua thời gian như một gia sản sống động, quư giá để tạo nên một liên hệ thiêng liêng đặc biệt giữa nhiều người. Khi nói đến việc tông đồ giáo dân, Công Đồng Vaticanô II đă viết: "Để thể hiện việc tông đồ này, Chúa Thánh Thần thánh hóa dân Chúa bằng bí tích và tác vụ. Ngài cũng ban cho tín hữu ơn đặc biệt (1 Cor. 12: 7) để "mỗi người tùy theo ơn đă nhận mà giúp đỡ nhau và chính họ trở nên như những người quản lư trung tín các ơn Thiên Chúa" (1 Pt. 4:10) hầu xây dựng Toàn Thân trong Đức ái." (79)

Các ơn Chúa Thánh Thần được phát sinh để tạo thêm sinh lực dồi dào, v́ thế nó đ̣i hỏi những ai lănh nhận phải thi hành để cho Giáo Hội được lớn lên và phát triển như Công Đồng đă dậy.(80)

Không phải chỉ những ai lănh nhận các đoàn sủng, mà tất cả các chi thể của Giáo Hội đều phải tỏ ḷng biết ơn. V́ các ơn ấy là một kho tàng kỳ diệu ơn sủng Chúa ban cho Toàn Thân Chúa Kitô để được thánh hóa và hoạt động tông đồ, với điều kiện là nó thật bởi Chúa Thánh Thần mà đến và được thực thi hoàn toàn do Chúa Thánh Thần thúc đẩy. V́ thế, chúng ta phải luôn thận trọng phân biệt các đoàn sủng. Thực ra, như các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đă tuyên bố. "Hoạt động của Chúa Thánh Thần, là Đấng thổi hơi nơi nào Ngài muốn, thực không phải dễ dàng phân biệt và nhận lănh. Chúng ta biết Thiên Chúa tác động trong tất cả các tín hữu và chúng ta cũng ư thức được các ơn lành do các đoàn sủng, ban cho mỗi người hoặc cho cả cộng đồng Kitô hữu. Nhưng chúng ta cũng cần ư thức đến sức mạnh của tội lỗi và những cố gắng của nó nhằm gieo rắc rối loạn trong đời sống của các tín hữu và của các cộng đồng".(81)

V́ thế mọi đoàn sủng phải liên hệ và tuỳ thuộc vào các chủ chăn của Giáo Hội. Công Đồng đă công bố rơ ràng: "Những vị hữu trách của Giáo Hội có thẩm quyền phán quyết về tính cách chân thực và việc xử dụng hợp lư các ơn ấy; các Ngài có nhiệm vụ thử thách, không phải để dập tắt ơn Chúa Thánh Thần, nhưng để trắc nghiệm và giữ lại những ǵ là chính đáng" (82) để tất cả những đoàn sủng, mặc dầu khác biệt nhưng bổ túc cho nhau, đều quy về lợi ích chung.(83)

 

NGƯỜl TÍN HỨU GlÁO DÂN THAM GlA VÀO ĐỜl SỐNG GlÁO HỘl

25. Người tín hữu giáo dân tham gia vào sự sống của Giáo Hội không chỉ bằng cách thực thi các thừa-tác-vụ hay các đoàn sủng của ḿnh mà c̣n bằng nhiều cách khác nữa.

Hành động này phải được thực hiện trước tiên và cần thiết trong đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội địa phương là các Giáo phận, là nơi có "sự hiện diện và tác động của Giáo Hội Chúa Kitô duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền." (84)

Giáo Hội địa phương và Giáo Hội hoàn vũ

Để tham dự một cách chính đáng vào đời sống Giáo Hội, các tín hữu giáo dân cần có một cái nh́n sáng suốt và chính xác về Giáo Hội địa phương đối với Giáo Hội hoàn vũ. Giáo Hội địa phương không phải là một mảnh của Giáo Hội hoàn vũ, và Giáo Hội hoàn vũ không phải chỉ là tổng số các Giáo Hội địa phương hợp lại. Nhưng các Giáo Hội địa phương kết hợp với nhau bằng một giây linh động, căn bản và trường tồn, v́ Giáo Hội hoàn vũ hiện hữu và biểu lộ trong các Giáo Hội địa phương. V́ thế, Công Đồng qủa quyết là các Giáo Hội địa phương "được h́nh thành theo h́nh ảnh của Giáo Hội hoàn vũ; chính trong các Giáo Hội địa phương và từ các Giáo Hội này mà một Giáo Hội Công Giáo duy nhất hiện hữu." (85)

**Công Đồng c̣n khích lệ các tín hữu giáo dân sống linh động trong Giáo Hội địa phương, đồng thời ngày càng hướng đến Giáo Hội hoàn vũ công giáo. Sắc lệnh Tông Đồ giáo dân tuyên bố. "Giáo dân phải luôn luôn phát triển ư thức về giáo phận và giáo xứ, v́ giáo xứ là một tế bào của giáo phận. Họ phải luôn mau mắn đáp lại tiếng gọi của chủ chăn và tuỳ sức tham gia vào những sáng kiến chung của giáo phận. Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu nơi thành thị cũng như ở thôn quê, họ không chỉ giới hạn sự cộng tác của ḿnh trong phạm vi giáo xứ hay giáo phận, nhưng cố gắng mở rộng phạm vi tới các lănh vực liên xứ, liên giáo phận, quốc gia và quốc tế. Hơn nữa, việc di dân mỗi ngày một gia tăng, những mối tương giao lại càng mở rộng và việc giao thông thêm dễ dàng, đă không để một thành phần xă hội nào sống đóng kín cho riêng ḿnh. V́ thế người giáo dân phải quan tâm đến những nhu cầu của Dân Chúa rải rác khắp trên thế giới." (86)

Thượng Hội Đồng Giám Mục 1987 theo các ư kiến trên đă yêu cầu nên lập các Hội Đồng Mục Vụ Giáo Phận để phục vụ khi cần. Thực ra, đây là một h́nh thức chính để hợp tác và đối thoại và đồng thời để kiểm thảo trên b́nh diện giáo phận. Sự tham gia của các tín hữu vào các Hội Đồng này mở rộng môi trường thăm ḍ ư kiến và như thế nguyên tắc hợp tác, trong một vài trường hợp cần hợp tác để quyết định, sẽ được áp dụng một cách rộng răi và chắc chắn hơn. (87)

Việc tham gia của người tín hứu giáo dân vào các đại hội đồng giáo phận hay vào các hội đồng địa phương như hội đồng tỉnh đă được Giáo Luật dự định (88). Việc này làm cho sự thông hiệp được gia tăng và giúp cho sứ mệnh thuộc Giáo Hội của các Giáo Hội địa phương vừa trong ranh giới giáo phận cũng như đối với các giáo hội địa phương khác của giáo tỉnh hay của Hội Đồng Giám Mục.

Các Hội Đồng Giám Mục cũng được mời gọi nghiên cứu phương thế thực tiễn nhất để phát triển, trên b́nh diện quốc gia hoặc b́nh diện vùng, việc thăm ḍ ư kiến và việc hợp tác của các tín hữu giáo dân nam, nữ để mọi người ư thức được các vấn đề chung và để biểu lộ sự hiệp thông Giáo Hội của mọi hạng người.(89)

 

Giáo Xứ

26. Việc hiệp thông của Giáo Hội mặc dầu có tầm vóc bao quát hoàn vũ, nhưng nó được diễn tả một cách rơ ràng và gần gũi nhất ở trong Giáo xứ. Giáo xứ là đơn vị địa phương của Giáo Hội. Nói một cách khác chính là Giáo Hội sống giữa con cái nam nữ của ḿnh. (90)

Tất cả chúng ta phải dùng Đức Tin để khám phá bộ mặt thật của Giáo xứ, nghĩa là "mầu nhiệm" của Giáo Hội hiện diện và tác động trong Giáo xứ. Mặc dầu đôi lúc Giáo xứ không có nhiều người cũng không đầy đủ phương tiện, có khi Giáo xứ lại tản mác trên những địa hạt rộng lớn, hay lẩn khuất giữa những khu phố tân thời đông đúc và lộn xộn. Nhưng Giáo xứ không phải là một cơ cấu, một địa hạt, hay một ngôi nhà, nó là "một gia đ́nh của Chúa, một cộng đoàn huynh đệ chỉ có một linh hồn" (91) là "mái gia đ́nh, đầy t́nh huynh đệ và mở rộng đón tiếp mọi người" (92) là "cộng đồng các tín hữu.(93) Tóm lại, Giáo xứ được đặt nền tảng trên một thực tại thần học, v́ đó là một cộng đồng thánh thể.(94) Nghĩa là một cộng đồng có tư cách cử hành Bí Tích Thánh Thể, nguồn gốc cấu tạo nên cộng đồng và đem lại cho cộng đồng sức sống và giây liên kết bí tích thông hiệp với toàn thể Giáo Hội. Nói rằng cộng đồng có tư cách cử hành Bí Tích Thánh Thể là v́ Giáo xứ là một cộng đồng đức tin và là một cộng đồng có cơ cấu, nghĩa là được tạo nên bởi các vị thừa hành có chức Thánh và các Kitô hữu khác dưới quyền trách nhiệm của một Cha sở vừa đại diện cho Giám Mục Giáo phận (95) vừa là mối giây của hàng giáo phẩm liên kết Giáo xứ với toàn Giáo Hội địa phương.

Công việc của Giáo Hội trong thời đại chúng ta thật mênh mông, một Giáo xứ tự ḿnh không thể cáng đáng nổi. V́ thế, Giáo Luật đă dự liệu những h́nh thức hợp tác giữa các Giáo xứ trong hạt (96) và yêu cầu Giám Mục giáo phận phải lưu tâm đến tất cả mọi thành phần tín hữu, ngay cả những người không ở dưới quyền cai quản mục vụ của các Ngài.(97) Cần phải tạo nên những nơi gặp gỡ, điều kiện để Giáo Hội có thể hiện diện và hoạt động hầu đem lại ân sủng và lời Phúc âm vào trong những môi trường sống phức tạp của con người hôm nay. Một cách tương tự có nhiều cách thế chiếu rọi ảnh hưởng thiêng liêng hoặc làm tông đồ trong phạm vi văn hóa, xă hội, giáo dục, chức nghiệp v.v...không thể lấy Giáo xứ làm trung tâm hoặc khởi điểm. Nhưng Giáo xứ hôm nay đang sống một giai đoạn mới đầy hứa hẹn. Đức Phaolô VI, khi mới lên ngôi Giáo Hoàng đă tuyên bố với hàng giáo sĩ Rôma: "Ta tin tưởng là cơ cấu cổ kính của giáo xứ có một sứ mệnh khẩn thiết rất hợp thời; chính Giáo xứ là cộng đồng tiên khởi của Dân Chúa, chính giáo xứ phải khai trương đời sống phụng vụ và tập hợp Dân Chúa trong việc cử hành phụng vụ; giáo xứ có bổn phận phải bảo tồn và nung nấu đức tin của đoàn lũ dân chúng hôm nay; giáo xứ c̣n là trường dạy dỗ giáo lư Cứu Rỗi của Đức Kitô; nơi tích cực thực thi các công tác bác ái huynh đệ".(98)

Các Nghị Phụ đă để tâm nghiên cứu thực trạng hiện tại của nhiều giáo xứ và đă yêu cầu các giáo xứ này phải canh tân rộng răi: "Nhiều giáo xứ ở thành thị cũng như tại các xứ truyền giáo, đă không thể sinh hoạt một cách kết qủa v́ thiếu phương tiện vật chất hay thiếu các vị thừa hành có chức Thánh, hoặc v́ điều kiện sinh sống của một số giáo dân (chẳng hạn các người phải lưu đày hay di dân). Để cho các giáo xứ này trở thành những cộng đồng thật sự giáo quyền địa phương cần:

a) Giúp đỡ để thích nghi cơ cấu giáo xứ một cách uyển chuyển như Giáo Luật cho phép, nhất là để cho các giáo dân tham gia vào trọng trách mục vụ.

b) Giúp đỡ các cộng đồng cơ bản cũng gọi là cộng đồng sống, trong đó người tín hữu có thể truyền thông cho nhau Lời Chúa cũng như yêu thương, giúp đỡ nhau. Các cộng đồng này diễn tả trung thực sự hiệp thông trong Giáo Hội và những trung tâm truyền bá Phúc âm trong sự hiệp thông với các vị chủ chăn." (99) Để canh tân các giáo xứ và để các giáo xứ sinh hoạt có kết qủa, phải tạo nên những h́nh thức hợp tác, ngay cả trong phạm vi thể chế giữa các giáo xứ trong một địa hạt.

 

Hoạt động tông đồ trong Giáo xứ

27. Giờ đầy chúng ta hăy nh́n rơ sự hiệp thông và sự tham dự của các tín hữu giáo dân vào sinh hoạt của giáo xứ. Ở đây cũng nên lưu ư các tín hữu giáo dân nam cũng như nữ, một lời nói rất xác thực đầy ư nghĩa và đầy khích lệ của Công Đồng: "Trong các cộng đồng trong Giáo Hội, hoạt động của họ cần thiết đến nỗi không có th́ việc tông đồ của các vị chủ chăn lắm lúc không đạt được kết qủa mỹ măn.” (100)

Đây là lời xác nhận căn bản phải được hiểu theo ư nghĩa của "khoa giáo-hội-học hiệp thông". Các thừa-tác-vụ cũng như các đoàn sủng, dù khác biệt nhưng bổ túc cho nhau, nên tất cả đều cần thiết cho sự trưởng thành của Giáo Hội .

Các tín hữu giáo dân mỗi ngày phải xác tín hơn ư nghĩa dấn thân tông đồ của ḿnh trong giáo xứ. Chính Công Đồng đă có ư nhấn mạnh điều này: "Giáo xứ là một h́nh thức tông đồ cộng đồng kiểu mẫu, v́ đó là nơi quy tụ đủ mọi hạng người thành một cộng đoàn và đưa họ vào tinh thần đại đồng của Giáo Hội. Giáo dân nên tập thói quen cộng tác chặt chẽ với các linh mục của ḿnh để hoạt động trong giáo xứ. Họ cũng nên có thói quen tŕnh bày với cộng đoàn giáo hội những vấn đề riêng của ḿnh hay của cả thế giới hoặc những vấn đề liên quan tới phần rỗi mọi người, để cùng nhau góp ư kiến nghiên cứu và giải quyết. Họ cũng phải tuỳ sức mà cố gắng đóng góp vào mọi công cuộc tông đồ và truyền giáo của gia đ́nh giáo hội địa phương ḿnh." (101)

Công Đồng nói đến việc "cùng nhau góp ư kiến" để cứu xét và giải quyết các vấn đề mục vụ, được các Nghị Phụ nghiên cứu và giải thích rộng răi theo một cơ cấu tương xứng gọi là Hội Đồng Muc Vụ Giáo Xứ. (102)

Trong hiện t́nh, các tín hữu giáo dân có thể và phải nỗ lực làm sao cho việc hiệp thông giáo hội được nẩy nở trong ḷng giáo xứ có một nghị lực truyền giáo cho những người chưa tin, và cho những ai đă tin mà lại bê tha trong đời sống đạo của ḿnh. Nếu giáo xứ là Giáo Hội ở trong một phạm vi địa dư, th́ Giáo Hội sống và sinh hoạt trong ḷng xă hội loài người và liên đới thâm sâu với các ước vọng và thảm kịch của nó. Nhiều khi trong nhiều môi trường sống, t́nh cảm xă hội bị giao động bởi vũ lực và làm cho con người mất hết phẩm giá. Con người bị lạc lơng mất hết phương hướng, nhưng trong tâm hồn họ vẫn nuôi ước vọng được cảm nghiệm và tái bồi một tương giao đầy t́nh huynh đệ, và đầy t́nh người. Ước vọng này, giáo xứ có thể làm thỏa măn cho họ, nếu các tín hữu giáo dân hăng hái tham gia để họ đạo trung thành ơn gọi và sứ mệnh nguyên thủy của ḿnh, đó là trở thành "nơi " hiệp thông của những kẻ có ḷng tin và đồng thời trở nên "dấu chỉ" và là "phương thế" của ơn gọi mọi người sống hiệp thông. Tóm lại, giáo xứ là căn nhà mở rộng đón tiếp mọi người và phục vụ mọi người, hay như Đức Gioan XXIII thường nói là "giếng nước của thôn xóm" để mọi người đến giải khát.

 

H̀NH THỨC THAM DỰ CỦA NGƯỜl TÍN HỮU GlÁO DÂN

 VÀO ĐỜl SỐNG GlÁO HỘl.

28. Các tín hữu giáo dân hợp với các linh mục, với tu sĩ nam nữ, làm thành Dân Thiên Chúa duy nhất, một Thân Thể của Đức Kitô.

Là "phần thân thể" của Giáo Hội, nhưng mỗi Kitô hữu vẫn là "một hữu thể cá biệt không thay thế được". Ngược lại, điều này cho chúng ta thấy ư nghĩa sâu xa của tính chất duy nhất của mỗi người, v́ chính nó là nguồn mạch của sự phong phú muôn mặt của toàn thể Giáo Hội. V́ thế mà Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô đă gọi mỗi người trong chúng ta bằng tên riêng của họ, không lẫn lộn người này với người kia. Lời mời gọi của Chúa: "Các con cũng hăy vào làm việc trong vườn nho của Ta", lời mời gọi này dành riêng cho từng người một có nghĩa là: “con, chính con, con hăy vào làm việc trong vườn nho của Thày."

Như thế, mỗi người trong chúng ta, mặc dù vẫn giữ đặc tính duy nhất của ḿnh, vẫn được trọng dụng để làm cho sự hiệp thông Giáo Hội tăng trưởng bằng sinh hoạt và sự hiện diện thực tế của ḿnh, cũng như mỗi người chúng ta nhận lănh và đồng hóa theo cách thế của ḿnh, cho sự phong phú của toàn thể Giáo Hội. Đó chính là ư nghĩa "Các Thánh Thông Công" mà chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính. Ích lợi của mọi người là ích lợi của mỗi người, và ích lợi của mỗi người là ích lợi của mọi người. Thánh Grêgôriô Cả nói: "Trong Giáo Hội, mỗi người lo nâng đỡ từng người.(103)

H̀NH THỨC THAM GlA CÁ NHÂN CỦA MỖl NGƯỜl

Điều tuyệt đối cần thiết là mỗi tín hữu giáo dân phải ư thức sâu xa ḿnh là "phần thân thể của giáo hội" và nhiệm vụ đặc biệt được giao phó cho ḿnh, một nhiệm vụ không thể thay thế được cũng không thể nhờ ai làm thay, một nhiệm vụ chính ḿnh phải chu toàn v́ lợi ích chung của mọi người. Theo cái nh́n này chúng ta mới hiểu được hết ư nghĩa của Công Đồng khi quả quyết rằng mỗi người bắt buộc phải làm việc tông đồ:

"việc tông đồ mà mỗi người phải thực hiện bắt nguồn từ mạch sống phong phú đích thực Kitô giáo" (Jn.4:14).

Là căn bản và điều kiện của mọi hoạt động tông đồ giáo dân, kể cả việc tông đồ giáo dân tập thể và không có ǵ có thể thay thế việc đó được! Việc tông đồ cá nhân này rất hiệu quả ở bất cứ nơi nào và thời đại nào. Hơn nữa, trong một số hoàn cảnh, chỉ có hoạt động tông đồ này mới thích hơp và mới có thể thực hiện được. Mỗi người giáo dân, dù thuộc thành phần nào đi nữa, dù không có cơ hội hay khả năng để cộng tác trong các hội đoàn, đều được kêu gọi, và hơn nữa phải làm việc cá nhân. (104)

Việc tông đồ cá nhân chứa đựng nhiều kho tàng phong phú cần được khai thác, để người giáo dân thấy mà thêm ḷng hăng say trong việc truyền giáo. Nhờ h́nh thức làm tông đồ này mà ánh sáng Phúc âm được tỏa sáng trên các khu vực và môi trường sống, trong đó cuộc sống hằng ngày của giáo dân phải tiếp xúc. Đây là một sự chiếu giăi ánh sáng Phúc âm trường kỳ liên lỉ, v́ cuộc sống cá nhân phải tương đồng với Đức Tin. Đây cũng là một sự chiếu giăi Phúc âm quyết liệt thâm sâu. Bởi v́ người tín hữu giáo dân cũng chung một điều kiện sinh sống, cùng chung một việc làm, cùng chia sẻ những khó khăn, những niềm hy vọng của anh em ḿnh, họ có thể cảm kích tâm hồn người bên cạnh, các bạn hữu, các đồng nghiệp, và mở rộng cho họ thấy một chân trời toàn diện, ư nghĩa trọn hảo của cuộc sống. Đó là sự hiệp thông với Thiên Chúa và với mọi người.

 

H́nh thức tham gia tập thể

29. Sự hiệp thông Giáo Hội đă sẵn có và đang linh động trong sinh hoạt của mỗi người, lại mang thêm một ư nghĩa riêng biệt khi các tín hữu giáo dân hợp tác sinh hoạt chung, nghĩa là khi họ đoàn kết để hoạt động và tham gia với một tinh thần trách nhiệm vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội .

Trong thời gian sau này, người ta thấy có rất nhiều hiệp hội giáo dân ra đời và hoạt động rất hăng hái đắc lực. Trong lịch sử Giáo Hội các hiệp hội tín hữu đă phát sinh và tiếp nối liên tục cho đến ngày hôm nay như các hội đoàn, các Ḍng Ba, các cộng đồng huynh đệ. Nhưng trong thời đại ngày nay hiện tượng này đă bùng phát một cách đặc biệt, đây đó phát sinh và lan tràn nhiều h́nh thức tập thể như: hiệp hội, nhóm, cộng đồng, phong trào. Nói được đây là một mùa gặt mới của các hội đoàn tín hữu giáo dân. Bởi v́ "bên cạnh các nhóm cổ truyền, mọc lên những phong trào và nhóm mới có khi bắt nguồn từ nhóm cổ truyền, nhưng lại có bộ mặt và mục đích riêng. Nguồn mạch và ơn Chúa Thánh Thần càng phong phú và muôn mặt trong cơ cấu Giáo Hội, th́ khả năng sáng tạo và tâm hồn đại độ của người giáo dân càng lớn lao." (105)

Các nhóm giáo dân thường có vẻ khác biệt nhau trong nhiều khía cạnh, như h́nh thức bên ngoài, cách sinh hoạt, phương pháp giáo dục và môi trường hoạt động. Nhưng tất cả đều quy về một mục đích chung đă thúc đẩy họ, là tham gia một cách có trách nhiệm vào sứ mệnh của Giáo Hội, để đem Phúc âm Chúa Kitô đến như là nguồn hy vọng cho con người, một sinh lực canh tân cho xă hội.

Tín hữu giáo dân qui tụ thành đoàn thể v́ lư do thiêng liêng hay tông đồ, là do nhiều nguồn mạch thúc đẩy và cũng để đáp ứng lại nhiều nhu cầu đ̣i hỏi. Thực ra, bản tính xă hội của con người và v́ con người muốn đạt được hiệu qủa sâu rộng và quyết liệt trong hành động của ḿnh. Trong thực tế, hiệu lực văn hóa, nguồn mạch và khích lệ, cũng là kết qủa và là dấu hiệu biến đổi xă hội đă không thể đạt được do công việc của từng cá nhân, mà nhờ vào hoạt động của một "chủ thể xă hội" nghĩa là của một nhóm, một cộng đoàn, một hiệp hội, một phong trào, đặc biệt trong một xă hội muôn mặt và phân hóa như trong nhiều nước trên thế giới ngày nay, và trước vấn đề đă trở thành quá phức tạp và khó khăn. Nhất là trong một thế giới đă bị tục hóa, nhiều người thấy rằng những sinh hoạt hội đoàn có thể giúp họ sống đời sống đạo trung thành với các đ̣i hỏi Phúc âm và dấn thân vào việc truyền giáo tông đồ một cách đắc lực.

Ngoài các lư do trên, lư do sâu xa đ̣i hỏi các tín hữu giáo dân phải tụ tập nhau thành nhóm, chính là lư do thần học xây dựng trên khoa giáo-hội-học như Công Đồng Vaticanô II đă công nhận. Công Đồng nhận thấy trong việc tông đồ tập thể là "một dấu hiệu của sự hiệp thông và tính cách hợp nhất của Giáo Hội trong Chúa Kitô." (106)

Đây là "một dấu hiệư" phải biểu lộ trong mối tương giao "hiệp thông" đối nội và đối ngoại của các hội đoàn hay đoàn thể, nằm trong khuôn khổ rộng răi của Cộng Đồng Kitô hữu. Chính do khoa giáo-hội-học mà người tín hữu giáo dân có "quyền" qui tụ thành đoàn thể. Cũng v́ lư do này mà cần phải có "tiêu chuẩn" phân biệt h́nh thức hiệp hội nào chân chính, đích thực thuộc về Giáo Hội.

Trước tiên phải công nhận là người tín hứu giáo dân có quyền tự do thành lập hội đoàn trong Giáo Hội. Quyền tự do này là một quyền lợi thật, nó không phải chỉ là một h́nh thức "nhân nhượng" của giáo quyền mà là hậu qủa đương nhiên của phép Rửa Tội. Là một bí tích, Phép Rửa Tội kêu gọi các tín hữu giáo dân phải tích cực tham gia vào sự hiệp thông và sứ mệnh của Giáo Hội. Công Đồng đă nói rơ ràng về điều này: "Giáo dân có quyền thành lập các hội đoàn; điều khiển và ghi tên vào các đoàn thể đă có sẵn. miễn là phải giữ mối liên lạc cần thiết với giáo quyền".(107) Giáo Luật lại qủa quyết: "Các tín hữu có quyền tự do thiết lập và điều khiển các hội đoàn nhằm mục đích từ thiện hay đạo đức, hoặc nhằm cổ vơ ơn gọi của người Kitô trong thế giới; họ cũng có quyền nhóm họp để cùng theo đuổi đạt tới các mục đích đó".(108)

Đây là một quyền tự do được công nhận và bảo đảm do giáo quyền, nhưng phải luôn luôn thi hành trong sự hiệp thông với Giáo Hội. Do đó, quyền lợi của người tín hữu giáo dân được tự do hội họp là một quyền lợi nối kết mật thiết với đời sống chung và sứ mệnh chính của Giáo Hội.

Tiêu chuẩn để nh́n nhận tính cách Giáo Hội đối với các Hiệp Hội giáo dân

 

30. Cần phải có các tiêu chuẩn rơ ràng và chính xác để phân biệt và nh́n nhận các hội đoàn giáo dân, có thể gọi là "tiêu chuẩn có tính cách giáo hội". Đó không phải là để hạn chế quyền tự do hiệp hội mà chính là để cho các đoàn thể ấy thực hiện được sự hiệp thông và sứ mệnh của Giáo Hội. Những tiêu chuẩn nền tảng để phân biệt các Hội đoàn giáo dân trong Giáo Hội là những tiêu chuẩn sau đây:

*** Ơn gọi nên Thánh của người Kitô-hữu, đó là mục đích tiên quyết. Điều này phải được biểu lộ trong ơn Chúa Thánh Thần phát sinh nơi người tín hữu (109) để họ lớn lên cho đến tuổi trưởng thành sung măn của đời sống đạo và đến mức trọn lành của đức ái.(110)

V́ thế tất cả các hội đoàn công giáo được kêu gọi để ngày càng trở nên phương tiện thánh hóa trong Giáo Hội. Một phương tiện giúp đỡ và khích lệ "sự hiệp nhất thâm sâu giữa cuộc sống thường nhật với Đức Tin của các hội viên."

*** Sự dấn thân tuyên xưng đức tin công giáo trong việc nhận lănh và rao truyền chân lư về Chúa Kitô, về Giáo Hội, và về con người, đúng theo giáo huấn của Giáo Hội là Thầy dạy chân chính. Tất cả các hiệp hội của người tín hữu giáo dân phải trở nên "một nơi rao truyền và thông đạt Đức Tin và giáo dục sống Đức Tin này trọn vẹn." (111)

*** Phải chứng minh một đời sống hiệp nhất kiên cường vững chắc, trong t́nh nghĩa phụ tử đối với Đức Giáo Hoàng, trung tâm muôn thuở và hữu h́nh của sự hiệp nhất trong Giáo Hội hoàn vũ (112) đối với Giám Mục "Nguyên lư hiển hiện và nền móng của sự hợp nhất" (113) của Giáo Hội địa phương và "tất cả các h́nh thức tông đồ khác của Giáo Hội" (114)

Sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng và với Giám Mục phải tỏ ra bằng cách sẵn sàng, ngay thẳng nhận lănh các giáo dân tín lư và chỉ giáo mục vụ của các Ngài. Hiệp thông với Giáo Hội c̣n đ̣i hỏi phải chấp nhận h́nh thức đa diện hợp pháp của các tín hữu giáo dân trong Giáo Hội và đồng thời sẵn sàng hợp tác chung với nhau.

*** Thỏa thuận và cộng tác để thực hiện sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội, là "rao truyền Phúc âm và Thánh hoá nhân loại, và đào tạo cho con người một lương tâm Công Giáo đích thực để họ có thể đem tinh thần Phúc âm thấm nhuần mọi cộng đồng cũng như mọi lănh vực của đời sống". (115)

Theo viễn tượng này, tất cả mọi h́nh thức hiệp hội của người tín hữu giáo dân phải có một tinh thần truyền giáo hăng say để trở thành dụng cụ ngày càng sinh động cho việc truyền bá Phúc âm.

*** Dấn thân hiện diện trong xă hội loài người để phục vụ nhân phẩm toàn diện con người, đúng theo học thuyết xă hội của Giáo Hội.

Như thế, các hội đoàn giáo dân phải trở nên những trào lưu mạnh mẽ thu hút nhiều người và liên đới để tạo nên những điều kiện công b́nh và huynh đệ hơn cho đời sống xă hội.

Những tiêu chuẩn nền tảng vừa tŕnh bày trên đă được chứng minh rơ ràng trong những kết qủa cụ thể tốt đẹp trong đời sống và hoạt động của các h́nh thức hiệp hội, chẳng hạn việc ưa thích cầu nguyện, suy ngắm, đời sống phụng vu và bí tích; việc tổ chức để giúp đỡ thanh thíêu niên ư thức ơn gọi hôn nhân, ơn goi linh mục, ơn gọi đời sống tận hiến, sẵn sàng tham gia vào các chương tŕnh và hoạt động của Giáo Hội trên b́nh diện quốc gia và quốc tế; dấn thân vào việc dạy giáo lư và trao đổi khả năng sư phạm để đào tạo người Kitô hữu; t́m cách thực hiện sự có mặt của người Kitô hữu trong các lănh vực xă hội; thành lập và làm linh động các công tác từ thiện, văn hóa và thiêng liêng tạo tinh thần vô vị lợi và nghèo khó Phúc âm để thực hiện ḷng bác ái đại độ với mọi người, giúp kẻ đă chịu phép Rửa Tội nhưng lại "bê tha" trở lại đời sống Kitô hữu.

 

Phận sự của vị Chủ Chăn để thực hiện việc hiệp thông

31. Trong trường hợp các hiệp hội gặp phải khó khăn và có nhiều h́nh thức mới xuất hiện, các vị Chủ Chăn trong Giáo Hội phải dùng quyền bính của ḿnh, v́ lợi ích của Giáo Hội, và cũng v́ lợi ích của chính các hội đoàn giáo dân, các Ngài phải phán đoán, phân biệt để hướng dẫn nhất là khích lệ cho các hiệp hội ấy trưởng thành trong sự hiệp thông và trong sứ mệnh của Giáo Hội.

** Điều thuận lợi nên làm là các hội đoàn và các phong trào mới khi đă phổ biến rộng răi trong nước và ngoài nước phải được Giáo quyền có thầm quyền chính thức công nhận. Chính Công Đồng đă qủa quyết về điểm này như sau: "Có nhiều h́nh thức liên hệ giữa việc tông đồ giáo dân với hàng Giáo phẩm, tuỳ theo h́nh thức và mục đích của mỗi hoạt động... Một số tổ chức tông đồ giáo dân, dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác, đă được Giáo quyền công khai chấp nhận. Ngoài ra v́ lợi ích chung của Giáo Hội, Giáo quyền có thể lựa chọn và cổ vơ cách đặt biệt một vài tổ chức trong số những tổ chức hay hiệp hội tông đồ sẵn có, trực tiếp nhằm mục đích thiêng lêng, và Giáo quyền cũng nhận trách nhiệm đặc biệt đối với những tổ chức ấy" (116)

Trong những h́nh thức tông đồ giáo dân có mối liên hệ đặc biệt với Hàng Giáo phẩm, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă kê rơ các phong trào hay hội đoàn Công Giáo Tiến Hành, trong đó "người giáo dân tự nguyện tổ chức có cơ cấu và cố định theo ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, trong sự hiệp thông với các Giám Mục và linh mục để có thể hoạt động một cách hăng say và trung thành theo đường hướng ơn gọi của riêng ḿnh, để mở rộng Cộng Đồng Kitô hữu, và để thực hiện các chương tŕnh mục vụ, cũng như để tất cả các môi trường sống của con người được thấm nhuần tinh thần Phúc âm." (117)

Hội Đồng Giáo Hoàng phụ trách giáo dân có bổn phận phải soạn thảo một danh sách các hiệp hội được Ṭa Thánh chính thức chầp nhận và phối hợp với Văn Pḥng Hiệp Nhất Kitô-hữu, để định rơ điều kiện chấp nhận hay không thể chấp nhận cho một hiệp-hội-liên-tôn gồm những người Công Giáo và một thiểu số không Công Giáo. (118)

Tất cả chúng ta, Chủ Chăn cũng như tín hữu phải t́m mọi cách để duy tŕ giữa các đoàn thể giáo dân mối giây huynh đệ để mọi người mến chuộng, yêu thương và hợp tác với nhau. Chỉ có cách này th́ kho tàng ơn Chúa ban cho chúng ta là các ân huệ, các đoàn sủng, mới có thể đóng góp một cách dồi dào và trật tự vào việc xây dựng ngôi nhà chung của chúng ta: "Để xây dựng chắc chắn ngôi nhà chung, chúng ta phải khước từ óc chia rẽ bè phái; ngược lại chúng ta phải tôn trọng và sẵn sàng cộng tác với nhau bằng môt tâm hồn nhẫn nại, sáng suốt và sẵn sàng hy sinh". (119)

Một lần nữa chúng ta hăy đọc lại lời của Chúa Giêsu: "Ta là Cây Nho chúng con là cành" (Jn. 15.5), để cảm tạ Chúa ban cho chúng ta ơn hiệp thông trong Giáo Hội; đó là tia sáng chiếu vào thời gian, tia sáng của sự thông hiệp t́nh yêu đời đời không thể diễn tả được của Thiên Chúa Ba Ngôi. Ư thức được ơn Chúa th́ phải ư thức trách nhiệm: Bởi v́ đó là một ơn, như nén bạc trong Phúc âm, nó đ̣i hỏi phải biến thành sự sống thông hiệp ngày mỗi lớn lên.

Nhận lănh trách nhiệm về ơn thông hiệp, trước tiên có nghĩa là phấn đấu để thắng chia rẽ và đối lập; chính hai cám dỗ này đe dọa sự sống và sự dấn thân làm tông đồ của các người Kitô-hữu. Thánh Phaolô đă đau đớn kêu lên: "Ta nghe mỗi người trong anh em nói: Tôi thuộc về Phaolô, và tôi thuộc về Apolló, c̣n tôi thuộc về Cepha và tôi thuộc về Chúa Kitô; thế th́ Chúa Kitô bị chia năm xẻ bảy sao?" (Cor. 1:12-13). Lời này vẫn c̣n vang vọng như một trách móc trước cảnh "nhiệm thể Chúa Kitô bị xâu xé." Ngược lại chúng ta hăy lắng nghe dư âm của lời mời gọi cũng của Thánh Phaolô sau đây: "Thưa anh em, nhân danh Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, tôi nài xin toàn thể anh em hăy nhất tâm đừng chia rẽ, nhưng hăy hợp nhất và đoàn kết với nhau trong tinh thần, và trong tư tưởng" (1 Cor.1:10)

Như thế sự sống thông hiệp của Giáo Hội trở nên một dấu chỉ cho thế giới và là một hấp lực thu hút mọi người tới niềm tin vào Chúa Kitô: "Lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con Ở trong Cha, xin cho họ trở thành một trong chúng ta để thế gian tin rằng Cha đă sai Con" (Jn. 17.21).

Như thế sự hiệp thông hướng về truyền giáo và chính sự hiệp thông là truyền giáo.

         CHÚ THÍCH

52- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium,số 4

53- Kỳ họp II Thượng Hội đồng Giám mục - (1985) - Relatio finalis II, C, I.

54- Phaolô VI - Bài nói chuyện ngày thứ tư (8-6-1966). Insegnamenti IV (1966). 794.

55- Xem Vaticanô, Hiến chế Lumen Gentium, số 6,

56- Xem tld 7 và kế tiếp

57- tld 9

58- tld 1

59- tld 9

60- tld 7

61- tld

62- tld 4 .

63- Gioan-Phaolô II - Bài giảng Thánh lễ bê mạc kỳ họp thứ 7 Thượng Hội đồng Giám mục. (30-1O-1987) AAS 80 (1988) 600.

64- Xem Vaticnô II - Hiên chế Lumen Gentium, số 4

65- Xem Vaticanô II . Sắc lệnh Ad Gentes, số 5

66- Xem Vaticanô II - Sắc lệnh Presbyterorum ordinis. 2-, xem Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 10.

67- Xem Vaticanô II - Hiến chếLumen Gentium, sô'10.

68- Xem Gioan-Phaolô II - Thư trong ngày thứ Năm Tuần Thánh gửi các Linh mục của Giáo hội (9-4-1979) - 3-4. Insegnament II,l (1979), 844-847.

69- C. 1-C. Can. 230 # 3

70- Xem Vaticanô II - Sắc lệnh Presbyterorum ordinis, 2 & 5.

71- Xem Vaticanô II - SL. Apostolicam actuositatem, số 24

72- BỘ Giáo luật kể một số chức vụ và hành động riêng thuộc các thừa tác viên có chức thánh; những việc này có thể được giáo dân hành xử trong một thời gian vào những hoàn cảnh đặc biệt và nghiêm trọng, với sự cho phép đúng theo luật định đi trước và với ủy quyền của giáo quyền hợp cách: xem Can. 280 # 3; 517 # 2; 776; 861 # 2; 910 # 2; 943; 1112; v.v....

73- Xem Vaticanô II - HC. Sacrosanctum Consilium, số 28; C.l.C Can. 230 # 2: "với năng cách được cử tạm thời, giáo dân có thể hành xử chức vụ Đọc Sách trong các hành vi phụng vụ; cũng thế, tất cả giáo dân có thể hành xử các chức vụ b́nh giải, ca ngâm, hoặc những chức vụ khác nữa, theo luật định".

74- BỘ Giáo luật tŕnh bày nhiều chức vụ và bổn phận khác nhau mà giáo dân có thể chu toàn trong các cơ cấu của Giáo hội: xem Can. 228; 229 # 3; 317 # 3; 436 # 1 số 5 và # 2; 483; 494; 537; 759; 776, 784, 785; 1282, 1421 # 2; 1424; 1428 # 2; 1435; v.v....

75- Xem Propositio, 18.

76- Phaolô VI - Tông huấn Evangelii Nuntiandi, 70, AAS 68 (1960), 60.

77- C.I.C Can. 230 # 1

78- Propositio, 18

79- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam, 3.

80- "Từ việc lănh nhận các đoàn sủng này, dẫu đơn sơ nhất, mỗi người giáo dân có quyền và bổn phận thực hiện các ơn đó trong Giáo hội và giữa trần thế v́ lợi ích con người và xây dựng Giáo hội, trong sự tự do của Chúa Thánh Linh "Đấng thổi nơi nào Ngài muốn" (Gioan 8,8), và đồng thời hiệp thông với anh em ḿnh trong Đức Kitô và đặc biệt với các vị chủ chăn của ḿnh" (tld).

81- Propositio, 9.

82- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, 12.

83- xem tld 30

84- Vaticanô II - Sắc lệnh Christus Dominus, 11

85- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium. 23.

86- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, 10

87- Xem Propositio, 10.

88- Xem C.I.C Can. 443 # 4; 468 # 1 và 2.

89- Xem Propositio, 10.

90- Tài liệu Công đồng viết: "V́ Giám mục trong Giáo hội ḿnh không thể chỉ huy toàn đoàn chiên mọi lúc, mọi nơi, người cần thiết lập nhiều giáo đoàn tín hữu, trong đó quan trọng hơn cả là giáo xứ, được tổ chức tại địa phương dưới quyền dẫn dắt của một vị chủ chăn thay mặt Giám mục, một cách nào đó, các họ đạo tiêu biểu cho Giáo hội hữu h́nh được thiết lập trong hoàn vữ" (Vaticanô II - Hiến chế Sacrosanctum Consilium, 42).

91- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, 28.

92- Gioan-Phaolô II - Tông huấn Catechesi Tradendae, 67 AAS 71 (1979); 1333.

93- CIC Can. 515 # 1.

94- Xem Propositio, 10.

95- Xem Vatieanô II- HC. Sacrosanctum Consilium, 42.

96- Xem Can. 555 # 1.1

97- Xem Can. 383 # 1

98- Phaolô VI - Bài diễn văn đọc trước Giáo sĩ Roma (24-6-1963): AAS 55 (1963) 6711.

99- Propositio, 11

100- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, 10

101- ltd

102- Xem Propositio, 10.

103- Thánh Grêgôriô Cả - Bài giảng về Ez II,l.5.

104- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, 16.

105- Gioan Phaolô II - Kinh Truyền Tin (23-8-1987). Insegnamenti X,3 (1987), 240.

106- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam actuositatem, 18.

107- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam actuositatem, 19. - xem tld, 15; Hiến chế Lumen Gentium, 37.

108- CIC Can. 215

109- Vaticanô II - Hiến chếLumen Gentium, 39.

110- Xem tld 40

111- Xem Vaticanô II - SL. Apostolicam Actuositatem, 19

112- Vaticanô II - Hiến chếLumen Gentium, 23

113- Xem tld

114- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem,

115- tld 20

116- tld 24

117 Propositio, 13.

118- Xem Propositio, 15

119- Gioan-Phaolô II - Diễn văn trước Hội nghị quốc gia Giáo hội Ư tại Lorette (10.4.1985) AAS 77 (1985) 964.

 

*************

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương III

          

THẦY ĐĂ SAI CHÚNG CON RA ĐI

VÀ MANG LẠI KẾT QUẢ

Tinh thần đồng trách nhiệm của Tín hữu giáo dân

trong Giáo hội Truyền giáo

 

 Sự Thông Hiệp Truyền Giáo

32. Chúng ta hăy lấy lại h́nh ảnh Thánh Kinh của cây nho và cành nho. Nó giúp chúng ta nhận xét về sự phong phú và sức sống một cách dễ dàng tự nhiên. Các cành cây dính liền với thân cây và sống do nhựa sống của thân cây, dĩ nhiên phải sinh hoa kết quả: "Ta là cây nho, chúng con là cành. Cành nào ở trong Ta và Ta ở trong nó, nó sẽ trổ sinh nhiều hoa trái" (Jn. 15.5). Trổ sinh hoa trái là một đ̣i hỏi căn bản của đời sống Kitô hữu trong Giáo Hội. Ai không trổ sinh hoa trái th́ không ở trong sự hiệp thông: "Bất cứ cành nào ở trong Ta mà không trổ sinh hoa trái, (Cha Ta) sẽ chặt nó đi" (Jn. 15.2).

Thông hiệp với Chúa Giêsu, nguồn hiệp thông giữa các Kitô-hũu với nhau, là một điều kiện không thể không có để trổ sinh hoa trái: "Ngoài Ta, chúng con không thể làm được ǵ, (Jn. 15.5). Và sự hiệp thông với tha nhân là hoa trái đẹp nhất của cành nho. Đó là ơn của Đức Kitô và của Thánh Thần Ngài.

Sự thông hiệp phát sinh hợp nhất và bản chất nó là hiệp thông truyền giáo. V́ Chúa Giêsu đă nói với môn đệ Ngài rằng: "Không phải các con chọn Thầy, chính Thầy đă tuyển chọn các con và sai các con đi mang lại kêt quả và để kết qủa ấy tồn tại" (Jn.15.16).

Sự hiệp thông và việc truyền giáo gắn liền với nhau, xâm nhập và quấn quít nhau và đă trở nên như nguồn mạch, và là hoa trái của việc truyền giáo. Hiệp thông là truyền giáo, và truyền giáo có mục đích thể hiện sự hiệp thông. Chính một Chúa Thánh Thần kêu gọi và hiệp nhất Giáo Hội và sai Giáo Hội đi rao giảng Phúc âm "khắp trên mặt đất" (Acts. 1:8). C̣n Giáo Hội, Giáo Hội biết sự hiệp thông là ơn Chúa, nó có sứ mệnh đối với mọi người. Như thế Giáo Hội cảm thấy mắc nợ đă nhận lănh từ Chúa Thánh Thần, Đấng đă ban tràn đức ái của Chúa Cha trong ḷng các kẻ tin tưởng, là sức mạnh nối kết bên trong và cũng là sức mạnh bành trướng bên ngoài. Sứ mệnh của Giáo Hội nằm ngay trong bản tính của ḿnh như Chúa Kitô đă muốn: đó là sứ mệnh phải trở nên "dấu chỉ và phương thế... làm cho toàn thể nhân loại được hợp nhất." (120) Sứ mệnh này có mục đích làm cho mọi người biết và sống sự hiệp thông "mới" ; sự hiệp thông đi vào lịch sử thế giới nhờ con Thiên Chúa làm người. Chính theo nghĩa này, Thánh Gioan Thánh Sử đă minh định một cách quyết liệt cứu cánh "hạnh phúc" mà sứ mệnh Giáo Hội phải đạt tới: "Điều mà chúng tôi đă chiêm ngưỡng, đă nghe thấy, chúng tôi đă loan truyền cho anh em, để anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi. Và chúng tôi, chúng tôi được hiệp thông với Chúa Cha và với Con Ngài là Đức Giêsu Kitô" (1 Jn. 1:3).

Cũng trong sứ mệnh của Giáo Hội, Chúa đă giao phó cho người tín hữu giáo dân, trong sự thông hiệp tất cả các thành phần của Dân Chúa, một phần trách nhiệm rất lớn. Các Nghị Phụ Công Đồng Vaticanô II đă ư thức rơ ràng về việc này: "Các chủ chăn biết rơ giáo dân giúp ích rất nhiều cho toàn thể Giáo Hội. Các Ngài biết rằng Chúa Kitô không đặt các Ngài lên để một ḿnh lănh lấy tất cả sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội đối với thế giới, nhưng nhiệm vụ cao cả của các Ngài là hướng dẫn tín hữu và nhận biết các phận sự và ơn sủng riêng của họ, để mọi người cùng góp phần vào công cuộc chung, tùy theo cách thức của họ trong sự hợp nhất ". (121) Tiếp theo trong Thượng Hội Đồng Giám Mục, sự xác tín của các Ngài về vấn đề này được nhắc lại một cách rơ ràng và mạnh mẽ hơn nữa.

 

RAO TRUYỀN PHÚC ÂM

33. Các tín hữu giáo dân, v́ thuộc thành phần của Giáo Hội nên được mời gọi và nhận lănh sứ mệnh rao truyền Phúc âm: Họ đă được chuẩn bị để dấn thân chu toàn hoạt động này bằng các Bí Tích của đời sống Kitô hữu và ơn Chúa Thánh Thần.

Một văn bản rơ ràng và súc tích của Công Đồng Vaticanô II nói: "Giáo dân góp phần tích cực vào đời sống và hoạt động của Giáo Hội, nhờ được tham dự vào chức vụ của Chúa Kitô là tư tế, tiên tri và là vua... Được nuôi dưỡng nhờ tham dự vào đời sống phụng vụ của cộng đoàn, chính họ nhiệt thành góp phần vào những hoạt động tông đồ của chính cộng đoàn đó; họ đem những người có lẽ đang xa lạc trở về với Giáo Hội. Họ cộng tác đắc lực vào việc rao truyền Lời Chúa, nhất là bằng việc dạy giáo lư. Họ đem khả năng của ḿnh làm cho việc coi sóc các linh hồn, và cả việc quản trị tài sản của Giáo Hội sinh hiệu qủa hơn".(122)

Tất cả sứ mệnh của Giáo Hội quy tụ và biểu dương trong việc rao truyền Phúc âm. Con đường lịch sử của Giáo Hội được ơn Chúa che chở và đi theo mệnh lệnh của Đức Giêsu Kitô: "Chúng con hăy đi khắp thế giới, rao giảng Tin Mừng cho mọi người". (Mk.16. 15) "Và Thầy sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế " (Mt. 28.20). Đức Phaolô VI lại viết: "Rao truyền Phúc âm, đó là ân sủng và là lời mời gọi riêng của Giáo Hội, là bản tính sâu xa của Giáo Hội." (123)

Nhờ rao giảng Phúc âm, Giáo Hội được xây dựng và trở thành cộng đồng Đức Tin, nói rơ hơn là trở thành cộng đồng của một Đức tin bằng Lời Chúa, một Đức Tin cử hành trong các Bí Tích và sống trong Đức ái là linh hồn của đời sống luân lư Kitô-hữu. V́ "Tin Mừng" thức tỉnh con người trong cuộc sống, sự ăn năn trở lại và kết hợp với Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế và Chúa tể; chuẩn bị cho con người nhận lănh phép Rửa Tội, phép Thánh Thể và trở nên vững chắc khi quyết tâm thể hiện một đời sống mới theo ơn soi dẫn của Chúa Thánh Thần.

Mệnh lệnh của Chúa "Chúng con hăy đi và rao giảng Phúc âm", chắc chắn vẫn luôn giữ giá trị linh động và cần phải được thi hành. T́nh thế hiện tại của thế giới cũng như của nhiều địa hạt trong Giáo Hội, càng đ̣i hỏi lời Đức Kitô phải được tuân theo một cách sẵn sàng, mau chóng, và đại độ Mỗi người được gọi riêng và không ai được quyền từ chối trả lời : "Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc âm" (1 Cor. 9:16).

 

Đă đến giờ phải đổi mới việc rao giảng Phúc âm

34. **Có những nước, những quốc gia xưa kia hoàn toàn Công giáo và đời sống Kitô hữu rất nhiệt thành, từng nẩy sinh những cộng đồng Đức Tin sống động và linh hoạt; nhưng ngày nay lại bị thử thách trầm trọng và có khi lại bị biến đổi tận gốc rễ v́ các học thuyết vô thần, t́nh trạng tục hóa và vô đạo. Nhất là những nước, những quốc gia được gọi là Nhất Thế Giới, nơi đó con người chỉ biết hưởng thụ và chạy đua tiêu thụ, mặc dầu bên cạnh họ c̣n có những t́nh trạng nghèo đói và khốn cùng ghê gớm; họ sống một đời sống "như thể không có Thiên Chúa". Trước t́nh trạng thờ ơ đối với tôn giáo và coi rẻ Thiên Chúa một cách trầm trọng của cuộc sống, c̣n đáng lo ngại và nguy hại hơn cả học thuyết vô thần. Đức Tin Công Giáo mặc dầu c̣n được giữ lại trong những nghi lễ cổ truyền, cũng đang từ từ bị loại bỏ khỏi những giờ phút rất nghiêm trọng của đời sống như lúc sinh sản, khi gặp đau khổ, và giờ phút ĺa đời. Do đó, có những vấn đề và những bí ẩn ghê gớm chưa giải đáp được và con người ngày nay cảm thấy thất vọng ê chề, hoặc có khi bị cám dỗ tiêu diệt sự sống đă tạo nên.

Ngược lại, tại nhiều nước, nhiều quốc gia tuy c̣n bảo tồn được truyền thống đạo đức sống động và tâm t́nh Công giáo, nhưng gia sản luân lư thiêng liêng ấy cũng đang bị nguy cơ biến dần v́ nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là ảnh hưởng phong trào tục hóa và các giáo phái đang lan tràn khắp nơi. Chỉ có cách đổi mới việc truyền bá Phúc âm mới bảo đảm được Đức Tin trưởng thành, sáng suốt và sâu xa, có khả năng làm cho những truyền thống ấy trở thành một sức mạnh tự do thật.

**Chắc chắn rằng việc tái lập cho xă hội loài người một cơ cấu căn bản Công Giáo là việc làm cấp bách. Nhưng điều kiện tiên quyết, là phải tái lập cơ cấu căn bản của cộng đồng Giáo Hội đang sống trong các nước, các quốc gia ấy.

Ngày nay, người tín hữu giáo dân nhờ tham gia vào chức vụ rao giảng của Chúa Kitô, nên được dấn thân đầy đủ vào công việc này của Giáo Hội. Đặc biệt họ phải chứng tỏ cho mọi người biết là chỉ có Đức Tin mới có câu trả lời đáng giá cho các vấn đề, cho niềm hy vọng do cuộc sống tạo nên cho mọi người và cho xă hội, một câu trả lời mà mọi người nhiều hay ít đang thoáng thấy xa xa và chờ đợi. Điều này có thể thực hiện được nếu người tín hữu giáo dân thắng vượt t́nh trạng chia rẽ giữa Phúc âm với đời sống, nghĩa là biết tạo nên trong các hoạt động thường ngày, trong gia đ́nh, nơi sở làm, trong xă hội, sự hiệp nhất theo tinh thần Phúc âm và nhờ sức mạnh của Phúc âm để thực hiện.

“Một lần nữa Ta lập lại với tất cả mọi người đang sống thời đại hôm nay, tiếng kêu cầu tha thiết khi Ta khai mạc đời phục vụ các linh hồn của Ta: "Các con đừng sợ, các con hăy mở, hăy mở rộng cửa cho Đức Kitô! Ngài là Đấng cứu độ quyền năng, các con hăy mở rộng cho Ngài biên giới quốc gia, các hệ thống kinh tế chính trị, các lănh vực mênh mông của văn hóa, của văn minh, của phát triển. Các con đừng sợ Đức Kitô biết rơ "tất cả những ǵ đang ầp ủ trong ḷng người". Chỉ có Ngài mới biết được mà thôi. Hôm nay, nhiều lần con người không biết được những ǵ họ đang mang trong ḿnh, họ đang ấp ủ tận đáy ḷng, trong thâm cung của linh hồn ḿnh. V́ thế nên họ không rơ được ư nghĩa cuộc sống trần gian. Họ bị ám ảnh nghi ngờ rồi đâm ra thất vọng. Ta yêu cầu các con, Ta van nài các con với tất cả ḷng khiêm nhượng và cậy trông, các con hăy cho phép Đức Kitô nói với các con. Chỉ có Ngài mới có lời ban sự sống. Phải, chỉ có Ngài mới có lời hằng sống." (124)

Mở rộng cửa cho Chúa Kitô, đón rước Ngài vào cuộc sống riêng tư của ḿnh, làm như vậy con người không bị một điều ǵ đe dọa. Trái lại, đây là con đường độc lộ phải đi qua nếu chúng ta muốn nh́n nhận tất cả sự thực về con người và tôn vinh các giá trị của nó.

Người tín hữu giáo dân biết đem Phúc âm vào đời sống nghĩa vụ hằng ngày đó là chứng tá đẹp nhất và hữu hiệu nhất, để cho mọi người thấy rằng không phải sợ hăi, mà là t́m kiếm Đức Kitô, để bám chặt lấy Ngài, là yếu tố quyết định cho con người được sống và trưởng thành, và để tạo nên những mẫu sống phù hợp với phẩm giá con người.

Con người được Thiên Chúa yêu thương! Đó là điều rất đơn giản và cũng là rất táo bạo mà Giáo Hội phải loan truyền cho mọi người. Lời nói và đời sống của mỗi người Kitô hữu phải là dư âm của sứ điệp này: Thiên Chúa yêu thương con, Đức Kitô đă đến v́ con, v́ con mà Đức Kitô trở nên "Đường, Sự Thật và Sự Sống" (Jn. 14:6).

Việc rao giảng Phúc âm không phải chỉ cho từng người, mà cho toàn thể các dân tộc tùy theo t́nh trạng, cảnh vực và văn hóa riêng của họ. Mục đích là cố ư tạo nên sự thông hiệp Giáo Hội trưởng thành, nghĩa là sống Đức Tin, là theo sát con người của Chúa Kitô và Phúc âm của Ngài, là gặp gỡ và hiệp thông với Ngài nhờ các Bí Tích, là sống Bác ái và phục vụ. Đó là ư nghĩa nguyên thủy của Đức Tin.

Vai tṛ của tín hữu giáo dân là tạo nên những cộng đồng Giáo Hội, không phải chỉ bằng cách tích cực tham gia với tinh thần trách nhiệm vào đời sống cộng đồng, một việc chúng ta không thể thay thế được, mà c̣n bằng cách hăng say làm việc tông đồ cho những người chưa có Đức Tin hoặc không sống theo Đức Tin đă nhận lănh trong phép Rửa Tội.

Đối với các thế hệ trẻ, người tín hữu giáo dân c̣n phải đóng góp, một sự đóng góp quư giá cần thiết hơn bao giờ hết, là cố gắng dạy giáo lư cho họ. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă tỏ ḷng biết ơn công việc của các người dạy giáo lư, nh́n nhận "vai tṛ của họ rất có giá trị trong việc làm cho các cộng đồng Giáo Hội thêm sức sống" (125) Các bậc phụ huynh Công Giáo nhờ phép Hôn Phối đă trở nên những người dạy giáo lư trước hết cho con cái không ai thay thế được. Nhưng tất cả chúng ta đồng thời cũng phải xác tín là mọi người đă chịu phép Rửa Tội đều có "quyền lợi" phải được dạy dỗ, được giáo dục, và được theo dơi trong Đức Tin và trong đời sống Công Giáo.

 

Chúng con hăy đi khắp thế giới

35. **Trong khi nhận xét và kinh nghiệm t́nh trạng khẩn cấp thúc đẩy phải rao giảng Phúc âm theo một đường lối mới, Giáo Hội không thể tránh né sứ mệnh thường trực của ḿnh là đem Phúc âm đến cho từng triệu triệu người cả nam lẫn nữ chưa nhận biết Chúa Kitô, Đấng Cứu Rỗi con người. Đó là công việc đặc biệt truyền giáo mà Đức Kitô đă trao phó và c̣n trao phó mỗi ngày cho Giáo Hội.

Công việc của các tín hữu giáo dân, mặc dầu luôn luôn đă đóng góp trong phạm vi này, nhưng ở giai đoạn này lại cần thiết và quư giá hơn. Thực ra, mệnh lệnh của Chúa "Chúng con hăy đi khắp thế giới" - vẫn có những giáo dân đại độ hưởng ứng; họ sẵn sàng từ bỏ nơi sinh sống của ḿnh, bỏ công việc, bỏ làng xóm quê hương để lao ḿnh vào các xứ truyền giáo, ít nữa trong một thời gian hạn định - cũng có những cặp vợ chồng Công Giáo theo gương ông bà Aquila và Priscilla xưa (Acts. 18, Rom. 16.3) đă nêu gương chứng nhân t́nh yêu say sưa đối với Chúa Kitô và Giáo Hội bằng đời sống hy sinh trong các xứ truyền giáo. Ngoài ra c̣n có sự hiện diện truyền giáo đích thực khác do những người Kitô hữu v́ nhiều lư do phải sống làm chứng Đức Tin trong các nước hay những nơi Giáo Hội chưa được thiết lập.

* Nhưng ngày nay vấn đề truyền giáo của Giáo Hội đă trở nên quá rộng lớn và khẩn thiết, v́ thế chỉ khi nào tất cả mọi thành phần Giáo Hội từng cá nhân hay từng nhóm đồng liên đới chịu trách nhiệm trong việc truyền giáo, mới có hy vọng đem lại kết qủa mỹ măn.

Lời mời gọi của Công Đồng Vaticanô II kêu cầu các Giáo Hội địa phương vẫn c̣n nguyên giá trị: "V́ Giáo Hội địa phương có nhiệm vụ phản ảnh Giáo Hội hoàn vũ một cách hết sức hoàn hảo, nên phải thành thực nhận định ḿnh cũng được sai tới những kẻ chưa tin Chúa Kitô". (126)

Giáo Hội hôm nay phải tiến tới trong việc rao truyền Phúc âm, phải bước vào một giai đoạn lịch sử mới của tiềm thức truyền giáo. Trong một thế giới không c̣n khoảng cách và ngày càng trở nên nhỏ bé, các cộng đồng Giáo Hội càng phải hợp nhất với nhau và cùng nhau dấn thân trong cùng một sứ mệnh độc nhất là rao truyền và sống Phúc âm. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng tuyên bố. "Các Giáo Hội trẻ cần sức mạnh của các Giáo Hội trưởng thành, và đồng thời các Giáo Hội này cũng cần chứng tá và sự thúc đẩy của các Giáo Hội trẻ; như thế Giáo Hội này hưởng nhờ kho tàng của các Giáo Hội kia".(127)

Trong giai đoạn mới này, việc đào tạo hàng giáo sĩ địa phương cũng như đào tạo hàng giáo dân trưởng thành và có tinh thần trách nhiệm, đối với các Giáo Hội trẻ, là môt yếu tố cơ bản và cần thiết cho việc thiết lập Giáo Hội. (128) Và như thế các cộng đồng đă nhận được Phúc âm lại rao truyền cho các nước khác trên thế giới để đáp lại sứ mệnh rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô và làm chứng nhân.

*Các tín hữu giáo dân nhờ gương sáng và hoạt động của ḿnh có thể cải thiện được những mối tương giao với các tín đồ thuộc các tôn giáo bạn như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă lưu ư: "Ngày nay Giáo Hội hoạt động khắp nơi giữa những người theo tôn giáo khác nhau... Tất cả các tín hữu, nhất là giáo dân đang sống giữa các dân tộc theo tôn giáo khác hoặc ở trong nước ḿnh cư ngụ, các giáo dân này phải trở nên chứng nhân cho Chúa và Giáo Hội đối với người dân bản xứ một cách thích nghi với hoàn cảnh sống riêng biệt. Việc đối thoại giữa các tôn giáo rất quan trọng v́ nhờ đó họ biết yêu thương và kính trọng nhau, hay ít nữa xóa bỏ xoa dịu các thiên kiến giữa các tín đồ các đạo, và cổ vơ được sự hiệp nhất và t́nh bằng hữu giữa các dân tộc (129)

Muốn Phúc-âm-hóa các dân tộc, cần phải có các tông đồ. Muốn thế, tất cả chúng ta, bắt nguồn từ các gia đ́nh công giáo, chúng ta phải ư thức trách nhiệm của chúng ta là t́m cách làm nẩy nở và chín mùi ơn kêu gọi, đặc biệt ơn thừa sai, bằng lời cầu nguyện, theo lời Chúa Giêsu dạy: "Lúa chín đầy đồng, thợ gặt lại ít. Chúng con hăy cầu xin Chủ Nhà sai thêm thợ gặt" (Mt. 9:37-38).

 

SỐNG PHÚC ÂM BẰNG CÁCH PHỤC VỤ CON NGUỜl VÀ XĂ HỘl

36. Giáo Hội vừa nhận lănh vừa loan truyền Phúc âm trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần; như thế Giáo Hội trở nên một cộng đồng được phúc-âm-hóa, đồng thời phúc-âm-hóa kẻ khác, và trở nên đầy tớ của mọi người. Trong Giáo Hội các tín hữu giáo dân tham gia vào sứ mệnh phục vụ con người và xă hội. Cùng đích cao cả của Giáo Hội là Nước Thiên Chúa; Giáo Hội là "hạt giống và là khởi điểm của Nước Thiên Chúa trên mặt đất",(130) v́ thế Giáo Hội hoàn toàn tận hiến để làm vinh danh Chúa Cha. Nhưng Nước Chúa là nguồn mạch giải phóng toàn diện và cứu độ của mọi người. Giáo Hội tiến bước với con người và sống với lịch sử con người trong một t́nh liên đới toàn diện và thân mật.

Giáo Hội đă nhận lănh trọng trách biểu lộ cho thế giới Mầu Nhiệm Thiên Chúa sáng chói trong Đức Giêsu Kitô, th́ đồng thời Giáo Hội cũng mặc khải con người cho con người, dạy họ biết ư nghĩa cuộc sống, và bày tỏ cho con người biết chân lư toàn diện và về vận mạng của Giáo Hội.(131) Theo viễn tượng này, v́ có sứ mạng rao giảng Phúc âm, nên Giáo Hội được gọi để phục vụ con người. Việc phục vụ này bắt nguồn từ sự kiện lạ lùng và chấn động là "Con Thiên Chúa đă nhập thể và kết hợp với mọi người ". (132) V́ thế con người "là con đường thứ nhất Giáo Hội phải theo để hoàn thành sứ mệnh của ḿnh: Là con đường căn bản thứ nhất của Giáo Hội, đă được Chúa Kitô vạch ra, con đường xuyên qua Mầu Nhiệm Nhập Thể và cứu chuộc." (133)

Theo ư nghĩa này, mà Công Đồng Vaticanô II đă đề cập đến nhiều lần trong nhiều văn kiện một cách rơ ràng và mạnh mẽ. Chúng ta hăy đọc lại bản văn đặc biệt ư nghĩa của Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng: "Trong khi theo đuổi mục đích cứu rỗi cá biệt của ḿnh, Giáo Hội không phải chỉ truyền thông sự sống Thiên Chúa cho con người, nhưng c̣n chiếu giăi ánh sáng đời sống ấy trên toàn thế giới. Giáo Hội làm công việc này trước hết bằng cách chữa trị và nâng cao phẩm giá nhân vị, củng cố t́nh đoàn kết xă hội nhân loại, và thấm nhuần cho hoạt động thường nhật của con người một chiều hướng và một ư nghĩa sâu xa hơn. Như thế nhờ từng phần tử và tất cả cộng đoàn, Giáo Hội tin tưởng có thể đóng góp nhiều vào việc biến đổi gia đ́nh nhân loại và lịch sử của nó để trở thành nhân đạo hơn". (134)

**Trong việc đóng góp này cho gia đ́nh nhân loại mà Giáo Hội phải chịu trách nhiệm, các tín hữu giáo dân chiếm một chỗ đứng đặc biệt, lư do là "đặc tính trần thế" của họ bắt buộc họ dấn thân "đem đạo vào đời" theo cách thế cá biệt của họ mà không ai thay thế được.

 

 

Thăng tiến phẩm giá con người

37. Khám phá và giúp khám phá phẩm giá bất khả xâm phạm của mọi con người, đó là bổn phận chính yếu, là trung tâm căn bản có mănh lực hiệp nhất mà Giáo Hội và con cái của Giáo Hội được kêu gọi để chu toàn đối với gia đ́nh nhân loại.

Trong các thụ tạo trên mặt đất, chỉ có con người là "một nhân vị, một chủ thể hiểu biết và tự do", và v́ thế nó là "trung tâm điểm và là cao điểm" của tất cả tạo vật khác sống trên mặt đất. (135)

Phẩm giá nhân vị là tài sản quư hóa nhất của con người, nhờ đó mà nó trổi vượt trên cả thế giới vật chất này. Lời của Chúa Giêsu phán: "Được lợi lăi cả thế gian mà phải mất linh hồn nào có ích chi?" (Mk. 8:36), hàm chứa một lời qủa quyết rơ ràng và đầy khích lệ. Giá trị con người không chủ tại nơi tài sản nó có, cho dù nó chiếm hữu trọn cả thế giới này, nhưng chủ tại nơi "bản chất" của nó. Của cải thế gian không đáng giá bằng của cải nhân vị v́ nhân vị chính là của đáng quư.

**Nếu chúng ta nh́n phẩm giá con người từ nguồn gốc và vận mạng của nó, chúng ta sẽ thấy nó rực rỡ sáng chói: Con người được dựng nên giống h́nh ảnh Thiên Chúa và được Máu châu báu của Chúa Kitô Cứu Chuộc nên nó được kêu gọi trở thành "Những người con trong Đức Chúa Con " và trở nên đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần, và được hưởng sự sống đời đời thông hiệp hạnh phúc với Thiên Chúa. V́ lư do này nên mọi xúc phạm đến nhân phẩm con người đều bị báo oán trước mặt Thiên Chúa và là sự xúc phạm đên Đấng Tạo Hoá đă dựng nên con người.

Nhờ có nhân phẩm, con người luôn luôn tự nó là một giá trị cho chính nó, và nó phải được nh́n nhận và đối xử với giá trị ấy, ngược lại, nó không thể bị nh́n nhận và đối xử như một vật để xử dụng, một phương tíện, hay một đồ vật…

Chính nhân phẩm con người là nền tảng của sự b́nh đẳng với nhau. Bởi đó tuyệt đối phải loại bỏ tất cả mọi h́nh thức kỳ thị. Tiếc thay, nạn kỳ thị đă và vẫn tiếp tục chia rẽ và làm ô nhục gia đ́nh nhân loại, nào là kỳ thị chủng tộc, kỳ thị kinh tế, kỳ thị xă hội, kỳ thị văn hoá, kỳ thị chính trị, kỳ thị địa dư... Mỗi h́nh thức kỳ thị là một sự bất công không thể chấp nhận, không phải v́ nó tạo nên những căng thẳng, những tranh chấp xă hội, nhưng v́ nó làm nhục cho phẩm giá con người: không chỉ phẩm giá của nạn nhân bị nhục, mà phẩm giá của thủ phạm lại càng bị hổ nhục hơn.

Phẩm giá con người không chỉ là nền tảng của sự b́nh đẳng giữa mọi người, nó c̣n là nền móng của việc tham gia và liên đới giữa con người với nhau: Đối thoại và thông cảm được bắt nguồn từ bản tính con người, chứ không phải do cái con người "có".

Nhân phẩm là một tư sản không thể hủy diệt của mọi người. Lời qủa quyết này có một sức mạnh phi thường, nó dựa trên đặc tính thuần nhất không thay thế được của mọi nhân vị. V́ đó, mà con người đă chống lại một cách bất khuất tất cả mọi toan tính đè bẹp, tiêu diệt họ bằng cách đặt họ vào t́nh trạng vô danh của tập thể, của thể chế, của cơ cấu hay hệ thống. Nhân vị trong cá tính của nó không phải là một con số, nó cũng không phải là một ṿng tṛn trong một dây xích, hay một bánh xe trong một hệ thống. Lời qủa quyết căn bản và đầy ư nghĩa về giá trị của con người đă thể hiện bởi con Thiên Chúa khi Ngài nhập thể trong cung ḷng của một Trinh Nữ. Lễ Giáng Sinh luôn luôn nhắc nhở chúng ta về lời qủa quyết này. (136)

 

Tôn trọng quyền sống bất khả xâm phạm

38. Sự nh́n nhận nhân phẩm con người đ̣i hỏi chúng ta phải tôn trọng, bênh vực và thăng tiến các quyền lợi của con người. Đấy là quyền tự nhiên, phổ quát và bất khả xâm phạm. Không một ai, cho dù là cá nhân, đoàn thể, ngay cả quyền bính quốc gia, không một ai có thể sửa đổi và càng không thể loại bỏ các quyền lợi ấy, v́ nó từ Thiên Chúa mà đến.

** Bản chất bất khả xâm phạm của nhân vị này là phản ảnh của bản chất không thể xúc phạm tuyệt đối của Thiên Chúa; và v́ thế không ai có thể phạm đến mạng sống con người. Nói đến nhân quyền, thí dụ quyền được sức khỏe, quyền có chỗ ở, có việc làm, quyền lập gia đ́nh, quyền học hành, nhưng thật sai lầm và hăo huyền khi nói đến nhân quyền như người ta thường nói, mà lại không cương quyết bênh vực quyền sống như một quyền lợi bậc nhất, v́ nó là nguồn gốc và điều kiện cho tất cả mọi quyền lợi khác của con người.

*** Giáo Hội không bao giờ chịu bó tay trước bất cứ xâm phạm nào đến quyền sống là quyền của mọi người, dù bởi tư nhân hay chính quyền. Chủ thể của quyền lợi ấy, chính là con người, con người ở bất cứ thời điểm nào trong cuộc sống từ lúc mới được thụ thai cho đên khi tắt thở; và trong tất cả mọi trạng thái khỏe mạnh cũng như bệnh tật, lành mạnh cũng như tàn phế, giàu có cũng như nghèo hèn. Công Đồng Vaticanô II đă mạnh dạn nói lên: " Tất cả những ǵ đối nghịch với sự sống như giết người dưới bất cứ h́nh thức nào, diệt chủng, phá thai, giết chết cách êm dịu, hoặc tự ư tự tử; tất cả những ǵ xâm phạm đến sự toàn vẹn của nhân vị con người, như cắt bỏ một phần thân thể, hành hạ thân xác hoặc tâm trí, làm áp lực tâm lư; tất cả những ǵ xúc phạm đến nhân phẩm, như những cảnh sống thấp kém dưới mức độ phải có của con người, giam cầm vô cớ, lưu đày, nô lệ, măi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ con; kể cả những t́nh trạng lao động khiến cho nhân công hoàn toàn trở thành công cụ cho lợi lộc, chứ không được coi như con người tự do và có trách nhiệm; tất cả những điều nói trên và những điều tương tự đều được coi là tội lỗi. Trong khi làm thối nát nền văn minh nhân loại, tất cả những điều trên lại trở thành nguy hại cho chính những kẻ chủ động hơn là đối với những người chịu sự thiệt tḥi đó. Hơn nữa nó c̣n xúc phạm nặng nề đến danh dự của Đấng Tạo Hóa." (137)

Nếu mỗi người chúng ta đều có sứ mệnh và trách nhiệm nh́n nhận nhân phẩm của con người và bênh vực quyền sống của con người, th́ đồng thời có một số tín hữu giáo dân được kêu gọi làm việc này với một tước hiệu nêng biệt: đó là các bậc phụ huynh, các nhà giáo dục, bác sĩ và y tá, và tất cả những ai nắm quyền kinh tế và chính trị.

Khi đón tiếp với một ḷng yêu mến và đại độ tất cả mọi người, nhất là những người thất thế và đau yếu, Giáo Hội hôm nay đang sống thời điểm quan trọng nhất của sứ mạng ḿnh, một sứ mạng càng khẩn thiết v́ mỗi ngày con người càng chạy theo cái gọi là Văn hóa chết. Bởi v́, "Giáo Hội tin chắc chắn rằng sự sống con người, cho dù là yếu đau bệnh tật, luôn luôn vẫn là một ơn lạ lùng của ḷng từ bi Thiên Chúa. Để chống với tính ích kỷ và bi quan đang ám ảnh thế giới, Giáo Hội bênh vực sự sống và trong mỗi mạng sống con người, Giáo Hội biết khám phá ra sự sáng chói của tiếng "Vâng" tiếng "Amen" là chính Đức Kitô (2 Cor.1:19, Ap.3:14). Để đáp lại tiếng "không" đang xâm chiếm và gieo sầu khổ cho con người và thế giới, Giáo Hội nói "có" sống động, và như thế Giáo Hội bênh vực con người và thế giới chống lại với những kẻ đe dọa và phạm đến sự sống". (138) Người tín hữu giáo dân, hoặc v́ ơn gọi hay v́ nghề nghiệp, phải trực tiếp chịu trách nhiệm đón nhận sự sống, phải làm cho tiếng "Vâng" của Giáo Hội chấp nhận sự sống, được thực hiện một cách có hiệu quả.

Nhờ sự phát triển mau lẹ của các ngành sinh-vật-học và y-khoa, song song với tiến bộ lạ lùng của khoa học, hiện giờ chúng ta phải đương đầu với nhiều vấn nạn mới v́ con người có khả năng làm những điều mới lạ đối với sự sống con người. Con người thời nay, không những có khả năng "quan sát", hơn nữa c̣n có thể nghiên cứu cách kiểm soát sự sống con người ngay từ giây phút đầu tiên và qua các giai đoạn phát triển của nó.

Lương tâm luân lư của nhân loại không thể đứng nh́n như kẻ bàng quan trước những bước tiến dài do một quyền lợi kỹ thuật ngày càng thao túng trong lănh vực truyền sinh, và trong những giai đoạn đầu của sự phát triển nhân vị con người.

Có lẽ ngày nay hơn bao giời hết trong địa hạt này, sự khôn ngoan là cái neo cứu rỗi độc nhất để con người trong công cuộc sưu tầm khoa học và áp dụng có thể hành động theo lư trí và t́nh thương, nghĩa là biết tôn trọng nhân phẩm bất khả xâm phạm của con người ngay từ buổi đầu cuộc sống của nó. Muốn được như vậy, khoa học và kỹ thuật với những phương tiện hợp pháp, phải dấn thân bênh vực sự sống và chữa trị các bệnh tật ngay từ ban đầu, và từ chối - v́ danh dự của công tŕnh khảo cứu - không can thiệp cách nào để đưa đến hậu quả biến đổi khả năng sinh sản của cá nhân và của nhân loại. (139)

Các tín hữu giáo dân v́ chức nghiệp trên nhiều phương diện phải dấn thân trong lănh vực khoa học hay kỹ thuật, cũng như những lănh vực y khoa, xă hội, lập pháp hay kinh tế, tất cả phải có can đảm đón nhận "sự thách thức" do các vấn đề mới của nền luân lư sự sống gây ra. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă quả quyết: "Người Kitô hữu phải thi hành trách nhiệm như chủ nhân chứ không phải như nô lệ của khoa học và kỹ thuật. Trong viễn tượng "thách đố" về luân lư tung ra do quyền năng ghê gớm của kỹ thuật mới, đang đe dọa không những các quyền lợi căn bản của con người, mà ngay cả bản chất sự sống của nhân loại. Người giáo dân, nhờ sự giúp đỡ của toàn thể Giáo Hội, phải nhận lấy trọng trách để làm cho văn hoá giữ được các nguyên tắc của một nền nhân bản xác thực nguyên vẹn; như thế việc cổ vơ và bênh vực nhân quyền mới có được một nền móng đầy sinh lực và vững chăi ngay trong bản chất của nó. một bản chất đă được mặc khải cho con người qua Phúc âm. (140)

Ngày nay là lúc cấp bách mọi người phải tỉnh thức trước hiện tượng tập trung quyền lực kỹ thuật. V́ sự tập trung này có dụng ư tráo trở không những bản chất của sự sống mà ngay cả nội tại của lương tâm con người và cách sống của nó, khiến cho việc kỳ thị và khinh rẻ nhiều dân tộc trở thành trầm trọng.

 

Tự do kêu cầu danh Chúa

39. Tôn trọng phẩm giá con người đó là bênh vực và cổ vơ tôn trọng nhân quyền, và đồng thời đ̣i hỏi phải nh́n nhận phạm vi tôn giáo của con người. Đây không chỉ đơn giản là một đ̣i hỏi "tín ngưỡng", nhưng là một đ̣i hỏi tự nó không thể bị tiêu diệt của thực thể con người. Mối liên quan với Thiên Chúa là một yếu tố cấu tạo nên "bản chất" và "cuộc sống" con người: Chính trong Thiên Chúa mà "chúng ta được sống, được cử động và được hiện hữư' (Acts. 17:28) . Nếu không phải mọi người đều chấp nhận chân lư, th́ ít nữa ai chấp nhận đều có quyền buộc kẻ khác phải tôn trọng Đức Tin của họ, tôn trọng sự lựa chọn đời sống của họ, hoặc cá nhân hay đoàn thể. Đó là quyền tự do lương tâm và tự do tôn giáo, công nhận quyền lợi này là cả một lợi ích cao cả nhất và là một trong những bổn phận nặng nề nhất của mỗi dân tộc, nếu dân tộc này muốn bảo đảm lợi ích của cá nhân và của xă hội: "Tự do tôn giáo, một đ̣i hỏi không thể phá hủy được của phẩm giá con người, là viên đá góc để xây dựng toà nhà nhân quyền, và là một yếu tố không thể thay thế được của lợi ích con người và xă hội, và làm cho con người được phát triển toàn vẹn. Bởi đó tự do tuyên xưng và hành đạo của cá nhân hay của cộng đồng là một yếu tố căn bản để con người chung sống hoà b́nh... Quyền tự do tôn giáo về mặt dân luật và xă hội, v́ nó thuộc phạm vi thâm sâu của tinh thần, nên nó là điểm tham chiếu, một cách nào đó, nó trở nên thước đo lường của các quyền lợi căn bản khác".(141)

Thượng Hội Đồng Giám Mục đă không lăng quên một số đông các anh chị em chưa được hưởng quyền tự do và đang phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn, với nạn bỏ rơi, với đau khổ và bắt bớ, và có khi phải chết v́ Đức Tin. Một số đông trong họ là giáo dân Truyền bá Phúc âm và làm chứng nhân đời sống Công Giáo trong đau khổ và tử đạo, đó là tột đỉnh của việc tông đồ của các môn đệ Chúa Kitô, cũng như t́nh yêu của Chúa Giêsu đến hy sinh mạng sống phát sinh nguồn mạch đầy sức sống lạ thường để xây dựng Giáo Hội. Cây nho thần bí như thế tỏ ra rất đầy sinh khí như Thánh Augustinô nói: "Cây nho này như các Tiên Tri và chính Chúa đă loan báo trước, tỏa ra trên khắp thế giới cành cây của nó nặng trĩu hoa trái và nó ngày càng thêm sinh lực nếu càng được tưới thêm bằng máu tử đạo”. (142)

Toàn thể Giáo Hội hết ḷng biết ơn về thí dụ và ơn này. Kitô-hữu đă hy sinh mạng sống để đem lại một lư do đổi mới nghị lực đời sống thánh thiện và tông đồ. V́ thế các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhận thấy có bổn phận cách riêng "phải cám ơn các người giáo dân đang sống kiên cường chứng nhân Đức Tin, trung thành hợp nhất với Giáo Hội, dầu phải bị chèn ép và thiếu thốn linh mục. Họ liều bỏ tất cả ngay cả mạng sống. Như thế giáo dân đă làm chứng cho đặc tính căn bản của Giáo Hội, là: Giáo Hội sinh bởi ơn nghĩa Chúa và tỏ ra cao cả trong máu tử đạo." (143)

Tất cả những ǵ chúng ta bàn đến về việc tôn trọng phẩm giá con người, về việc nh́n nhận nhân quyền, mỗi người cũng như mỗi Kitô-hữu đều có trách nhiệm. Nhưng chúng ta cũng phải biết rằng vấn đề này có tầm mức quốc tế v́ là một vấn đề liên hệ đến đoàn người đông đảo, có khi cả một dân tộc bị cướp đoạt quyền lợi căn bản. Những h́nh thức bất b́nh đẳng này đang phát triển giữa các "thế giới" khác nhau đă bị tố cáo rành mạch trong Thông Điệp "Sol-licitudo rei socialis" (Mối lo ngại về t́nh trạng xă hội).

Việc tôn trọng nhân vị con người vượt trên đ̣i hỏi luân lư cá nhân, v́ nó là một tiêu chuẩn nền tảng, là cột trụ, là nền móng xây cơ cấu xă hội, v́ mục tiêu xă hội là con người.

Như thế, trọng trách phục vụ xă hội có liên quan mật thiết với trọng trách phục vụ con người. Đó là định nghĩa sứ mệnh đem đạo vào đời mà các tín hữu giáo dân được gọi để hoàn thành theo cách thế riêng biệt của ḿnh.

 

 

Gia đ́nh: nơi đầu tiên để học dấn thân làm việc xă hội

40. Nhân vị con người đă sẵn có tầm vóc xă hội trong cơ cấu tự nhiên của nó, v́ tự thâm tâm, nó được kêu gọi để sống hiệp nhất và hiến thân cho kẻ khác: "Thiên Chúa, lo lắng săn sóc mọi người như một hiền phụ đă muốn cho mọi người thành một gia đ́nh và đối đăi với nhau như anh em". (144) Như thế, xă hội là kết qủa và là dấu chỉ của đặc tính xă hội của con người, nó chỉ thàmh một thực thể hoàn toàn khi nào nó trở thành một cộng đồng nhân vị.

V́ thế người tín hữu giáo dân dấn thân làm việc tông đồ trong trật tự trần thế có nghĩa là phục vụ cá nhân con người, cá nhân duy nhất và không ai có thể thay thế được, cũng có nghĩa là phục vụ tất cả mọi người.

Vợ chồng và gia đ́nh, đó là biểu hiệu đầu tiên, nguyên thủy của tầm vóc xă hội con người. "Nhưng Thiên Chúa không dựng nên con người đơn độc: từ nguyên thủy, "Ngài dựng nên một nam một nữ" (Gn. l:27). Xă hội gồm một nam một nữ đó là biểu lộ đầu tiên của sự hiệp thông người với người". (145) Chúa Ǵêsu đă để ư đem lại phẩm giá cho vợ chồng và nền tảng vững chắc cho gia đ́nh (Mt. 9:3-9) Thánh Phaolô đă cho chúng ta thấy mốl liên quan sâu xa giữa hôn nhân với mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội . (Eph.5.22 và 6.4, Col. 3:18-21; 1 Pt. 3:1-7).

Vợ chồng và gia đ́nh là nơi đầu tiên để các tín hữu giáo dân dấn thần vào xă hội. Nhưng hành động dấn thân này chỉ có ư nghĩa khi họ xác tín về giá trị duy nhất và không thay thế được của gia đ́nh trong việc phát huy xă hội và Giáo Hội. Gia đ́nh là chiếc nôi của sự sống và t́nh thương, trong đó con người "chào đời" và "lớn lên". Gia đ́nh v́ thế là tế bào nền tảng của xă hội. Cộng đồng nhỏ bé này phải được lo lắng săn sóc đặc biệt, nhất là mỗi khi ḷng ích kỷ của con người, các chiến dịch chống sinh sản, và t́nh cảnh khó nghèo khốn khổ về phương diện vật chất, văn hóa và luân lư. Nhất là tâm trạng t́m kiếm lạc thú, chạy đua tiêu thụ làm cho khô cạn các nguồn mạch sự sống, trong lúc các ư thức hệ, các hệ thống khác nhau, cũng như các h́nh thức bất cần sự sống hay thiếu săn sóc phá hoại vai tṛ giáo dục riêng của gia đ́nh.

Việc tông đồ của các tín hứu giáo dân trước tiên là làm cho gia đ́nh ư thức được nguyên tính của ḿnh như nền tảng căn bản đầu tiên của xă hội, và ư thức được vai tṛ của ḿnh trong xă hội, để mỗi ngày mỗi đóng vai tṛ chủ động và trách nhiệm cho sự trưởng thành của ḿnh và tham gia vào đời sống xă hội. Như vậy gia đ́nh có thể và phải đ̣i hỏi mọi người, nhất là chính quyền, phải tôn trọng các quyền lợi của ḿnh để cứu văn ḿnh và cứu văn xă hội.

Tất cả những điều viết về gia đ́nh có liên quan đến sự phát triển xă hội (146) trong bức Tông Huấn về Gia Đ́nh (Familiaris consortio), và những ǵ Giáo Hội đă nói trong Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1980 trong "Hiến Chương các Quyền lợi của Gia Đ́nh", đă trở thành một chương tŕnh hoạt động đầy đủ và có cơ cấu cho tất cả các tín hữu giáo dân theo danh nghĩa mỗi người đang lưu tâm cổ vơ các giá trị và các đ̣i hỏi của gia đ́nh.

Chương tŕnh này càng phải cấp tốc thực hiện một cách quyết liệt v́ các đe dọa làm lung lạc và phá tan gia đ́nh ngày càng trầm trọng, cũng như ngày càng trở nên nặng nề và hệ thống hóa chiều hướng muốn loại bỏ gia đ́nh và tiêu diệt vai tṛ quan trọng của nó đối với xă hội.

Như kinh nghiệm cho thấy, văn minh và t́nh liên đới các dân tộc một phần lớn tuỳ thuộc ở phẩm cách tốt xấu của gia đ́nh. Như thế việc tông đồ gia đ́nh mang một giá trị xă hội không thể so sánh được. Giáo Hội rất xác tín về điều này, v́ biết rằng "tương lai của nhân loại phải đi qua gia đ́nh". (147)

 

Đức ái là linh hồn, là sự nâng đỡ của t́nh liên đới

41. Việc phục vụ xă hội diễn tả và thực hiện bằng nhiều cách thế khác nhau, có những cách tự do riêng tư hoặc được quy định theo một thể chế, có việc nhằm phục vụ từng nhóm người hoặc từng cộng đồng.

Toàn thể Giáo Hội từ bản chất của ḿnh đă được trực tiếp kêu gọi phục vụ đức ái: "Giáo Hội thánh thiện đặt bữa ăn thân t́nh "Agape" đi liền với bữa Tiệc Thánh Thể để biểu lộ sự hợp nhất hoàn toàn trong t́nh yêu thương chung quanh Chúa Kitô. Như vậy, bất cứ thời đại nào, người ta cũng nhận ra Giáo Hội nhờ t́nh yêu này, và Giáo Hội đă tự đảm nhận những công tác bác ái như là nhiệm vụ và quyền lợi bất khả di nhượng của ḿnh, dầu Giáo Hội vẫn hân hoan trước những sáng kiến của người khác. V́ thế, Giáo Hội đặc biệt đề cao ḷng thương xót đối với người nghèo đói bệnh tật, cũng như những công tác mệnh danh là từ thiện và tương trợ để xoa dịu nỗi thống khổ của nhân loại". (148) Đức bác ái đối với anh em, thực hiện dưới h́nh thức các việc từ thiện thể xác hay tinh thần, h́nh thức đă có từ xưa nhưng vẫn luôn luôn mới mẻ, đó là nội dung cấp thời thường xuyên của hoạt động đem đạo vào đời của các tín hữu giáo dân. Khi thi hành bác ái đối với anh em, người tín hữu giáo dân sống và nêu cao sự tham gia vào vương quyền của Đức Kitô, nghĩa là tham gia vào quyền năng của Con Người là Đấng "không đến để hưởng thụ nhưng để phục vụ" (Mk. 10. 45). Họ sống và nêu cao vương quyền một cách rất đơn giản, theo tầm mức của mọi người và mọi thời đại, v́ Đức ái là một ơn huệ cao cả nhất Chúa Thánh Thần ban để xây dựng Giáo Hội (1 Cor. 13:13) và để đem lại lợi ích cho nhân loại. Đức ái đem lại sinh lực và nâng đỡ cho t́nh liên đới sống động, lưu tâm đến mọi nhu cầu của con người.

Một Đức ái như thế không chỉ được nhận thức do riêng cá nhân mà c̣n cần thiết phải được nhận thức do các đoàn thể, và các cộng đồng nữa. Không một ai cũng không một cái ǵ có thể thay thế nó được, cho đến cả các thể chế hay sáng kiến công cộng, là những tổ chức chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của một dân tộc thôi, những nhu cầu thường rất trầm trọng và lớn lao trong thời đại này. Ngược lại, Đức ái này càng khẩn thiết hơn, khi mà các thể chế từ thiện đă trở nên qúa phức tạp trong tổ chức và có tham vọng nắm trong tay quyền quản lư hết tất cả mọi phạm vi. Cuối cùng trở nên vô hiệu bởi tổ chức quan liêu, bởi tinh thần làm việc quan lại, bởi ḷng tham lợi quá đáng, và rồi không c̣n ai lưu tâm đến nữa.

Chính trong hoàn cảnh này đă xuất hiện và lan tràn nhất là trong xă hội có tổ chức, những h́nh thức tự nguyện phục vụ công tác. Tự nguyện là cách làm tông đồ mà người tín hữu giáo dân, nam cũng như nữ, đóng vai tṛ chính yếu. Họ xả thân quên ḿnh cho những người anh em từng bị các tổ chức tự cho ḿnh là v́ xă hội bỏ rơi họ.

 

Đời sống xă hội : Cho mọi người và v́ mọi người

42. Đức ái để yêu thương và phục vụ con người không được tách rời khỏi công lư. Cả hai theo cách riêng biệt của ḿnh đ̣i buộc mọi người phải hoàn toàn công nhận thực sự các quyền lợi của con người, v́ xă hội với các cơ cấu và thể chế được đặt ra v́ con người.(149) Để đem đời sống Kitô hữu vào trật tự trần thế, nghĩa là "đem đạo vào đời" theo ư nghĩa là phục vụ con người và xă hội, các tín hữu giáo dân tuyệt đối không thể từ chối tham gia vào "chính trị", nghĩa là vào các hoạt động nhiều sắc thái, kinh tế, xă hội, lập pháp, hành chánh văn hóa, có mục đích cổ vơ công ích một cách có cơ chế. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă nhiều lần qủa quyết điều này là mọi người và mỗi người có quyền lợi và bổn phận phải tham gia vào chính trị dưới nhiều h́nh thức khác nhau và bổ túc cho nhau, trên nhiều mức độ khác nhau cũng như trong các bổn phận và trách nhiệm khác nhau. Chúng ta thường nghe những nhà cầm quyền, quốc hội, giai cầp cai trị và các đảng phái chính trị bị tố cáo là nhứng kẻ lợi dụng thời cơ, tôn thờ quyền bính, ích kỷ tham nhũng. Chúng ta cũng thấy dư luận quần chúng đó đây bảo chính trị chỉ là nơi vô luân lư. Tất cả lời khinh khi này không cách nào bào chữa được cho người Công Giáo trốn tránh chính trị hay nghi ngờ việc chung.

Ngược lại, những lời sau đây của Công Đồng Vaticanô II rất có ư nghĩa: "Giáo Hội ca ngợi và quư trọng việc làm của những người, v́ công ích mà dấn thân phục vụ con người và lănh nhận gánh nặng của trách nhiệm này". (150)

Một đường lối chính trị v́ dân v́ nước luôn luôn lấy công ích làm tiêu chuẩn căn bản, v́ công ích là ích lợi của mọi người và của từng người, ích lợi cung ứng và được bảo đảm để mọi cá nhân cũng như đoàn thể tự do chấp nhận với tinh thần trách nhiệm: "V́ thế các tổ chức chính trị chỉ hiện hữu v́ công ích. Chính công ích là lư do tồn tại, ư nghĩa và là căn bản pháp lư cho các tổ chức chính trị. Công ích nơi đây bao gồm tất cả nhứng điều kiện của đời sống xă hội; nhờ những điều kiện này, cá nhân, gia đ́nh và đoàn thể có cơ hội phát triển trọn vẹn và dễ dàng hơn".(151)

Hơn nữa, một đường lối chính trị v́ dân v́ nước phải chọn một tôn chỉ thủy chung là bênh vực và cổ vơ công lư, được hiểu như một "đức tính" mọi người phải có, và cũng là một "sức mạnh" luân lư nâng đỡ bất cứ ai cố gắng hổ trợ các quyền lợi và nghĩa vụ của con người và mỗi người trên nền tảng nhân phẩm.

Kẻ thi hành quyền bính chính trị phải lấy tinh thần phục vụ làm nền tảng. Tinh thần phục vụ này với khả năng và hiệu năng trong việc lănh đạo là điều rất cần thiết để làm cho các hoạt động của các nhà chính trị được "sáng suốt" và "trong sạch" như dân chúng thường đ̣i hỏi một cách rất hợp lư. Muốn thế cần phải thẳng thắn tranh đấu diệt trừ hết mọi dụng ư toan tính như vận động xoay trở, gian trá, nói láo, thụt công quỹ để trục lợi hay mua chuộc, xử dụng các phương cách mờ ám và bất hợp pháp để chiếm đoạt bằng mọi giá duy tŕ và mở rộng quyền hành.

Các tín hữu giáo dân dấn thân vào chính trị phải thẳng thắn tôn trọng sự tự lập của các thực tại trần thế theo nghĩa của Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng: "...Điều rất quan trọng là cần nhận thức chính xác về mối tương quan giữa cộng đồng chính trị và Giáo Hội, nhất là trong một xă hội gồm nhiều thành phần. Cũng cần phải phân biệt minh bạch giữa hành động của các tín hữu hoặc cá nhân hoặc đoàn thể với danh nghĩa công dân dưới sự hướng dẫn của lương tâm Công Giáo, và những hành động của các tín hữu khi họ nhân danh Giáo Hội và hợp nhất với các vị chủ chăn của họ. V́ căn cứ vào vai tṛ và thẩm quyền của ḿnh, Giáo Hội không cách nào bị đồng hoá với một tập thể chính trị và cũng không hề cấu kết với bất cứ hệ thống chính trị nào v́ Giáo Hội vừa là dấu chỉ, vừa là đảm bảo cho tính cách siêu việt của con người".(152)

Đồng thời các tín hữu giáo dân c̣n có nghĩa vụ cấp bách làm chứng nhân cho các giá trị con người và các giá trị Phúc âm liên kết mật thiết với chính các hoạt động chính trị, như sự tự do và công b́nh t́nh liên đới và ḷng tận tụy trung thành, vô vị lợi đối với công ích, t́nh yêu đặc biệt với người nghèo khó và thấp hèn. Muốn thế các tín hữu giáo dân luôn luôn phải t́m nghị lực thiêng liêng trong việc tham gia thực sự vào đời sống Giáo Hội và lấy lư thuyết xă hội của Giáo Hội làm ánh sáng chỉ đạo. Trong công việc nặng nề này họ cần có các công đồng Công Giáo và các vị chủ chăn theo dơi và hổ trợ. (153)

Một đường lối chính trị nhằm phát triển con người phải cần đến t́nh liên đới làm phương tiện và kiểu mẫu. T́nh liên đới này đ̣i hỏi sự tham gia tích cực và ư thức trách nhiệm của mọi người vào đời sống chính trị, từ mỗi một người công dân đến các đoàn thể khác nhau, từ các nghiệp đoàn đến các đảng phái; tất cả chúng ta và mỗi người trong chúng ta đều là kẻ thừa hưởng và là người tham gia tích cực vào chính trị. Trong t́nh trạng này, như Ta đă viết trong Thông Điệp "Nỗi lo âu về t́nh cảnh xă hội" (Sol-licitudo), t́nh hên đới "không phải là một t́nh cảm thương hại mơ hồ hay là một xúc cảm động ḷng trắc ẩn nông cạn trước bao nhiêu khốn khổ của nhiều người xa gần. Ngược lại, đây là một sự dấn thân quyết liệt vững chăi, bền chí để thể hiện công ích. Nói cách khác, để thực hiện lợi ích cho mọi người và mỗi người, để chúng ta tất cả, mang lấy trách nhiệm thực sự cho tất cả." (154)

Trong thế giới hôm nay, t́nh liên đới chính trị phải vượt khỏi ranh giới quốc gia hay một khối quốc gia, nó phải bao gồm cả một chân trời mở rộng trên biên cương lục địa hay thế giới.

Kết quả của hoạt động chính trị liên đới là Hoà b́nh. Đó là điều mọi người ước vọng nhưng c̣n xa vời. Các tín hữu giáo dân không thể khoanh tay ngồi nh́n như kẻ bàng quan lười biếng trước những ǵ phá hoại hay làm tổn thương hoà b́nh: như vũ lực và chiến tranh, tra tấn hay khủng bố, trại tập trung, quân sự hoá chính trị, thi đua vơ trang, đe dọa nguyên tử. Ngược lại, là môn đệ Đức Giêsu Kitô "Vua Hoà b́nh" (Is. 9.5) "Hoà b́nh của chúng ta" (Eph. 2:14) các tín hữu giáo dân phải nhận lănh bổn phận làm "kẻ kiến tạo hoà b́nh" (Mt. 5. 9) bằng một cuộc sống trở về với Chúa và bằng các hoạt động v́ chân lư, v́ tự do, v́ công b́nh và bác ái là những nền móng vững chắc của ḥa b́nh. (155)

Hợp tác với những người thật ḷng đi t́m hoà b́nh và xử dụng những cơ quan riêng biệt và các thể chế quốc gia và quốc tế, người tín hữu giáo dân phải cổ vơ một nền giáo dục căn bản để chống lại với một nền văn hoá ích kỷ, hận thù để phát huy nền văn hoá liên đới trên mọi b́nh diện. V́ sự liên đới này "là con đường của hoà b́nh và của phát triển".(156) Trong viễn tượng này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă kêu mời người Công Giáo phải tống khứ mọi h́nh thức vũ lực, cổ vơ thái độ đối thoại, hoà b́nh và kêu mời họ dấn thân để kiến tạo một trật tự xă hội và quốc tế công b́nh. (157)

 

Đặt Con người vào trung tâm điểm của đời sống kinh tế xă hội

43. Điểm hoạt động căn bản của việc phục vụ xă hội của tín hữu giáo dân, nằm tại vấn đề kinh tế xă hội; ch́a khóa của vấn đề này là tổ chức lao động.

Tính cách trầm trọng hiện tại của vấn đề này, theo cái nh́n chung của sự phát triển và dựa trên đề nghị giải quyết của học thuyết xă hội của Giáo Hội, mà Ta mới nhắc lại trong thông điệp "Nỗi lo âu về t́nh cảnh xă hội" (Sol- licitudo). Ta ước ao tất cả mọi người hăy tham khảo lại nhất là các tín hữu giáo dân.

Trong các điểm quan trọng của học thuyết xă hội của Giáo Hội, có nguyên tắc này: mọi người đều được quyền hưởng của cải trần gian theo ư định của Thiên Chúa. Những thứ này được ban cho con người và mỗi người làm phương tiện để phát triển một đời sống làm người đúng mức. Tư sản là sự thể hiện mục đích ấy và c̣n có công dụng xă hội tự trong bản tính nó. Một cách cụ thể, lao động của đàn ông hay đàn bà là dụng cụ rất thông thường, rất cần thiết để phát triển đời sống kinh tế, dụng cụ này là một quyền lợi và một nghĩa vụ đối với mỗi người. Tất cả những điều này thuộc về sứ mệnh của người tín hữu giáo dân một cách đặc biệt. Mục đích và tiêu chuẩn của sự hiện diện và hoạt động của họ được Công Đồng Vaticanô II đúc kết như sau: "Ngay trong đời sống kinh tế xă hội, phẩm giá cũng như ơn gọi toàn diện của con người và lợi ích của toàn thể xă hội phải được tôn trọng và thăng tiến. V́ con người là tác giả, là tâm điểm và mục đích của tất cả đời sống kinh tế xă hội " (158)

**Giữa bao nhiêu biến đổi của thế giới lao động và kinh tế đang bị đảo lộn, anh em tín hữu giáo dân phải là kẻ tiền phong đứng ra t́m các giải pháp cho nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng, tranh đấu để chấm dứt các bất công do các tổ chức bất công của lao động, cố gắng làm cho nơi làm việc trở thành một nơi sống của cộng đồng nhân vị được kính trọng v́ đặc tính và quyền lợi tham gia của các nhân vị, và phải hết ḿnh phát triển những mối giây liên đới mới giữa những anh em cùng làm chung một việc, giúp sáng kiến về h́nh thức kinh doanh mới, và thúc đẩy duyệt lại các hệ thống thương mại, tài chánh và trao đổi kỹ thuật.

Để thực hiện điều này, các tín hữu giáo dân phải chu toàn bổn phận theo khả năng nghề nghiệp một cách ngay thẳng, với tinh thần công giáo như là phương tiện thánh hóa bản thân, (159) theo lời chỉ dạy của Công Đồng: "Nhờ việc làm, con người theo lệ thường là có ư nuôi sống ḿnh và gia đ́nh, liên kết với anh em và phục vụ họ, có thể thực thi bác ái đích thực và góp công vào việc kiện toàn công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa. Hơn nữa chúng tôi cho rằng nhờ việc làm của ḿnh, con người cộng tác vào chính công cuộc cứu rỗi của Chúa Giêsu Kitô, Đấng đă nâng cao giá trị của việc làm khi Ngài làm việc với chính hai bàn tay của ḿnh tại Nagiarét".(160)

Đi đôi với đời sống kinh tế xă hội, ngày nay lại xuất hiện thêm vấn đề ngày càng gay go, đó là vấn đề "Môi sinh" (Ecological). Không ai chối căi được là con người đă nhận lănh bởi Thiên Chúa trách nhiệm "chế ngự" các tạo vật và "vun trồng mảnh vườn" thế giới. Những nghĩa vụ này con người phải chu toàn với một ḷng tôn trọng h́nh ảnh của Thượng Đế mà họ đă lănh nhận với t́nh yêu và lư trí, phải có trách nhiệm về các ơn Chúa đă ban tràn trề và c̣n tiếp tục ban cho họ. Con người làm chủ một ơn mà họ phải truyền lại cho các thế hệ mai sau, ơn ấy phải làm cho nó tất đẹp hơn nữa nếu có thể. V́ các thế hệ này cũng là những người được quyền nhận lănh các ân huệ của Chúa: "Việc chế ngự thụ tạo Thiên Chúa đă ban cho người ... không phải là một quyền độc đoán, và chúng ta không thể nói đến tự do "xử dụng và lợi dụng" hoặc sắp đặt sự vật như ư ḿnh muốn. Khi Thiên Chúa cấm Adong và Evà "ăn trái cấm" (Gn. 2:16-17), điều ấy có nghĩa là trong khuôn khổ các tạo vật hiện hữu... Chúng ta không phải chỉ vâng theo luật lệ luân lư không thể bỏ qua các nhận xét liên quan đến việc xử dụng các yếu tố thiên nhiên, đến việc phải tái tạo các nguồn tài nguyên và hậu quả của một nền kỹ nghệ vô trật tự. Một lần nữa các nhận xét này đề nghị với lương tâm chúng ta phải lưu ư đến b́nh diện luân lư của phát triển ". (161)

 

Phúc âm hóa văn hóa và các nền văn hóa của con người

44. Việc phục vụ con người và xă hội được diễn tả và thực hiện qua việc tạo nên và truyền thông văn hóa, một trong những nghĩa vụ nặng nề cho con người sống chung và tiến hóa của xă hội ngày nay. "Văn hóa" được Công đồng hiểu nghĩa như sau: "Theo nghĩa tổng quát, chữ "văn hóa" ám chỉ bao gồm tất cả những ǵ con người dùng để trau giồi các tài năng của tâm hồn và thể xác; cố gắng chế ngự trái đất bằng hiểu biết và lao động; làm cho đời sống xă hội, đời sống gia đ́nh cũng như đời sống chính trị trở thành nhân đạo hơn nhờ sự tiến bộ trong các tập tục và định chế, sau hết diễn tả, thông truyền và bảo tồn những kinh nghiệm tinh thần và hoài băo lớn lao của các thời đại, để giúp cho nhiều người và toàn thể nhân loại tiến bộ hơn" (162) Theo nghĩa này, văn hóa phải được xem như là của chung của mỗi dân tộc, là sự diễn tả phầm giá, tự do và óc sáng tạo của họ, và là chứng tá chặng đường lịch sử. Chỉ khi nào nó đi vào ḷng văn hóa và qua một nền văn hóa, th́ Đức tin Công giáo mới thực sự tham dự vào lịch sử và kiến tạo lịch sử. Trước một nền văn hóa xem ra lạc xa đức tin công giáo và có khi trái ngược với các giá trị nhân bản,(163) cũng như đứng trước một thứ văn hóa khoa học và kỹ thuật là văn hóa bất lực để trả lời cho những khát vọng chân lư và điều thiện đang nung nấu tâm hồn con người, Giáo Hội rất ư thức bổn phận cấp bách, nhất là về phương diện mục vụ, phải lưu tâm đặc biệt đến văn hóa.

V́ thế Giáo Hội yêu cầu các tín hữu giáo dân phải hiện diện một cách can đảm và với óc sáng tạo thông minh, trong các chức vụ quan trọng của văn hóa như học đường, đại học, trung tâm nghiên cứu nhân bản. Sự hiện diện này không chỉ có mục đích nh́n nhận hay thanh lọc các yếu tố của văn hóa hiện có bằng những phê b́nh khôn ngoan, mà c̣n có ư làm tăng giá trị của nó nhờ kho tàng phong phú của Phúc âm và Đức Tin công giáo. Những điều Công Đồng Vatican II viết về mối liên lạc giữa Phúc âm và văn hóa đều đúng với sự kiện lịch sử không thay đổi và đồng thời là một lư tưởng hoạt động thức thời và khẩn thiết. Đây là một chương tŕnh quan trọng Giáo Hội phải đặc biệt chịu trách nhiệm nhất là các tín hữu giáo dân. "Tin Mừng của Chúa Kitô không ngừng đổi mới đời sống và văn hóa của con người đă sa ngă, chống lại và loại bỏ những sai lầm và tai họa phát sinh từ sức quyến rũ thường xuyên của tội lỗi luôn luôn đe dọa. Phúc âm không ngừng tinh luyện và nâng cao phong hóa các dân tộc. Những đức tính của mọi thời đại và mọi dân tộc được Phúc âm làm cho phong phú từ bên trong, được củng cố, bổ túc và tái tạo trong Chúa Kitô nhờ những ân huệ bởi Trời. Như thế, trong khi chu toàn bổn phận riêng, Giáo Hội cũng đồng thời thúc đẩy và góp phần vào công cuộc phát triển văn hóa nhân loại, và nhờ hoạt động của ḿnh, ngay cả trong các nghi lễ phụng vụ Giáo Hội giáo dục cho con người đạt tới tự do nội tâm".(164)

Ở đây cũng nên nhắc lại những lời thật ư nghĩa Tông Huấn của Đức Phaolô VI "Phải rao truyền Phúc âm" (Evangehi nuntiandi) khi nhờ thần lực Sứ điệp của Thiên Chúa, mà Giáo Hội rao truyền (Rom.11:16, 1 Cor.1:18, 2:4), Giáo Hội t́m cách cải hóa lương tâm cá nhân và lương tâm con người, cải hóa hoạt động, đời sống và cảnh vực thực tại của con người. Hiện giờ sinh hoạt của nhân loại biến đổi. Đối với Giáo Hội, vấn đề không có nghĩa là rao giảng Phúc âm cho từng vùng đất mỗi ngày càng rộng lớn, hoặc cho các dân tộc ngày càng đông đảo, nhưng là đạt đến và nhờ sức mạnh Phúc âm chuyển hướng tiêu chuẩn phán đoán, các giá trị quyết định, các trọng tâm sinh hoạt, các đường hướng tư tưởng, các nguồn cảm hứng, và lối sống của nhân loại khi nó đối ngược với Lời Chúa và chương tŕnh cứu rỗi. Tóm lại : Phúc-âm-hóa không phải như một cách trang trí, một lớp sơn bên ngoài, nhưng bằng một cách sống chết, thấm tận xương tủy, nghĩa là Phúc-âm-hóa các nền văn hóa của con người. Sự đổ vỡ giữa Phúc âm và văn hóa đó là thảm kịch của thời đại chúng ta, và cũng đă là thảm kịch của các thời đại xưa. V́ thế phải cố sức để thực hiện Phúc- âm-hóa văn hóa, hay nói đúng hơn các nền văn hóa". (165)

Con đường hiện tại rất thuận lợi cho việc cấu tạo và trao đổi văn hóa là các phương tiện truyền thông xă hội . (166) Thế giới của truyền thông xă hội, nhờ sự phát triển mau lẹ của các phát minh và nhờ ảnh hưởng của nó bao gồm không gian và đồng thời sâu đậm trên tâm trạng và phong tục con người, nó đă trở thành một ranh giới mới cho sứ mệnh của Giáo Hội. Đặc biệt trách nhiệm nghề nghiệp của các tín hữu giáo dân trong địa hạt này, hoặc là trách nhiệm với danh nghĩa cá nhân hay trách nhiệm với danh nghĩa các thể chế cộng đồng, bất cứ trên danh nghĩa nào, trách nhiệm họ phải được nh́n nhận với toàn giá trị của nó, và phải được nâng đỡ về mặt vật chất, tinh thần và mục vụ liên quan đến việc xử dụng các phương tiện truyền thông. Nghĩa là việc sản xuất chương tŕnh hay việc thâu nhận các chương tŕnh ấy, chúng ta cần phải giáo dục óc phê b́nh ưa chuộng sự thật và đồng thời hành động nhằm bênh vực tự do và tôn trọng phẩm giá con người, và hỗ trợ nền văn hóa chân thực của các dân tộc, bằng cách can đảm khước từ mọi h́nh thức độc quyền và tráo trở.

Trách nhiệm tông đồ của người tín hữu giáo dân không chỉ dừng lại ở vị thế bênh vực mà thôi: trên khắp mọi nẻo đường thế giới, ngay trên lănh vực báo chí, điện ảnh, phát thanh, truyền h́nh, Phúc âm Cứu rỗi phải được loan truyền cho mọi người.

 

CHÚ THÍCH

120-Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, 1.----------121- tld 30

122- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam actuositatem, 10

123- Phaolô VI - Tông huấn Evangelii Nuntiandi, l4 AAS 68 (1976), 13

124- Gioan-Phaolô II - Bài giảng vào ngày nhận chức Giáo hoàng (22-10-1978), AAS 70 (1978) 947.

125- Propositio, 10         ------126- Vaticanô II - Sắc lệnh Ad Gentes, 20; xem tld 37

127- Propositio, 29.            ----128- Vaticanô II - Sắc lệnh Ad Gentes, 21.

129- Prơposito, 30 bis        ----130- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, 5

131- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et Spes, 22        ----132- tld

133- Gioan-Phaolô II . Thông điệp Redemptor hominis, 14, AAS 71 (1979) 284-285.

134- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et Spes, 40-        ----135- Xem tld 12

136- "Nếu chúng ta long trọng mừng ngày Sinh nhật của Chúa Giêsu, đó là v́ chúng ta muốn làm chứng rằng mỗi người là duy nhất và không thể thay thê. Nếu các thống kê của con người, các cách xêp loại, hệ thống v́ chính trị, kinh tế, xă hội, nghĩa là chỉ dựa vào sức người không bảo đảm cho con người có thể sinh ra, sống và hành động như một hữu thể duy nhất và không thể thay thế, th́ Chúa lại bảo đảm việc đó v́ Chúa và trước mặt Chúa, con người luôn là duy nhất và không thể thay thê , là kẻ đă được Chúa nghĩ đến từ đời đời, được chọn từ thuở đời đời; là kẻ đă được gọi và kêu chính bằng tên của ḿnh" (Gioan-Phaolô II- Sứ điệp đầu tiên trong ngày Sinh nhật gửi thế giới: AAS 71, (1979), 66).

137- Vaticanô II - Hiên chế Gaudium et Spes, 27.

138- Gioan-Phaolô II - Tông huấn Familiaris Consortio, 30: AAS 74 (1982) 116.

139- Xem Thánh Bộ Đức tin - Huấn thị Donum vitae về sự tôn trọng đời sống con người, quyền sinh ra và phẩm giá của việc sinh sản. Trả lời cho một số ván đề thời sự (22-202-1987): AAS 80 (1988) 70-102.

140- Propositio, 36.

141- Gioan-Phaolô II - Sứ điệp ngày thế giới ḥa b́nh lần thứ 21-(8-12-1987) AAS 80 (1988) 278-280.

142- Thánh Augustinô - De Cathech-Rud, XXIV,44.          -----143- Propositio, 32

144- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et Spes, 24                -----145- tld 12

146- Gioan-Phaolô II - Tông huấn Familiaris Consortio, 42-48. AAS 74 (1982) 134-140.

l47- tld 85. AAS 74 (1982) 188       --------148- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem,

149- Vl tương quan giữa công b́nh và nhân hậu - Xem Tđ Dives in misericordia, 12, AAS 72 (1980), 1215-1217.

150- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et Spes, 75     -------151- tld 74  ----152- tld 76

153- Xem Propositio, 28

154-- Gioan-Phaolô II - Thông điệp Sollicitudo rei Socialis, 38: AAS 80 (1988) 565-566.

155- Gioan XXIII - Thông điệp Pacem in Terris: AAS 55 (1963) 265-366.

156- Gioan-Phaolô II - TĐ. Sollicitudo rei Socialis, 39: AAS 80 (1988) 568.

157- Xem Propositio, 26            ------158- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et Spes, 63

159- Xem Propositio, 24

160- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et Spes, 67 - Xem Gioan-Phaolo II - Thông điệp Laborem Exercens, 24-27: AAS 73 (1981) 637-647.

161- Gioan-Phaolô II - TĐ. Sollicitudo rei Socialis,, 34, AAS 80 (1988) 560.

162- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et Spes, 53.

163- Xem Propositio, 35     ------164- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et Spes, 58

165- Phaolô VI - Tông huấn Evangelii Nuntiandi,18-20, AAS 68 (1976), 18-19.

166- Xem Propositio, 37

 

@@@@@@@@@@

 

 

Chương IV

 

NHỮNG NGƯỜI THỢ

TRONG VƯỜN NHO CỦA CHÚA

Những người quản lư tốt

các ân sủng muôn mặt của Thiên Chúa

 

TÍNH CÁCH KHÁC BlỆT CỦA CÁC ƠN GỌl

45. Theo dụ ngôn của Phúc âm, "người chủ vườn nho" mời những người thợ đến vườn nho của ḿnh vào những giờ khác nhau trong ngày: nhiều người đến vào lúc b́nh minh, một số vào khoảng chín giờ sáng, số khác nữa đến vào lúc gần trưa và ba giờ, những kẻ cuối cùng vào khoảng năm giờ chiều (Mt. 20:1 và kế tiếp). Khi chú giải trang Phúc âm này, Thánh Grêgônô Cả nghĩ rằng những giờ khác biệt đó tương ứng với những giai đoạn của tuổi đời; Ngài nói: "Ta có thể áp dụng sự khác biệt của các giờ vào những giai đoạn của đời sống con người".

Theo đó, ban sáng tượng trưng cho tuổi thiếu thơ. Giờ thứ ba tiếp theo đó có thể tượng trưng cho tuổi thanh niên: mặt trời vươn lên, có nghĩa là nhiệt huyết của tuổi trẻ tràn đây. Giờ thứ sáu, là tuổi trung niên: mặt trời ở ngay trên đỉnh đầu, là tuổi của sức sống sung măn. Tuổi bắt đầu già tượng trưng cho giờ thứ chín, vào tuổi này nghị lực thanh xuân bắt đầu ṃn mỏi không khác h́nh ảnh mặt trời từ từ ngă về hướng Tây. Giờ thứ mười một chỉ những người đă cận kề ngày cuối cùng của cuộc đời ḿnh. Như vậy, những người thợ được gọi đến vườn nho vào những giờ khác nhau, là h́nh ảnh giúp ta hiểu rằng có người được gọi sống cuộc sống hoàn thiện ngay ở tuổi thơ, có người vào tuổi vị thành mên, người khác vào vào thời kỳ trưởng thành, và kẻ khác nữa lúc đă về già. (167)

Chúng ta có thể dùng lời diễn giải của Thánh Grêgôriô Cả để áp dụng rộng răi hơn vào tính cách đa dạng, phong phú của những người có mặt trong Giáo Hội ; mỗi một người và tất cả mọi người đều được mời gọi để hoạt động cho nước Thiên Chúa tỏ hiện theo cách thức khác nhau tùy theo từng hoàn cảnh, theo những đoàn sủng và những chức vụ khác nhau. Sự khác biệt này không phải chỉ dựa vào tuổi tác, nhưng c̣n tùy thuộc vào sự khác biệt của phái tính, tài năng, và tư cách, cũng như liên hệ đến những ơn gọi và hoàn cảnh của từng người. Tính chất đa diện này khiến cho đời sống Giáo Hội linh động và cụ thể hơn.

 

TUỔl TRẺ, TRẺ EM VÀ NGƯỜl LƠN TUỔI

Tuổi trẻ, hy vọng của Giáo Hội

46. Thượng Hội Đồng đă đặc biệt lưu ư đến tuổi trẻ. Và thật vậy, tại nhiều quốc gia trên thế giới, giới trẻ chiếm một nửa dân số, và thường cũng là một nửa số của Dân Chúa trong các quốc gia đó. Nh́n vào khía cạnh này, giới trẻ đă tạo được một sức mạnh phi thường và trở thành một thách đố lớn lao cho tương lai của Giáo Hội. V́ qua giới trẻ, Giáo Hội nh́n thấy con đường hướng về tương lai đón chờ ḿnh, và t́m gặp nơi đó h́nh ảnh nhắc nhở về chính tuổi thanh xuân đầy phấn khởi do thần khí Đức Kitô không ngừng làm phong phú đời sống Giáo Hội. Chính trong ư nghĩa đó Công Đồng đă định nghĩa những người trẻ là "niềm hy vọng của Giáo Hội".(168)

Trong bức thư gửi thanh thiếu niên nam nữ thế giới, ngày 31 tháng 3 năm 1985, Ta nói rằng: "Giáo Hội nh́n lớp người trẻ, đúng hơn, một cách đặc biệt, Giáo Hội nh́n lại tuổi trẻ của ḿnh trong mỗi người và chung toàn giới trẻ. Việc đó đă thể hiện ngay từ đầu vào thời các Tông đồ. Nhưng lời của Thánh Gioan trong thư thứ nhất là một trong những bằng chứng đặc biệt: "Hỡi các bạn trẻ, Cha viết cho các bạn, v́ các bạn đă thắng được sự ác. Hỡi thanh thiếu niên nam nữ, Cha viết lời này v́ các con đă biết Chúa Cha..., Cha viết cho các con v́ các con là những kẻ dũng cảm, và Lời Chúa cư ngụ trong các con" (1 Jn. 2:13 và tlếp theo...). Trong thế hệ chúng ta, vào những ngày cuối cùng của thế kỷ hai mươi, chính Giáo Hội cũng tự nh́n ḿnh qua h́nh ảnh giới trẻ. (169)

Đừng nên nh́n giới trẻ như chỉ là đối tượng của mối lo âu cho Giáo Hội về phương diện mục vụ: Thực ra, họ là những "chủ nhân tích cực, tham dự vào công việc truyền bá Phúc âm và canh tân xă hội;(170) họ cần được khuyến khích để trở thành như thế” . Tuổi trẻ là thời kỳ khám phá đặc biệt sâu đậm về "bản ngă" cá biệt và về một "dự án cuộc đời riêng của ḿnh". Đó là thời kỳ tăng triển phải được thực hiện trong "khôn ngoan, già dặn và ân sủng trước Thiên Chúa và trước người đời" (Lk. 2:52).

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng đă nói rằng: "Cảm thức của những người trẻ thâu nhận một cách sâu xa những giá trị của công bằng, bất bạo động và hoà b́nh. Tâm hồn họ bao dung t́nh huynh đệ, thân hữu và đoàn kết. Họ tận tụy hết ḿnh cho những công cuộc đấu tranh bảo vệ phẩm chất đời sống và bảo vệ thiên nhiên. Nhưng họ cũng mang nặng những lo âu, ê chề, ưu tư và kinh hoàng của thế giới, và thêm vào đó những cám dỗ đặc biệt liên quan đến tuổi họ."(171)

Giáo Hội phải làm sống lại t́nh yêu đặc biệt mà Chúa Giêsu đă từng tỏ ra cho người thanh niên: "Chúa Giêsu nh́n anh tỏ dạ yêu thương" (Mk. 10.21). Đó là lư do tại sao Giáo Hội không ngừng loan báo Chúa Giêsu Kitô, tuyên xưng Phúc âm của Ngài như câu trả lời duy nhất và thỏa đáng cho những khát vọng căn bản nhất của người trẻ, như một đề nghị thiết tha kêu gọi từng người tự dấn thân: "hăy đến theo Ta" (Mk.10.21), một lời đề nghị nói lên sự thông phần vào t́nh yêu Cha Con của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha và việc tham gia vào sứ mệnh Cứu Chuộc nhân loại của Ngài.

Giáo Hội có nhiều điều phải nói với giới trẻ và giới trẻ có nhiều điều để nói với Giáo Hội. Cuộc đối thoại song phương này phải được tiến hành một cách đầy nhiệt tâm, rơ ràng, và can đảm, để xúc tiến việc gặp gỡ giữa các thế hệ và những cuộc trao đổi giữa họ với nhau, và sẽ là một nguồn suối trong mát làm phong phú và trẻ trung cho Giáo Hội và xă hội. Trong sứ điệp gửi giới trẻ, Công Đồng tuyên bố rằng: Giáo Hội nh́n các bạn với niềm tin tưởng và yêu thương... Giáo Hội chính là sự trẻ trung của thế giới... Hăy nh́n Giáo Hội và các bạn sẽ t́m thấy ở nơi đó khuôn mặt của Đức Kitô." (172)

 

**Trẻ thơ và Nước Trời

47. Trẻ thơ là tuyệt đỉnh của t́nh yêu thương tinh tế và bao dung của Chúa Giêsu. Ngài dành riêng cho các em phúc lành của Ngài và hơn thế nữa, Ngài đă hứa Nước Trời cho các em (Mt. 19:13- 15, Mc. 10.14). Đặc biệt, Chúa đă đề cao vai tṛ tích cực mà các em đảm nhận trong Nước Chúa. Các em là biểu tượng hùng hồn, và là h́nh ảnh sáng chói về luân lư và tinh thần, những điều kiện thiết yếu để vào Nước Trời và sống một cuộc đời phó thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa: "Ta nói thật với các con, nếu các con không cải hóa để trở nên như những trẻ nhỏ, các con sẽ không vào được Nước Trời. Ai khiêm nhường như trẻ này sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời" (Mt.18:3-5, Lk. 9. 48).

Trẻ thơ nhắc nhở chúng ta rằng sự tăng triển trong việc truyền giáo của Giáo Hội có nền tảng sống động không phải nhờ vào các phương tiện hay tài năng sức lực của con người, nhưng nhờ vào ân sủng tuyệt đối của Chúa. Đời sống hồn nhiên vô tội và ân sủng của trẻ nhỏ, và ngay cả những khổ đau người ta bắt chúng phải cam chịu, nhờ vào thập giá Đức Kitô, trở thành một nguồn suối làm sung măn sức sống siêu nhiên cho chính các em, và cho toàn Giáo Hội. Tất cả chúng ta phải cảm tạ và ư thức sâu xa về sự kiện này.

Ngoài ra phải nhận rằng ngay ở tuổi này, những khả năng hành động quí giá đă triển nở liên quan đến việc xây dựng Giáo Hội, cũng như nhân-bản-hóa xă hội. Tất cả những điều Công Đồng xác nhận khi nói đến ích lợi của con cái trong gia đ́nh là "Giáo Hội tại gia"; "là phần tử sống động của gia đ́nh, trẻ em theo cách của ḿnh giúp cha mẹ được thánh hóa."(173) Điều này cũng có thể lập lại khi nói đến mối tương quan giữa các em và Giáo Hội địa phương cũng như Giáo Hội hoàn vũ. Thần học gia và cũng là nhà mô phạm của thế kỷ 15, Jean Gerson đă nêu lên sự kiện đó như sau: "Trẻ thơ và thanh niên không phải là một thành phần không đáng kể của Giáo Hội." (174)

 

Bậc cao niên và ơn khôn ngoan

48. Đối với những người già cả, mà thông thường một cách sai lầm bị xem như là những kẻ vô dụng, có khi c̣n được xem là một gánh nặng. Ta nhắc nhở những người này rằng Giáo Hội đ̣i hỏi và chờ đợi nơi họ phải theo đuổi sứ mệnh tông đồ và truyền giáo của họ. Đây không những là một công tác họ có thể làm và phải làm, mặc dầu ở vào tuổi này, nhưng chính v́ ỏ tuổi đó mà sứ mệnh của họ mang một h́nh thái đặc biệt và độc đáo.

Thánh Kinh tŕnh bày cho chúng ta thấy người cao niên như là biểu tượng của những người khôn ngoan và kính sợ Thiên Chúa (Sir. 25.4-6). Với ư nghĩa đó, "ơn huệ" của người già có thể đối với Giáo Hội và xă hội là tạo thành những chứng tá của truyền thông đức tin. (Ps. 44:2, Ex. 12:26-27), bậc thầy khả kính (Sir. 6. 34, 3:11-12) và là người kiến tạo t́nh bác ái.

Ngày nay việc gia tăng con số những người lớn tuổi trong nhiều quốc gia trên thế giới, và t́nh trạng về hưu sớm tạo nhiều cơ hội cho công tác tông đồ của những người lớn tuổi. Đó là một công việc phải chu toàn với nhiều can đảm, phải biết quyết tâm vượt qua cơn cám dỗ muốn thu ḿnh lại, luyến tiếc một dĩ văng không c̣n trở lại nữa, và từ chối dấn thân vào thực tại v́ những khó khăn gặp phải trong một thế giới không ngừng đổi mới. Ngược lại, luôn luôn cần phải ư thức rơ ràng vai tṛ ḿnh trong Giáo Hội và xă hội, bởi v́ vai tṛ này không bị ngưng trệ bởi tuổi đời, trái lại, chỉ là những h́nh thức mới. Thánh Vịnh ca tụng rằng: "Trong tuổi già, họ c̣n sinh hoa trái, họ c̣n đầy nhựa sống và sức trai trẻ, tuyên xưng đức công chính của Thiên Chúa" (Ps. 92:15-16).

 Ta nhắc lại điều Ta đă nói trong ngày Ngân Khánh của các bậc thượng thọ: "Đi vào thời kỳ thứ ba của cuộc đời phải được xem là một đặc ân: không những bởi v́ không phải ai cũng may mắn sống đến tuổi này, nhưng nhất là v́ đây là thời kỳ mà con người có thể nh́n lại quá khứ một cách cụ thể và rơ ràng, hiểu biết nhiều hơn và sống mănh liệt hơn mầu nhiệm phục sinh, trở thành một mẫu mực sống trong Giáo Hội cho toàn thể Dân Chúa... Mặc dầu phải đương đầu với nhiều vấn đề phức tạp, phải chứng kiến sự suy nhược dần dần của thể xác, những thiếu sót của các tổ chức xă hội, những tŕ trệ của luật lệ lỗi thời, những thái độ thiếu thông cảm của một xă hội ích kỷ, vẫn không được nghĩ rằng ḿnh đang đứng ra ngoài lề cuộc sống của Giáo Hội, là những thành phần thụ động của một thế giới quá biến động, nhưng là những chi thể tích cực sinh hoạt của một giai đoạn phong phú của đời sống con người về phương diện nhân loại cũng như về mặt siêu nhiên. Tuổi già vẫn c̣n có sứ mệnh phải hoàn thành, c̣n có nghĩa vụ phải đóng góp. Theo Thánh ư của Chúa, mỗi người là một cuộc sống luôn tiếp nối, từ ánh loé đầu tiên của cuộc đời ḿnh cho đến hơi thở cuối cùng." (175)

 

NỮ GlỚl VÀ NAM GlỚl

49. Các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đă lưu tâm đặt biệt đến t́nh trạng vai tṛ của phụ nữ, trong một ư hướng song phương: Các Ngài nh́n nhận và thêm một lần nữa kêu gọi mỗi người nh́n nhận sự đóng góp cần thiết của nữ giới trong công cuộc xây dựng Giáo Hội và phát triển xă hội. Ngoài ra, Giáo Hội c̣n cố tâm khai triển một cuộc phân tích qui mô hơn về việc tham gia của phụ nữ vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội.

Dựa vào giáo huấn của Đức Gioan XXIII, vị Giáo Hoàng đă nh́n nhận việc nữ giới đă ư thức về chính nhân phẩm của ḿnh, và việc gia nhập của nhiều phụ nữ vào đời sống xă hội như một dấu chứng của thời đại. (176) Trước những h́nh thức hết sức đa dạng về t́nh trạng kỳ thị và cho ra ngoài lề mà phụ nữ phải cam chịu, chỉ v́ họ là nữ giới, các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đă quả quyết nhiều lần và mạnh mẽ cần phải cấp thời bảo vệ và thăng tiến phẩm giá và sự b́nh đẳng của nữ giới đối với nam giới.

Nếu đó là công việc của mỗi người trong Giáo Hội cũng như trong xă hội, th́ đặc biệt đó hẳn là công việc của chính phụ nữ. Họ phải tự cảm thấy cần dấn thân như những kẻ đấu tranh hàng đầu. C̣n có nhiều cố gắng phải thực hiện, ở trong nhiều nơi trên thế giới và trong nhiều môi trường sống khác nhau, để năo trạng bất công và tàn tệ xem thân phận con người như một đồ vật, một món hàng, một dụng cụ phục vụ cho lợi ích vị kỷ, cho việc t́m kiếm khoái lạc, mà phụ nữ là nạn nhân. Do đó, việc nh́n nhận phẩm giá con người của phụ nữ một cách chân thành và rơ rệt là bước đầu phải thể hiện để cổ xúy việc tham dự đầy đủ của nữ giới vào đời sống của Giáo Hội, cũng như cuộc sống xă hội và công cộng.

 Cần phải có một sự đáp ứng dứt khoát hơn cho lời hiệu triệu mà Ta đă kêu gọi trong Tông Huấn Familiaris consortio liên quan đến quá nhiều h́nh thức kỳ thị mà phụ nữ là nạn nhân: "Ta yêu cầu tất cả mọi người phải dấn thân vào một công tác mục vụ đặc biệt mạnh mẽ hơn và sắc bén hơn để những kỳ thị đó dứt khoát phải được xóa bỏ, và đi đến việc chân nhận đầy đủ h́nh ảnh của Thiên Chúa sáng chói ra trong toàn thể nhân loại không phân biệt một ai". (177) Trong ḍng tư tưởng đó, những Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă quả quyết: "Trong sự biểu lộ sứ mệnh của ḿnh, Giáo Hội phải chống lại một cách mạnh mẽ tất cả các h́nh thái kỳ thị và lạm dụng mà phụ nữ là nạn nhân". (178) Và các Ngài c̣n nói: "Phẩm giá phụ nữ, từng bị tổn thương nặng nề trong dư luận quần chúng phải được phục hồi, nhờ vào việc tôn trọng cụ thể các quyền về nhân phẩm con người và nhờ vào việc thực thi giáo lư của Giáo Hội". (179)

C̣n điểm liên quan đặc biệt đến việc tham dự tích cực và có trách nhiệm vào đời sống và sứ mạng của Giáo Hội, th́ cần lưu ư là Công Đồng Vaticanô II đă nói rất rơ trong lời mời gọi sau: "Ngày nay, phụ nữ càng ngày càng dự phần một cách tích cực vào trong tất cả cuộc sống xă hội, cũng v́ thế sự nới rộng việc tham gia của phụ nữ vào các lănh vực khác nhau trong công cuộc tông đồ của Giáo Hội lại rất quan trọng." (180)

Trong thời kỳ hậu Cộng Đồng này, người ta cũng nhận thức nhiều hơn và sâu xa hơn những tài năng và trách nhiệm riêng của phụ nữ, cũng như ơn gọi đặc biệt của họ, sự nhận thức đó được khởi hứng đặc biệt từ Phúc âm và lịch sử Giáo Hội. Thật thế, đối với những ai tin vào Phúc âm, nghĩa là lời nói và gương mẫu của Chúa Giêsu Kitô, vẫn là chốt điểm cần thiết và quyết định. Hơn lúc nào hết trong lịch sử, những điều này cần được phong phú và canh tân hơn.

Dầu không được gọi tham dự chức vụ của Mười Hai Tông Đồ, do đó không ở trong chức linh mục thừa tác, nhiều phụ nữ đă theo Chúa Giêsu trong sứ mạng của Ngài và giúp đỡ các Tông Đồ (Lk. 8.2-3); các bà đă hiện diện bên Thánh Giá (Lk. 23?49) ; các bà đă tham dự trong cuộc an táng Chúa Giêsu (Lk. 23. 55) và sáng Phục Sinh các bà nhận và truyền tin Chúa Sống lại (Lk. 24:l-10); các bà cầu nguyện với các Tông Đồ tại pḥng Tiệc Ly để đón chờ Thánh Linh (Acts. 1:14).

Theo dấu chân của Phúc âm, Giáo Hội ngay từ thời khai nguyên đă vượt ra ngoài tập tục văn hoá đương thời và mời gọi phụ nữ vào những công tác liên quan đến việc rao giảng Phúc âm. Trong các thư của Ngài, Thánh Phaolô nêu tên một số các bà tuỳ vào các chức vụ đặc biệt của mỗi người trong công cuộc phục vụ bên trong các cộng đoàn Giáo Hội đầu tiên (Rom. 16.1-15, Pt. 4:2-3, Col. 4:15, 1 Cor.11:5, 1 Tm. 5.16). Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đă nói: "Nếu việc làm chứng của các Tông Đồ thành lập ra Giáo Hội, th́ việc làm chứng của phụ nữ đă đóng gúp rất nhiều trong việc nuôi dưỡng Đức Tin của các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên." (181)

Cũng như thời khai nguyên và trong tiến tŕnh phát triển Giáo Hội, dĩ nhiên với những khác biệt về h́nh thức và cách thế đă luôn có những phụ nữ đảm trách những vai tṛ lắm lúc quyết định và hoàn thành những công tác có giá trị lớn lao cho Giáo Hội. Đó là cả một sinh hoạt rộng lớn, thường rất khiêm tốn và kín đáo, nhưng không kém phần quyết định trong việc phát huy và thánh hóa của Giáo Hội. Lịch sử đó c̣n cần phải theo đuổi, hơn thế nữa cần phải phổ biến và tăng gia thêm, song song với việc nhận thức về nhân phẩm của nữ giới và ơn gọi của họ một cách rộng răi và bao quát, đồng thời xúc tiến nhanh chóng một "đường lối mới rao giảng Phúc âm" và một "h́nh thức nhân bản" rộng răi hơn trong các tương quan xă hội.

Tổng hơp các chỉ thị của Công Đồng Vaticanô II phản ảnh sứ điệp Phúc âm, cũng như lịch sử Giáo Hội, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă nêu lên "lời khuyến cáo" rơ rệt này: "Bằng chính cuộc sống và bởi sứ mạng của ḿnh, Giáo Hội phải nh́n nhận tất cả các ơn huệ của phái nam cũng như phái nữ, và khai triển áp dụng các ơn huệ đó." (182) Tiếp theo: "Thượng Hội Đồng này tuyên bố rằng Giáo Hội buộc phải nh́n nhận và xử dụng tất cả các ơn huệ kinh nghiệm và khả năng này của nam cũng như nữ để sứ mạng của Giáo Hội được hữu hiệu hơn (Thánh bộ Giáo Lư Đức Tin, Giáo Huấn về sự tự do công giáo và sự giải phóng,72". (183)

 

Các nền tảng nhân chủng và thần học

50. Nếu muốn bảo đảm cho nữ giới những chỗ đứng trong Giáo Hội và trong xă hội, cần phải tôn trọng điều kiện này: phải nghiên cứu đứng đắn và sâu rộng những nền tảng nhân chủng về nam hay nữ tính của con người, nhằm xác định cá tính của nữ giới trong tương quan dị biệt và hỗ trợ với nam giới, và như thế, không những chỉ nhằm truy cứu những vai tṛ và chức phận đảm đang được, nhưng c̣n sâu xa hơn thế nữa, nhằm ư thức cơ cấu của nhân vị và ư nghĩa của nó. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă cảm nhận rơ ràng yêu sách đó khi các Ngài qủa quyết rằng "các nền tảng nhân chủng và thần học cần được nghiên cứu sâu xa nhằm đưa đến giải pháp cho các vấn đề liên quan đến ư nghĩa đích thực và phẩm giá của cả hai phái". (184)

Khi chú tâm khảo sát về các nền tảng nhân chủng và thần học của nữ giới, Giáo Hội xác quyết sự có mặt của ḿnh trong tiến tŕnh lịch sử của các phong trào thăng tiến phụ nữ, và khi truy cứu tận nguồn gốc nhân vị của phái nữ, Giáo Hội đă cống hiến phần đóng góp quí giá nhất. Nhưng trước tiên và c̣n sâu xa hơn, Giáo Hội chủ trương vâng phục Thiên Chúa, Đấng tạo dựng con người "theo h́nh ảnh Ngài", "đă tạo dựng nên một nam và một nữ" (Gn. 1:27); Giáo Hội chủ trương đón nhận lời kêu gọi của Thiên Chúa đ̣i hỏi phải hiểu biết, khâm phục và sống ư định ngay từ "lúc ban đầư" đă ẩn dấu một cách không thể xóa trong chính ngay nhân vị - người nam và người nữ và do đó, trong những cơ cấu mang đầy ư nghĩa và trong nguồn năng động sâu xa của nó. Và đúng thế, ư định đó, một ư định đầy khôn ngoan và yêu thương, cần phải được khai phá trong tất cả sự phong phú của nó. Sự phong phú khởi điểm từ "lúc ban đầư", tuần tự phát huy và thể hiện suốt tiến tŕnh lịch sử cứu độ, và đạt đến đỉnh cao trong "thời viên măn" khi "Thiên Chúa đă sai Con Ngài, sinh bởi một người nữ" (Gal. 4:4). Sự "viên măn" đó vẫn tiếp tục trong lịch sử: việc hiểu biết ư định của Thiên Chúa tiếp diễn và phải tiếp diễn không ngừng trong Đức Tin của Giáo Hội, và cũng nhờ vào cuộc sống của biết bao nhiêu phụ nữ Kitô hữu. Ta cũng không thể bỏ qua phần đóng góp của nhiều bộ môn khoa học nhân văn, và các nền văn hóa khác nhau đem lại nhờ vào một lối suy luận được soi dọi như thế, phần đóng góp đó có thể giúp ta lănh hội và xác định những giá trị, và những yêu sách thuộc bản tính bền vững của người phụ nữ, cũng như những giá trị và những yêu sách liên quan đến tiến hóa lịch sử của các nền văn hóa. Công Đồng Vaticanô II đă nhắc nhở chúng ta điều đó: "Giáo Hội qủa quyết rằng, bởi dưới những thay đổi, có nhiều điều tồn tại măi măi trong Đức Kitô, Đầng tự hữu, hôm qua, hôm nay và muôn đời (Heb. 13:8)". (185)

Những nền tảng nhân chủng và thần học của nhân phẩm người phụ nữ đă được bàn đến trong Tông Thư về phẩm giá và ơn gọi của phụ nữ. Văn kiện đó lập lại, khai triển và chi tiết hơn những suy tư trong bài dạy giáo lư ngày thứ tư bàn về "thần học của thể xác" trong một khoảng thời gian dài, mục đích là để vừa hoàn thành một lời hứa, đă nêu lên trong Thông Điệp Redemptoris Mater (Mẹ Đấng Cứu Thế) (186), và cũng để đáp ứng lời yêu cầu của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng.

Do tính cách thần học Thánh Kinh của bản văn, việc đọc Tông Thư Mulieris dignitatem (Phẩm giá người phụ nữ), có thể làm cho mọi người, nam cũng như nữ, cảm hứng và đặc biệt khích lệ những đại diện của các nền khoa học nhân văn và các bộ môn thần học tiếp tục công tŕnh nghiên cứu phê b́nh, hầu dựa trên nền tảng nhân phẩm của người nam và người nữ, và trong tương quan hỗ tương của hai giới, đào sâu hơn những giá trị và ân huệ đặc biệt của nữ tính, không những trong địa hạt của đời sống xă hội, mà hơn thế nữa trong lănh vực của cuộc sống Kitô hữu và Giáo Hội.

Suy tư về những nền tảng nhân chủng và thần học của nữ tính phải soi rọi và hướng dẫn câu trả lời của Kitô-hữu đối với thắc mắc mà người ta thường đặt ra, và lắm lúc hết sức sắc bén, về "chỗ đứng" mà phụ nữ có thể và phải đứng trong Giáo Hội và trong xă hội.

Từ lời nói và thái độ của Đức Kitô, luôn là mẫu mực cho Giáo Hội, rơ ràng là không hề có một sự kỳ thị nào trên b́nh diện tương quan gắn bó với Chúa Kitô, trong Ngài "không c̣n là người nam hay người nữ, bởi v́ tất cả anh chị em chỉ làm thành một trong Đức Giêsu Kitô" (Gal. 3:28) , và trên b́nh diện thông dự vào cuộc sống và sự thánh thiện của Giáo Hội, như lời tiên tri Joen đă xác chứng một cách kỳ diệu và được thể hiện trong ngày Lễ Hiện Xuống: "Ta đă đổ tràn Thần Khí Ta trên tất cả mọi xác thịt, và con trai và con gái các người sẽ nói tiên tri" (Jl 3:1; Acts.2:17 và tiếp theo...) Người ta cũng đọc được điều đó trong Tông Thư về phẩm giá và ơn gọi của người phụ nữ: "Cả hai người nữ cũng như người nam... đều có thể đón nhận chân lư của Thiên Chúa và t́nh Ngài trong Thánh Linh. Người nam cũng như người nữ đều đón nhận Ngài "đến" mang ơn cứu độ và thánh hóa. " (187)

 

Sứ mệnh trong Giáo Hội và giữa thế giới

51. C̣n về việc tham dự vào sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội, chắc chắn rằng nhờ bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, người phụ nữ - cũng như người đàn ông - tham dự vào ba chức vụ của Chúa Giêsu Kitô - Linh Mục, Tiên Tri và Vua - và do đó có tư cách và phải dấn thân trong công cuộc tông đồ nền tảng của Giáo Hội, đó là việc rao giảng Phúc âm. Ngoài ra, cụ thể hơn, trong việc hoàn thành sứ vụ tông đồ này, người phụ nữ lại được kêu gọi để hưởng dụng những "ân huệ" riêng của họ: Trên tất cả, ơn mang phẩm giá con người, được biểu lộ qua ngôn ngữ và hành động làm chứng cho đời ḿnh, liên hệ mật thiết đến ơn gọi của người phụ nữ.

Trong việc tham dự vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội, người phụ nữ không thể nhận chức linh mục. Đó là một sự an bài Giáo Hội luôn chân nhận nơi ư muốn rơ rệt hoàn toàn tự do và tối thượng của Chúa Giêsu Kitô, khi Ngài chỉ chọn những người trong nam giới để trở thành Tông Đồ của Ngài; (188) là một sự an bài có thể được hiểu qua sự tương giao giữa Chúa Kitô là Phu Quân và Giáo Hội là Hiền Thê của Ngài. (189) Chúng ta đang đứng trên quan niệm về chức vụ, chứ không phải là quan niệm về nhân phẩm hay sự thánh thiện. Thật ra, ta cần phải khẳng định rằng: "Dẫu Giáo Hội có một cơ cấu "phẩm cấp", tuy nhiên cơ cấu này hoàn toàn được xếp đặt để đưa đến việc thánh hóa nhiệm thể của Chúa Kitô". (190)

Nhưng, như Đức Phaolô VI đă nói, nếu "chúng ta không có thể thay đổi thái độ của Chúa chúng ta, hay lời kêu gọi Ngài nói với các phụ nữ, th́ chúng ta lại có thể nh́n nhận và cổ vơ vai tṛ người phụ nữ trong sứ mệnh rao giảng Phúc âm và trong đời sống của cộng đồng Kitô hữu." (191)

Chúng ta cần phải đi từ nhận thức trong lư thuyết về sự hiện diện tích cực và trách nhiệm của phụ nữ trong Giáo Hội, qua việc thực thi nhận thức đó bằng thực hành.

Tông Huấn này phải được đọc trong ư nghĩa rất chính xác như thế, nó được gửi đến những tín hữu giáo dân, bằng cách cố ư phân biệt và lập đi lập lại hai chữ "người nam và người nữ". Hơn nữa Giáo Luật có nhiều dự liệu về việc tham dự của phụ nữ vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội: đó là những dự liệu cần phải được am tường một cách rộng răi hơn, đồng thời phải tôn trọng những khác biệt về cảm thức văn hóa, và những nhu cầu mục vụ được thể hiện hợp thời và minh bạch hơn.

Thí dụ việc tham gia của phụ nữ vào các Hội Đồng mục vụ của giáo phận và giáo xứ, cũng như tham dự vào các phiên họp cấp địa phận hay các Cộng đồng địa phương. Chính trong ư nghĩa đó các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă viết: "Phụ nữ tham dự vào đời sống của Giáo Hội không bị một kỳ thị nào ngay cả trong việc tham khảo và soạn thảo các quyết định". (192) Nơi khác lại c̣n viết: "Nữ giới đă có một chỗ đứng quan trọng trong việc truyền bá Đức Tin và hoàn thành các công tác đủ loại trong đời sống của Giáo Hội, phải được tham dự vào việc soạn thảo các tài liệu mục vụ và những sáng kiến truyền giáo; họ phải được nh́n nhận như là những người hợp tác trong sứ mệnh của Giáo Hội trong gia đ́nh, trong đời sống chức nghiệp và trong cộng đồng xă hội." (193)

Trong lănh vực đặc biệt hơn nữa về việc rao giảng Phúc âm và giáo lư, phải cổ động hơn nữa về việc bổ xung phụ nữ vào các trách vụ trong việc truyền bá Đức Tin, không phải chỉ trong gia đ́nh, nhất là trong các phạm vi khác nhau của môi trường giáo dục, hay nói một cách tổng quát là ở bất cứ đâu đó có sự tiếp nhận Lời Chúa, tiếp nhận sự hiểu biết và truyền thông Lời Ngài, kể cả bằng phương tiện học hỏi, truy cứu và giảng dạy thần học.

Trong khi phát triển rộng răi việc dấn thân vào công việc truyền bá Phúc âm, người phụ nữ sẽ cảm thấy rơ ràng hơn nhu cầu tự ḿnh cần được lănh nhận Phúc âm. Như vậy, bằng cái nh́n được soi dẫn bởi Đức Tin. (Eph. 1:18), người phụ nữ sẽ có thể phân biệt được điều ǵ thật sự tương xứng với phẩm cách và ơn gọi của ḿnh dù dưới chiêu bài "nhân phẩm" hay nhân danh "tự do" và "tiến bộ". Ngược lại những giá trị sai lạc này sẽ đưa đẩy người phụ nữ đến t́nh trạng bất thuận lợi cho việc củng cố các giá trị chân thực. Khiến họ tự mang trách nhiệm về sự suy thoái đạo đức của con người, của môi trường sống và của xă hội. Thực thi một lối "phân biện" như thế là một bước đi cần thiết của lịch sử mà ta không thể tŕ hoăn, và đồng thời đó là một việc làm có thể thực hiện được và thiết yếu phải thực hiện mà phụ nữ Kitô hữu cần tham gia khi họ tham dự vào trách vụ rao giảng của Đức Kitô và của Giáo Hội Ngài. Việc "phân biện" mà Thánh Phaolô nhiều lần nhắc nhở, không phải chỉ là việc đánh giá thực tại, và các biến cố xảy ra theo ánh sáng của Đức Tin, nó c̣n là một quyết định cụ thể và là một cuộc dấn thân tích cực, không phải chỉ ở bên trong Giáo Hội, mà ngay cả trong xă hội con người.

Người ta có thể quả quyết là tất cả các vấn đề của thời đại chúng ta mà Hiến Chế Công Đồng (Vui Mừng và Hy Vọng) đă đề cập đến trong phần thứ hai - những vấn đề mà thời gian trôi qua đă không thể giải quyết, và cũng không thể đơn giản được - các vấn đề này đ̣i hỏi sự hiện diện tích cực của người nữ giới và sự đóng góp tiêu biểu và không thể thay thế của họ.

Đặc biệt, hai trách vụ lớn lao được trao cho người phụ nữ đang được mọi người lưu ư. Trước tiên, trách vụ thể hiện toàn nhân phẩm của ḿnh trong cuộc đời làm vợ và làm mẹ. Phụ nữ ngày nay có nhiều khả năng mới mẻ để hiểu và thể hiện phong phú hơn những giá trị con người Công Giáo hàm chứa trong cuộc sống hôn nhân, và trong kinh nghiệm là cha mẹ. Chính người đàn ông - là chồng và cha trong gia đ́nh - có thể nhờ vậy mà tự sửa sai những h́nh thái bỏ bê cách này hay cách khác, hay chỉ có mặt thất thường hoặc không đầy đủ; hơn thế nữa người đàn ông có thể thắt chặt những tương giao mới mẻ và có ư nghĩa trong việc trao đổi thật sự giữa người với người trong gia đ́nh nhờ vào sự can thiệp thông minh, âu yếm và cứng rắn của người vợ.

Một trách vụ khác là việc bảo đảm lănh vực đạo lư của văn hóa, nghĩa là một lănh vực thật sự con người, đúng hợp với nhân phẩm con người trong đời sống cá nhân và xă hội. Dường như Công Đồng Vaticanô II đă liên kết lănh vực đạo lư của văn hóa và sự tham dự của giáo dân vào sứ mệnh vương giả của Chúa Kitô: "Người giáo dân nên chung sức đem lại cho các cơ chế và các điều kiện sống trên thế giới những bước khai hóa thích hợp, khi chúng tạo nên dịp gây nên tội lỗi, để tất cả các điều đó trở nên thích ứng với những lề luật của công b́nh và thuận lợi cho việc thực thi các nhân đức thay v́ làm trở ngại. Hành động như thế, giáo dân làm cho văn hóa và các việc làm con người thấm nhuần giá trị đạo đức".(194)

Nếu nữ giới tham dự tích cực và có trách nhiệm điều hành các cơ chế, bằng việc bảo vệ tính cách ưu tiên của các giá trị con người trong các cộng đồng th́ những lời của Công Đồng mà Ta vừa mới nêu ở trên sẽ thiết định được lănh vực sinh hoạt tông đồ quan trọng của người phụ nữ. Trong tất cả các lănh vực sống của các cộng đồng này, từ b́nh diện xă hội kinh tế đến xă hội chính trị, phải tôn trọng và cổ vơ nhân phẩm của người phụ nữ và ơn gọi riêng biệt của họ, không những trong địa hạt cá nhân mà c̣n có tính cách cộng đồng, không những trong trách nhiệm đă trao phó cho họ, mà c̣n ở trong các khuôn khổ được bảo đảm một cách công bằng do các luật lệ dân sự.

"Ngườ́ đàn ông ở một ḿnh không tốt; Ta hăy tạo cho nó một người trợ giúp tương hợp với nó" (Gn. 2:18). Thiên Chúa Sáng Tạo đă giao phó người đàn ông cho người đàn bà. Hiển nhiên, con người đă được giao phó cho tất cả mọi người, nhưng một cách đặc biệt đă được giao phó cho một người đàn bà, bởi v́ chính người đàn bà nhờ vào kinh nghiệm đặc biệt về tài làm mẹ của ḿnh, dường như đươc phú bẩm tính nhạy cảm đặc biệt với con người, và đối với những ǵ tạo sự lợi ích đích thực cho con người, bắt đầu bằng giá trị căn bản của đời sống. Những khả năng và trách nhiệm của người phụ nữ trong địa hạt này thật lớn lao, khi mà sự phát triển về khoa học và kỹ thuật không c̣n dựa theo ánh sáng của sự khôn ngoan đích thực; thêm vào đó c̣n có nguy cơ "phi nhân hóa" đời sống con người, nhất là khi cuộc sống này cần đến một t́nh yêu sâu đậm hơn và một sự tiếp nhận cao thượng hào hiệp hơn!

Khi đem ơn ích và tài năng của ḿnh phục vụ Giáo Hội và xă hội, người phụ nữ đồng thời t́m được sự triển nở cá nhân đích thực - một khía cạnh ngày nay đang được nhấn mạnh rất nhiều - và đóng góp tài sức ḿnh một cách hết sức độc đáo vào sự hiệp thông Giáo Hội, và niềm phấn khởi truyền giáo của dân Chúa.

Trong viễn tượng như thế, cũng cần bàn về người đàn ông, chứ không phải chỉ nhằm riêng giới phụ nữ.

 

Nam-nữ cùng hiện diện và cùng hợp tác

52. Trong diễn tiến những cuộc họp của Thượng Hội Đồng, nhiều phát biểu đă bày tỏ mối lo âu rằng việc nhấn mạnh quá đáng về thân thế và vai tṛ của phụ nữ có thể đưa đến việc quên lăng không thể chấp nhận dành cho nam giới. Thật vậy, trong nhiều môi trường sinh hoạt của Giáo Hội, người ta phàn nàn về việc vắng mặt của các ông hoặc rất ít người tham dự. Một số trong đó lại bỏ qua trách nhiệm đóng góp với Giáo Hội của ḿnh, v́ thế phái nữ phải gánh vác: Thí dụ, tham dự vào nghi thức kinh nguyện nhà thờ, giáo dục và đặc biệt dạy giáo lư cho trẻ em, hiện diện trong những cuộc trao đổi tôn giáo hoặc văn hóa, cộng tác vào các sáng kiến từ thiện và truyền giáo.

Cần phải nỗ lực trong đường hướng mục vụ để có sự phối hợp và cộng tác giữa nam và nữ để việc tham dự của các tín hữu giáo dân vào sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội được trở nên đầy đủ, nhịp nhàng và phong phú hơn.

Lư do căn bản đ̣i buộc và giải thích sự hiện diện và hợp tác nam nữ không phải chỉ v́ nhằm tăng thêm ư nghĩa và làm cho công tác mục vụ của Giáo Hội hữu hiệu hơn, lại càng không phải để đáp ứng khía cạnh xă hội học trong vấn đề tạo nên một khung cảnh đầm ấm có tính cách nhân loại gồm có nam có nữ. Nhưng trước tiên đây là việc thể hiện ư định ban đầu của Tạo Hóa, Đấng từ "thuở khai nguyên" đă muốn rằng con người phải "như một sự hợp nhất giữa nam và nữ" và đă dựng nên một nam và một nữ làm thành cộng đồng đầu tiên, căn bản của tất cả các cộng đồng khác, và đồng thời như một "dấu chứng" của cộng đồng. Ngôi vị tương giao trong yêu thương tạo thành mầu nhiệm cho cuộc sống gắn bó của Thiên Chúa duy nhất và ba Ngôi Thiên Chúa.

Chính v́ lư do đặc biệt như thế mà h́nh thái phổ biến nhất và tinh tế nhất, đồng thời cũng là cơ bản nhất để bảo đảm sự hiện diện phối hợp và ḥa hợp nam nữ trong cuộc sống và trong sứ mệnh của Giáo Hội, chính là việc chu toàn các trách vụ, thi hành các trách nhiệm vợ chồng và gia đ́nh Công Giáo, trong đó sự phong phú của các h́nh thức vợ chồng, cha mẹ, con cái và anh em. Tông Huấn Familiaris consortio nói rằng: "Nếu gia đ́nh Công Giáo là một cộng đồng mà các mối giây liên hệ luôn được canh tân bởi Chúa Kitô qua Đức Tin và các Bí Tích, sự tham gia của gia đ́nh Công Giáo vào sứ mạng của Giáo Hội phải được thực hiện một cách cộng đồng; vợ chồng cùng nhau với tư cách là một cặp hôn nhân, cha mẹ và con cái, với tư cách là gia đ́nh, phải sống đời phục vụ Giáo Hội và thế giới... Ngoài ra gia đ́nh Công Giáo xây dựng nước Chúa trong lịch sử qua cuộc sống thực thi hằng ngày bằng đời sống riêng biệt của ḿnh: Việc tham dự của gia đ́nh Công Giáo vào sứ mệnh rao giảng, tư tế và vương giả của Chúa Giêsu Kitô và Giáo Hội Ngài,(195) được diễn tả và thực hiện trong t́nh vợ chồng và gia đ́nh; t́nh thương này phải được sống theo các giá trị và đ̣i hỏi của nó một cách trung tín và phong phú.

Đặt ḿnh vào bối cảnh đó, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă nhắc nhở ư nghĩa mà bí tích Hôn Nhân phải được thực hiện trong Giáo Hội và trong xă hội để soi sáng và khởi hứng tất cả các mối tương giao nam nữ. Chính trong ư nghĩa ấy các Ngài đă nhấn mạnh "mỗi một Kitô hữu cần phải sống và loan báo sứ điệp hy vọng chứa đựng trong mối tương giao giữa người nam và người nữ. Bí Tích Hôn Phối thánh hóa mối tương giao này trong h́nh thức hôn nhân, và bắt đầu mối tương giao này như là một dấu hiệu của mối tương giao giữa Chúa Kitô và Giáo Hội; Bí Tích đó chứa đựng một nội dung giáo huấn có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của Giáo Hội, qua trung gian Giáo Hội, giáo huấn này phải được đưa đến cho thế giới ngày nay, tất cả những tương giao nam nữ phải bắt nguồn hứng khởi từ giáo huấn này. Giáo Hội c̣n tuỳ thuộc vào những giá trị tinh thần phong phú của ḿnh một cách rộng răi hơn nữa". (196) Do đó, chính các Nghị Phụ lại nêu lên "sự qúi mến đức trinh khiết và tôn trọng việc sinh sản con cái cả hai cần phải được phục hồi giá trị",(197) để khích lệ và phát triển các ơn gọi khác nhau hầu bổ xung cách sống động sự hiệp thông trong Giáo Hội, nhằm phục vụ sự tăng triển không ngừng của việc hiệp thông này.

 

BỆNH NHÂN VÀ NGƯỜl ĐAU KHỔ

53. Con người được kêu gọi để tiến đên niềm vui, nhưng ngày nay, con người lại trải qua biết bao nhiêu h́nh thức đau đớn và thống khổ. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, trong Sứ Điêp cuối cùng của các Ngài đă gởi đến cho mọi người nam cũng như nữ đang chịu đựng những h́nh thức đau đớn và thống khổ khác nhau, những lời này: "Hỡi các bạn, những kẻ bị bỏ rơi, các bạn đang bị xă hội tiêu thụ của chúng ta ruồng rẫy, các bạn là những kẻ bệnh hoạn, tật nguyền, nghèo khổ, đói khát, di cư, lưu đày, tù tội, thất nghiệp, già yếu, trẻ em bị bỏ rơi, và những kẻ cô đơn, nạn nhân của chiến cuộc và của tất cả các thứ bạo tàn, hậu quả của một xă hội quá tự do: Giáo Hội chia sẻ nỗi đau thương của các bạn; nỗi đau thương đó dẫn các bạn đến Thiên Chúa, giúp các bạn thông phần với khổ nạn Cứu Chuộc, làm cho các bạn sống trong ánh sáng Cứu Rỗi của Ngài. Chúng tôi mong chờ nơi các bạn để giáo huấn cho toàn thế giới hiểu được t́nh yêu là ǵ. Chúng tôi sẽ làm tất cả những ǵ có thể để các bạn t́m ra được một chỗ đứng mà các bạn có quyền có trong xă hội và trong Giáo Hội." (198)

Trong khuôn khổ của một thế giới không biên cương, như thế giới đau khổ của con người, chúng ta hăy nh́n đến tất cả những ai đang mắc các bệnh chứng dưới nhiều h́nh thức: Thật vậy, bệnh nhân là sự biểu lộ thông thường và phổ biến nhất của con người đau khổ.

Tiếng gọi của Thiên Chúa gửi đến tất cả và mỗi một người trong họ: Những ai bệnh tật cũng được gửi đến làm thợ vườn nho của Chúa. Đau khổ thể xác cũng như thống khổ tâm hồn, không làm cho họ đi ra khỏi vườn nho mà ngược lại kêu gọi họ sống ơn gọi của con người, của người Kitô hữu, và tham dự vào sự phát triển Nước Chúa dưới những h́nh thái mới và qúi giá hơn cả. Những lời của Thánh Tông Đồ Phaolô phải trở thành chương tŕnh sống, và trước tiên những lời đó là ánh sáng soi dẫn cho họ thấy ư nghĩa của ân sủng phát xuất từ chính hoàn cảnh của họ: "Những ǵ c̣n thiếu cho đau khổ của Chúa Kitô th́ ta hăy bằng ḷng chịu trong xác thịt ta, v́ lợi cho cho nhiệm thể của Ngài là Giáo Hội (Col 1.24). Chính nhờ thể hiện cuộc khám phá đó Thánh Tông Đồ đă đi đến niềm vui mừng:"Cha vui mừng trong những đau khổ mà Cha gánh chịu v́ các con" (Col. 1:24). Cũng thế, nhiều bệnh nhân có thể trở nên những người mang lại nguồn vui của Thanh Linh ở gíữa những thử thách" (1 Thes. 1:6) và là chứng tá công cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu. Trong một buổi họp của Thượng Hội Đồng một người tàn tật đă phát biểu như sau: "Rất cần phải nêu lên để ư thức rằng những Kitô hữu sống trong những hoàn cảnh bệnh tật, đau khổ, già yếu được Thiên Chúa mời gọi không phải chỉ thông hiệp nỗi khốn khổ của họ với nỗi thông khổ của Chúa Kitô, nhưng ngay từ bây giờ họ được kêu gọi đón nhận cho chính họ và truyền lại cho kẻ khác nguồn sinh lực mới và niềm vui của Chúa Kitô phục sinh (2 Cor. 4:10-11; 1 Pt. 4:13; Rom. 8:18 …) (199)

Về phần ḿnh, Giáo Hội đă nêu lên điều đó trong Tông Thư Salvifici doloris (Sự đau thương cứu rỗi) - "Được sinh ra từ mầu nhiệm cứu chuộc của Thập Giá Đức Kitô, Giáo Hội có bổn phận phải cố t́m gặp con người một cách đặc biệt trên con đường đau khổ. Trong cuộc gặp gỡ đó, con người "trở nên con đường của Giáo Hội " và đó là một trong những cơn đường quan trọng nhất. (200) Con người đau khổ là con đường của Giáo Hội, bởi v́ trước tiên họ là con đường của chính Chúa Kitô, người Samaritanô tốt lành, không "bỏ con đường ḿnh đi" nhưng "động ḷng thương người đó đến gần... băng bó vết thương.. săn sóc ông ta" (Lk.10:32-34)

Từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, cộng đoàn Công Giáo giữa muôn ngàn người bệnh tật và đau khổ, đă thực hiện dụ ngôn người Samaritanô tốt lành bằng cách biểu lộ và thông truyền t́nh yêu cứu rỗi và ủi an của Chúa Kitô. Điều này được thể hiện do những người bằng đời hiến thân phục vụ người đau ốm, và qua việc dấn thân không ngừng của tất cả những người đặc trách các dịch vụ y tế. Ngày nay, ngay cả trong các bệnh viện và các cơ sở săn sóc sức khỏe của người Công Giáo, tín hữu giáo dân, nam cũng như nữ, càng ngày càng tăng thêm số người phục vụ đến nỗi có lúc gần như chiếm hầu hết hay chỉ c̣n có họ. Chính họ - bác sĩ, y tá nam nữ, nhân viên y tế và các trợ tá - hy sinh v́ nghĩa hiệp là những kẻ được mời gọi để tạo thành h́nh ảnh sống động của Chúa Kitô và Giáo Hội trong t́nh yêu đối với những người bệnh tật và đau khổ.

 

Canh tân sinh hoạt mục vụ

54. Gia sản qúi giá đó Chúa Giêsu Kitô "thầy thuốc của thân xác và tâm hồn", (201) đă để lại cho Giáo Hội không được để suy giảm, nhưng cần gia tăng giá trị và làm cho phong phú thêm qua nỗ lực phục hồi và phát huy một đà sinh hoạt mục vụ vừa phục vụ và đồng thời cùng hành động với nhứng người bệnh và những kẻ đau khổ. Cần có một sinh hoạt mục vụ có khả năng nâng đỡ và cổ vơ thái độ ân cần, hiện diện, lắng nghe, đối thoại, chia sẻ và trợ giúp cụ thể đối với con người trong những giây phút bệnh hoạn và đau khổ đang chịu thử thách nặng nề không những liên quan đến niềm tin vào cuộc sống, nhưng c̣n liên quan đến chính Đức Tin đối với Thiên Chúa và t́nh yêu phụ tử của Ngài. Việc canh tác mục vụ này biểu lộ đầy ư nghĩa nhất trong khi cử hành các Bí Tích cùng với các bệnh nhân và đem lại cho họ sức mạnh trong cơn đau khổ và yếu nhược, niềm trông cậy trong lúc tuyệt vọng, tạo cho họ nơi chốn gặp gỡ và (niềm vui) ngày hội.

Một trong những mục tiêu của sinh hoạt mục vụ được canh tân và năng động này, phải được phối hợp để bao hàm tất cả các thành phần cấu tạo nên cộng đồng Giáo Hội, là việc ư thức rằng người bệnh, người tàn phế, người đau khổ không chỉ là những người được Giáo Hội yêu thương, phục vụ mà thôi, mà c̣n là chủ thể tích cực và trách nhiệm trong cộng cuộc rao giảng Phúc âm và sự cứu rỗi. Trong cái nh́n đó, Giáo Hội loan báo một nguồn tin mới ở giữa ḷng xă hội và các cao trào văn hóa đang đánh mất ư nghĩa sự đau khổ con người nên "cấm cản" không cho nói lên thực tế này. Nguồn tin mừng này loan báo cho ta ư thức rằng đau khổ có thể có một ư nghĩa tích cực cho con người và cho chính xă hội, v́ đau khổ cần được cảm nhận để trở thành một h́nh thức thông dự vào sự khổ đau cứu độ của Chúa Kitô và niềm vui sống lại của Ngài, bởi v́ đau khổ là một sức mạnh thánh hóa và xây dựng Giáo Hội.

Việc loan báo tin mừng đó trở nên đáng tin cậy khi nó không chỉ là một lời nói suông, nhưng được thể hiện qua chứng tá của cuộc sống, không những của những kẻ săn sóc sức khỏe cho người bệnh, người tàn phế và những sự đau khổ, mà c̣n qua chứng tá của chính những người bệnh, đă ư thức và có trách nhiệm hơn về vị thế và công tác của họ trong Giáo Hội và cho Giáo Hội.

Để "nền văn minh của t́nh yêu" có thể đâm hoa kết trái trong thế giới đầy tràn khổ đau, nên đọc và suy ngắm kỹ bức Tông Thư SalvificirC; doloris, "sự đau thương cứu rỗi", mà ở đây Ta nhắc lại phần kết: "Như thế, những ai đau khổ và tin vào Chúa Kitô, đặc biệt những ai đau khổ v́ niềm tin của ḿnh vào nơi Ngài, Đấng đă chịu đóng đinh và đă sống lại, cần kết hợp lại với nhau bằng tâm trí dưới chân Thánh Giá trên đồi Canvê, để những đau khổ của họ đă dược hiến dâng làm cho lời nguyện hiệp nhất của chính Đấng Cứu Chuộc sớm được thể hiện. Những người thiện tâm cũng cần kết hợp lại, bởi v́ "Đấng Cứu Chuộc con người", con người đau khổ đă mang lấy trong ḿnh những đau khổ thể xác và tinh thần của nhân loại qua mọi thời đại, từng treo ḿnh trên Thánh Giá... để mọi người có thể t́m thấy trong t́nh yêu ư nghĩa cứu độ do những đau khổ của họ, và những giải đáp cho tất cả nhứng thắc mắc họ nêu ra. Chúng ta hăy dừng lại gần với tất cả những đau khổ của con người ngày nay, với Maria, Mẹ Đức Kitô, người đă đứng dưới chân Thánh Giá. Chúng ta kêu đến tất cả các Thánh qua bao thế kỷ đă đặc biệt thông dự những đau khổ của Chúa Kitô. Chúng ta xin các Ngài nâng đỡ chúng ta, và chúng tôi xin anh chị em tất cả những ai đau khổ hăy giúp đỡ chúng tôi. Chúng tôi xin chính những người yếu nhược hăy trở nên một nguồn sức mạnh cho Giáo Hội, và cho nhân loại. Trong cuộc tranh chấp ghê gớm giữa các sức mạnh của thiện và ác mà thế giới ngày nay đang chiến đấu trước mặt chúng ta, cầu xin cho nỗi đau khổ của anh chị em được kết hợp với Thánh Giá của Đức Kitô đem lại sự toàn thắng" (202)

 

*****BẬC SỐNG VÀ ƠN GỌl

55. Các thợ vườn nho đều thuộc thành phần Dân Chúa - linh mục, nam nữ tu sỹ, tín hữu giáo dân - tất cả là đối tượng, đồng thời là chủ thể trong sự hiệp thông của Giáo Hội, và công việc tham gia vào sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội. Tất cả mọi người và mỗi người chúng ta sinh hoạt ở trong vườn nho duy nhất của Chúa, chung cho mọi người, với những đoàn sủng và những thừa-tác-vụ khác nhau bổ xung cho nhau.

Trước khi hành động, th́ tự bản tính của các Kitô hữu đă là những cành của một cây nho xum xuê duy nhất, đó là Đức Kitô. Họ là chi thể sống động của một Thân Thể duy nhất của Chúa được xây dựng trong sức mạnh Thánh Linh. Xét về bản tính; nghĩa là điều đó không chỉ muốn nói là nhờ vào cuộc sống ân sủng và sự thánh thiện, nguồn suối đầu tiên và sung măn nhất của việc triển nở sứ mệnh tông đồ và truyền giáo của Hội Thánh, Mẹ chúng ta. Nó c̣n có nghĩa là bằng phương thế của đời sống thánh thiện của các linh mục và các phó tế, các nam nữ tu sỹ, các thành phần của các cơ chế xă hội, các tín hữu giáo dân.

Trong Giáo Hội Hiệp Thông, các bậc sống kết hợp chặt chẽ với nhau đến mức độ quyến chặt lấy nhau. Cùng một ư nghĩa sâu xa duy nhất cho tất cả mọi bậc sống, đó là một cách sống phẩm giá Kitô Hữu giống nhau và ơn gọi phổ quát hướng đến sự thánh thiện trong sự hoàn hảo của t́nh yêu. Những sắc thái (của đời sống) vừa khác nhau vừa bổ sung, nên mỗi sắc thái là một khuôn mặt độc đáo, ta không thể lẫn lộn, và đồng thời mỗi bậc sống ở vào một vị trí tương quan với các bậc sống khác để phục vụ cho tất cả.

Như thế, nét đặc biệt của bậc sống người tín hữu giáo dân là tính cách trần thế. Người tín hữu giáo dân thực hiện một công tác của Giáo Hội bằng cách chứng thực và nhắc nhở cho linh mục, tu sỹ nam nữ, theo phương thế của ḿnh, ư nghĩa mà thực tại trần thế chất chứa trong ư định cứu độ của Thiên Chúa. Về phần ḿnh, linh mục thừa tác bảo đảm sự hiện diện thường trực của các Bí Tích của Đức Kitô, Đấng Cứu Độ qua các thời gian và không gian. Đời tu tŕ chứng tá tính cách sung măn của Giáo Hội, nói một cách khác làm chứng hướng đi của Giáo Hội về Nước Trời, được h́nh dung trước, được thấy trước, và cảm nghiệm được nhờ việc tuyên khấn giữ đức khiết tinh, nghèo khó và vâng lời.

Trong toàn thể những bậc sống khác nhau, và trong mỗi một bậc sống tương quan với các bậc sống khác, tất cả đều phải phục vụ cho sự tăng triển Giáo Hội, đó là những cách thế sống khác nhau kết hợp sâu xa vào mầu nhiệm hiệp thông" của Giáo Hội, và kết hợp với nhau trong một đà tiến về một sứ mang duy nhất của Giáo Hội.

Bằng cách đó, mầu nhiệm duy nhất và đồng nhất của Giáo Hội khai mở và làm sống lại sự sung măn vô biên của mầu nhiệm Chúa Kitô, trong sự khác biệt của các bậc sống Đời mỗi ơn gọi, Cũng như các Nghị Phụ đă hoan hỉ nhắc lại Giáo Hội giống như một cánh đồng mà ta thấy có nhiều thứ cỏ, cây, hoa trái tuyệt vời và đẹp mắt. Thánh Ambriôsố viết: "Một cánh đồng trổ sinh nhiều trái, những cánh đồng tốt nhất chính là nơi sản xuất nhiều hoa lẫn nhiều trái. Cánh đồng Giáo Hội là nơi trổ sinh cả hoa lẫn trái. Ở đây anh chị em có thể thấy đức khiết tịnh trổ hoa, nơi khác đời sống góa bụa biểu dương sự khắc khổ của Giáo Hội như những rừng cây trong đồng bằng; ngoài ra những cuộc hôn nhân được Giáo Hội chúc phúc như ngày mùa gặt hái đổ đầy hoa trái vào các kho lẫm bao la của thế giới, và máy ép nho của Chúa Giêsu đầy ắp trái nho của vườn nho sai trái, làm phong phú đời sống hôn nhân Công Giáo." (203)

 

Những ơn gọi khác nhau của đời sống giáo dân

56. Sự khác biệt phong phú của Giáo Hội được biểu dương một lần nữa ở bên trong mỗi bậc sống. Nói cách khác, mỗi bậc sống của người giáo dân đă có nhiều "ơn gọi" khác nhau, đó là những đường lối thiêng liêng và tông đồ khác nhau liên quan đến mỗi người tín hữu giáo dân. Trong những "ơn gọi chung" của người giáo dân cũng có nhiều "ơn gọi riêng". Điều này, chúng ta có thể nêu lên kinh nghiệm sống thiêng liêng, viên măn trong Giáo Hội ở thời gian gần đây và đă đua nở dưới nhiều h́nh thức các tu hội giáo dân khác nhau. Nó cho thấy rằng người tín hữu giáo dân và ngay cả linh mục cũng có thể sống lời khuyên Phúc âm là nghèo khó, khiết tịnh, và vâng lời bằng việc tuyên khấn hoặc tuyên hứa, nhưng vẫn có thể chu toàn đời sống giáo dân hay giáo sỹ đặc biệt của ḿnh. (204) Cũng như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă ghi nhận như sau: "Chúa Thánh Thần c̣n soi sáng những h́nh thức tận hiến khác nhau được các tín hữu giáo dân thực hiện trong khi vẫn hoàn toàn sống đời giáo dân của họ". (205)

Chúng ta có thể kết luận bằng cách đọc lại tư tưởng của Thánh Phanxicô de Salles, Người đă từng cổ động nhiều lối sống thiêng liêng của giáo dân. (206) Khi nói về "ḷng đạo đức" nghĩa là sự trọn lành của người Kitô hữu hoặc "sống theo ơn Chúa Thánh Thần", Ngài tŕnh bày một cách đơn sơ và minh bạch ơn gọi nên Thánh của tất cả Kitô hữu trong khi nhấn mạnh h́nh thức đặc biệt mà trong đó mỗi Kitô hữu phải chu tất: "Thiên Chúa truyền dạy cho thụ tạo, cây phải sinh trái, mỗi cây theo giống của ḿnh" (Gn.1:11). Cũng vậy Ngài đ̣i buộc người Kitô hữu là những cây sống động trong Giáo Hội của Ngài, phải trổ sinh hoa trái thiêng liêng mỗi người tùy vào phẩm chất và ơn gọi của ḿnh. Sự trọn lành phải được người quân tử, thợ thuyền, đầy tớ, vương tước, góa bụa, thiếu nữ, phụ nữ có gia đ́nh phải thể hiện một cách khác nhau; không chỉ riêng vậy mà thôi, nhưng phải thích ứng việc thi hành đời sống trọn lành theo khả năng, công việc và bổn phận của riêng mỗi người... Thật là lầm lẫn, và c̣n là tà đạo, khi loại bỏ đời sống đạo hạnh ra khỏi trại binh lính, cửa hàng của các người thủ công, đền đài vua chúa, hoặc tổ ấm gia đ́nh. Hỡi kẻ mộ mến Thiên Chúa, con đường trọn lành hoàn toàn chiêm niệm, khổ tu hay tu sỹ thật ra không thể áp dụng cho những lối sống trên. Nhưng ngoài ba lối sống tu đó c̣n nhiều h́nh thức khác để nên thánh thích ứng cho những ai sống đời sống thế tục dù ở hoàn cảnh nào, chúng ta có thể và phải hướng đến đời sống trọn lành." (207)

Trong chiều hướng đó, Công Đồng Vatican II đă viết: "Đời sống thiêng liêng này của giáo dân phải mặc những nét riêng biệt thể theo điều kiện sống của mỗi người (đời sống vợ chồng và gia đ́nh, đời sống độc thân và goá bụa), hoàn cảnh đau ốm, sinh hoạt nghề nghiệp và xă hội. Mỗi người phải không ngừng phát huy phẩm cách và ơn đă nhận được, đặc biệt những ơn riêng thích ứng với điều kiện sống và xử dụng những ơn Chúa Thánh Linh đă ban cho ḿnh. (208)

Nếu có nhiều ơn gọi thiêng liêng của Chúa Thánh Linh, th́ trong một ư nghĩa nào đó, lại có vô số những cách sống của tất cả các thành phần trong Giáo Hội là những thợ làm trong vườn nho của Chúa, xây dựng Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô. Thật vậy, mỗi người trong tính cách duy nhất của lịch sử đời sống ḿnh đă được gọi đích danh để đóng góp phần riêng của ḿnh cho tiến tŕnh hoàn thành Nước Thiên Chúa. Không một tài năng nào dù nhỏ bé đến đâu, lại có thể bị che dấu hoặc không dùng đến (Mt. 25:24-27).

Thánh Tông Đồ Phêrô đă cảnh giác chúng ta bằng những lời sau đây: "Mỗi người tùy theo ơn Chúa ban mà phục vụ kẻ khác, như những người quản lư trung tín giữ mọi ân sủng của Thiên Chúa" (1 Pt. 4:10).

CHÚ THÍCH

ü   167- Thánh Grêgôriô Cả - Bài giảng về Phúc âm I,

ü   168- Vaticanô II, Tuyên ngôn về Giáo dục Kytô giáo Gravissimum Educationis, 2

ü   169- Gioan-Phaolô II - Tông thư gửi tất cả những người trẻ trên thế giới, dịp "Năm Quốc tế giới trẻ", 15, AAS 77 (1985), 620-621.

ü   170- Propositio, 53   -----171- Propositio, 51

ü   172- Vatican II Nuntii "Gửi các bạn trẻ" (8-12-1965): AAS 58 (1966) 18.

ü   173- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et Spes, 48

ü   174- Jean Gerson - De Parvulis ad Christum trahendis: Toàn tập. Desclée - Paris- 1973, IX- 669.

ü   175- Gioan-Phaolô II - Diễn văn đọc trước các nhóm người già của các địa phận Ư (23-3-1984), Insegnament VII, 1 (1984) 744

ü   176- Xem Gioan XXIII - Thông điệp Pacem in Terris: AAS 55 (1963), 267-268.

ü   177- Gioan-Phaolô II - Tông huấn Familiaris Consortio, 24: AAS 74 (1982) 109-110.

ü   178- Propositio, 46     -------179- Propositio 47

ü   180- Vaticanô II- Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, 9

ü   181- Phaolô VI- Diễn văn đọc trước ủy ban lo cho Năm Quốc tế Phụ nữ (18-4-1975): AAS 67 (/975) 266.

ü   182- Propositio 46   ---------183- Propositio 47  ----------184- tld

ü   185- Vaticanô II- Hiến chế Gaudium et Spes, 10.

ü   186- Thông điệp Redemptoris Mater, sau khi nhắc lại cho biết rằng chiều kích tôn kính Mẹ Maria trong đời sống Kytô giáo đặc biệt chú tâm đến phụ nữ và thân phận của họ, đă viết: "Thật vậy, phụ nữ tính đặc biệt liên kết với Mẹ Đấng Cứu Chuộc. Đólà một chủ đề mà chúng tôi có thể đào sâu vào một dịp khác. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh ở đây rằng h́nh ảnh Mẹ Maria Nazareth chiếu giải một ánh sáng trên người phụ nữ, v́, trong biến cố cao cả lạ thường về sự nhập thể của Con Chúa, Thiên Chúa Chúa đă nhờ đến một Phụ nữ giúp một cách tự do và tích cực. V́ thế, ta có thể quả quyết rằng phụ nữ, nếu nh́n đến Mẹ Maria, sẽ t́m gặp nơi Ngài bí quyết để sống xứng đáng phầm giá của ḿnh (phụ nữ tính) và thực sự triển nở nhân cách ḿnh. Vớí ánh sáng nơi Maria, Giáo Hội khám phá ra nơi khuôn mặt người phụ nữ những ánh chiếu của vẻ đẹp, của những t́nh cảm cao cả nhất mà tâm hồn con người có thể chất chứa: sự sung măn của việc tận hiến đời ḿnh v́ t́nh yêu; sực mạnh có thể giúp chịu đựng những khổ đau; trung tín không giới hạn và bền bỉ hành động; khả năng ḥa hơp, trực giác thấu suốt với lời an ủi,, (Gioan-Phaolô II- Tđ. Redemptoris Mater, 46: AAS 79 (1987) 424-425...

ü   187- Gioan-Phaolô II- Tông thư Mulieris Dignitatem,

ü   188- Xem Thánh bộ Đức Tin - Tuyên bố về vấn đề chấp nhận phụ nữ vào chức tư tế thừa tác Inter insigniores (15-10-1976) AAS 69 (1977) 98- 1 1 6.

ü   189- Xem Gioan-Phaolô II- T. thư Mulieris Dignitatem, 26.

ü   190- tld 27: "Giáo hội là một cơ thể gồm nhiều phần tử khác nhau, trong đó mỗi người có một chức phận; các phận vụ khác nhau và không được lẫn lộn. Chúng không muốn nói là có sự phân biệt cao thấp: Chúng không tạo cớ ghen tị, chỉ có một đoàn sủng mà ta có thể ao ước là bác ái (xem 1Cor 12-13). Những kẻ lớn nhất trong Nước Trời không phải là các vị thừa tác, mà là các vị Thánh." (Thánh BỘ Đức Tin- Bản tuyên bố về vần đề chấp nhán phụ nữ vào chức tư tế thừa tác. Inter insigniores, 6 (15-10-1976) = AAS 69 (1977) 115.

ü   191- Phaolô VI- Diễn văn đọc trước ủy ban lo cho Năm Quốc tế Phụ nữ (18-4-1975). AAS 67 (/975) 266.

ü   192- Propositio 47  ---------198- Tld---------194- Vaticanô II- Hiến chế Lumen Gentium, 36

ü   195- Gioan-Phaolô II= Tông huấn Familiaris Consortio, 50: AAS 74 (1982) 141-142.

ü   196- Propositio 46 --------197- Propositio 47

ü   198- Cuộc họp thứ VII của Thượng Hội Đồng Giám mục (1987)- Per Concilii semitas ad Populum Dei Nuntius, 12.

ü   199- Propositio 53

ü   200- Gioan-Phaolô II- Tông thư Salvifici Doloris, 3, AAS 76 (1984) 203.

ü   201- Thánh Ignatiô thành Antiokia - Ad Ephesios, VII,

ü   202- Gioan-Phaolô II- Tông thư Salvifici Doloris, 31: AAS 76 (1984) 249-50.

ü   203- Thánh Ambrosiô De Virginitate VI,34- Xem Thánh Augustinô- Sermo CCCIV,III,2.

ü   204- Xem Piô XII- T. hiến Provida Mater (02-02-1947): AAS 89 (/947) 114-124. CIC. Can. 573.

ü   205- Propositío, 6

ü   206- Xem Phaolô VI- Tông thư Sabaudiae Gemma (19-01-1967): AAS 59 (1967), 118-123.

ü   207- Thánh Phanxicô đệ Salê- Introduction à la vie devote- Toàn tập- Monastère de la Visitation, Annecy 1983, nl, 19-21.

ü   208- Vaticanô II- Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, 4

-----------&&&----------

 

 

 

 

 

 

 

Chương V

 

ĐỂ CHÚNG CON MANG LẠI HOA TRÁI

Công việc đào tạo người tín hữu giáo dân

 

 PHẢl LUÔN LUÔN ĐẠT ĐẾN MỨC TRƯỞNG THÀNH

57. H́nh ảnh cây nho và cành nho trong Phúc âm khai mở cho ta thấy một lănh vực căn bản khác của đời sống và sứ mạng người tín hữu giáo dân: lời mời gọi phải lớn lên và không ngừng tăng trưởng để luôn mang lại hoa trái. Chúa Cha săn sóc vườn nho của Ngài như một người trồng nho siêng năng. Israen khẩn khoản van xin Thiên Chúa ân cần hiện diện, với lời cầu nguyện như sau: "Lạy Thiên chúa của vũ trụ, xin Ngài hăy trở lại! Từ trời cao xin Ngài hăy nh́n xem, thăm viếng cây nho này. Xin bảo vệ cây nho mà cánh tay quyền lực của Ngài đă trồng" (Ps. 80.15-16). Đến phiên Ngài, Chúa Giêsu nói về công việc của Chúa Cha: "Ta là cây nho thật, và Cha Ta là người trồng nho. Cành nào ở trong Ta mà không sinh hoa trái, Cha Ta sẽ chặt nó đi, cành nào sinh hoa trái, Ngài cũng tỉa bớt đi cho càng sai trái hơn" (Jn. 15.1-2).

Sinh lực của các cành nho tùy thuộc vào sự nối kết với thân cây, là Chúa Giêsu Kitô: "Ai ở trong Ta và Ta ở trong người ấy, người đó sẽ sinh nhiều hoa trái; v́ ngoài Ta ra, các con chẳng làm ǵ được" (Jn.15.5).

Con người được Thiên Chúa kêu gọi trong sự tự do của ḿnh để triển nở, phát huy và mang lại hoa trái. Con người không thể không đáp lại lời mời gọi đó, không thể không chu toàn trách nhiệm của chính ḿnh. Những lời Chúa Giêsu sau đây nhằm nói đến trách nhiệm vừa kinh hoàng vừa phấn khởi đó: "Nếu ai không ở trong Ta sẽ bị quăng ra như cành khô héo, người ta sẽ thu lại bỏ vào lửa mà đốt đi" (Jn.16. 6) .

**Cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa, Đấng kêu mời, và người được gọi trong trách nhiệm của ḿnh, có thể và cần phải có một sự đào tạo toàn diện và liên lỉ những tín hữu giáo dân, như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă dành một phần lớn công việc của ḿnh để khai triển vấn đề này. Đặc biệt, sau khi mô tả việc đào tạo người Kitô hữu như "một tiến tŕnh liên tục của cá nhân để trưởng thành trong Đức Tin, và để nên giống với Đức Kitô theo ư muốn của Chúa Cha dưới sự d́u dắt của Chúa Thánh Thần", các Ngài đă quả quyết minh bạch rằng:

** "Việc đào tạo tín hữu giáo dân phải nằm trong những ưu tiên của giáo phận, và hiện diện trong các chương tŕnh sinh hoạt mục vụ, làm thế nào để tất cả cố gắng của cộng đoàn (linh mục, tu sỹ, giáo dân) quy hướng về cùng đích này". (209)

 

KHÁM PHÁ VÀ SỐNG ƠN GỌl VÀ SỨ MỆNH CỦA RlÊNG M̀NH

58. Việc đào tạo các tín hữu giáo dân nhằm mục tiêu cơ bản là t́m ra ơn gọi riêng tư của mỗi người, để càng ngày càng tỏ lộ và làm cho mỗi người luôn sẵn sàng hơn nữa để sống ơn gọi đó, hầu chu toàn sứ mệnh riêng của ḿnh.

**Thiên Chúa gọi tôi và Ngài gửi tôi đến làm người thợ trong vườn nho của Ngài, Ngài gọi tôi và sai tôi đi để dọn đường cho nước Ngài đến trong lịch sử. Ơn gọi và sứ mệnh cá biệt đó xác định phẩm giá và trách nhiệm mỗi tín hữu giáo dân và kết thành giềng mối của chương tŕnh đào luyện. Công việc đó nhằm mục đích giúp chân nhận phẩm giá của người tín hữu giáo dân trong niềm hoan lạc và biết ơn, đồng thời giúp họ đương đầu với trách nhiệm của ḿnh một cách trung tín và đại độ.

Thật vậy Thiên Chúa đă nghĩ đến chúng ta từ thuở đời đời, và Ngài đă thương yêu chúng ta như những nhân vị duy nhất và bất khả thay thế. Ngài gọi mỗi người chúng ta bằng chính tên chúng ta, như người Mục Tử tốt "gọi các con chiên của ḿnh bằng chính tên chúng" (Jn. 10.3). Nhưng chương tŕnh đời đời của Thiên Chúa chỉ được mặc khải cho mỗi người chúng ta trong tiến tŕnh phát triển lịch sử của cuộc sống và các biến cố của mỗi người; một cách nào đó, nó tuần tự tiếp diễn ngày này qua ngày khác.

Ngoài ra, trong đời sống của mỗi tín hữu giáo dân, có những giai đoạn đặc biệt có ư nghĩa và mang tính cách quyết định giúp ta chân nhận Lời Chúa gọi và đón nhận sứ mạng Chúa giao. Trong những giai đoạn đó, có thời kỳ của tuổi trẻ và tuổi thành niên. Tuy nhiên đừng ai quên rằng Chúa như người chủ vườn nho trong dụ ngôn, trong đường hướng Ngài đă cho thấy thánh ư của Ngài một cách cụ thể và chính xác - gọi (chúng ta) vào tất cả các giờ của cuộc sống. Do đó, phải luôn tỉnh thức, có nghĩa là phải ân cần lắng nghe tiếng Chúa, đó chính là thái độ căn bản và kiên tŕ của môn đệ Ngài.

Dầu thế nào, không phải chỉ cần biết Chúa muốn ǵ nơi mỗi người chúng ta trong những hoàn cảnh khác biệt của cuộc sống. Nhưng phải làm điều Chúa muốn, đó là điều mà Maria, Mẹ Thiên Chúa nhắc nhở chúng ta như đă nói với các người giúp tiệc cưới tại Cana: "Các ngươi hăy làm những ǵ Ngài bảo" (Jn. 2:5) .

Và để hành động một cách hoàn toàn trung tín với thánh ư của Thiên Chúa, cần phải có đủ khả năng, và phát triển mỗi ngày một thêm khả năng này. Dĩ nhiên, với ơn của Chúa: ơn Chúa không bao giờ thiếu, như Thánh Lêô Cả đă nói: "Đấng đă trao cho anh em phẩm chức, th́ cũng sẽ cho anh em sức mạnh". (210) Nhưng cũng cần có sự hợp tác tự do và trách nhiệm của mỗi một người chúng ta.

Đây là công tác tuyệt vời và bận rộn đang chờ đón mọi tín hữu giáo dân, những người Kitô hữu không nghỉ ngơi: luôn ư thức hơn nữa những kho tàng phong phú của Đức Tin và bí tích Rửa Tội và sống những ơn huệ đó một cách hoàn hảo, như Thánh Phêrô Tông Đồ, khi nói về sự sinh ra và lớn lên như là hai giai đoạn của đời sống Kitô hữu, đă khuyên bảo chúng ta: "Anh em hăy giống như những trẻ sơ sinh, anh em hăy khao khát Lối Chúa, như một gịng sữa trinh trong làm cho anh em được lớn lên để đi đến sự cứu độ”. (1 Pt. 2.2).

 

ĐÀO LUYỆN TOÀN DlỆN ĐỂ SỐNG TRONG HỢP NHẤT

59. Việc khám phá và thực hiện ơn gọi và sứ mệnh cá nhân đối với người tín hữu giáo dân đ̣i buộc phải được đào tạo để sống trong hợp nhất. Họ đă mang ấn tín của sự hợp nhất này ngay trong chính bản tính của họ là thành phần của Giáo Hội và công dân của xă hội loài người.

Trong cuộc đời của họ không thể có hai lối sống song song: một bên là "thiêng liêng" với những giá trị và những bó buộc riêng; bên kia là "trần thế ', nghĩa là gia đ́nh công việc làm ăn, tương giao xă hội, dấn thân làm chính trị, sinh hoạt văn hoá. Nhánh nho được ghép vào cây nho là Chúa Kitô mang hoa trái trong tất cả các lănh vực sinh hoạt và cuộc sống. Thật vậy, tất cả các lănh vực của đời sống giáo dân đều quy hướng vào ư định của Thiên Chúa, Ngài muốn tất cả chúng ta phải là "môi trường lịch sử" để Đức ái của Chúa Kitô được mặc khải và thể hiện cho vinh danh Chúa Cha, và phục vụ anh em ḿnh. Tất cả các sinh hoạt, các hoàn cảnh, các cuộc dấn thân cụ thể - khả năng và liên đới trong công việc làm ăn, t́nh yêu và sự tận tụy trong gia đ́nh hay trong việc giáo dục con cái, dịch vụ xă hội và chính trị, việc triển khai chân lư trong thế giới của văn hoá - tất cả những việc đó là cơ hội được quan pḥng để thể hiện "việc thực hành liên tục Đức Tin, Đức Cậy và Đức ái".(211)

Công Đồng Vaticanô II đă kêu gọi người tín hữu giáo dân hướng đến sự hiệp nhất đó, và mạnh mẽ tố giác tính cách nghiêm trọng của việc phân tách giữa Đức Tin và đời sống, giữa Phúc âm và văn hoá: "Công Đồng khuyến khích người Kitô hữu, công dân của nước trần thế và Nước Trời, nên chu toàn công tác trần thế của ḿnh một cách nhiệt t́nh, trung tín, và vâng theo sự hướng dần của tinh thần Phúc âm. Những ai, từng biết rằng ḿnh không có được nước vĩnh cửu dưới trần thế này, nhưng đang tiến về vương quốc tương lai, lại cho rằng có thể coi thường những nghĩa vụ làm người của ḿnh, và không nhận ra rằng chính Đức Tin, tùy vào ơn gọi của mỗi người làm cho những nghĩa vụ đó trở thành một bổn phận khẩn thiết. Những người như thế đi xa khỏi chân lư. Ngược lại, những người tin rằng có thể quên ḿnh hoàn toàn cho các sinh hoạt trần thế, cho hành động như thể các sinh hoạt đó hoàn toàn xa lạ với cuộc sống tôn giáo của họ, một cuộc sống được họ giới hạn vào việc thực hành việc phụng tự và một vài điều bó buộc có tính cách đạo đức cố định. Những người này cũng lầm lẫn không kém. Tách rời Đức Tin mà họ tuyên xưng khỏi cách xử sự hằng ngày của một số đông Kitô hữu hiện nay kể là một trong những lầm lẫn nghiêm trọng của thời đại chúng ta đang sống." (212)

**V́ thế, Ta qủa quyết rằng một Đức Tin không trở thành văn hóa là một Đức Tin "không được tiếp nhận đầy đủ, không được suy nghĩ thấu đáo, không được sống một cách trung tín." (213)

 

Các phương diện của việc đào tạo

60. Nhiều phương diện liên kết trong việc đào tạo toàn diện người tín hữu giáo dân được lồng trong tổng hợp của đời sống đó.

Không có ǵ ái ngại khi cho rằng việc đào tạo đời sống thiêng liêng phải chiếm một vị trí ưu tiên trong cuộc đời mỗi người, bởi v́ mỗi người đều được gọi để không ngừng lớn lên trong sự kết hợp mật thiết với Đức Giêsu Kitô, trong sự ḥa hơp với ư muốn của Chúa Cha, trong việc tận tâm phục vụ anh em trong bác ái và công b́nh. Công Đồng viết rằng: "Đời sống kết hợp chặt chẽ với Chúa Kitô trong Giáo Hội được nuôi dưỡng bằng những của ăn thiêng liêng chung cho tất cả mọi tín hữu, đặc biệt sự hiệp thông cách tích cực vào Phụng Vụ. Các giáo dân phải dùng những của ăn đó đề khi chu toàn một cách hoàn hảo các nghĩa vụ trần thế trong những điều kiện thông thường của cuộc sống, họ không phân tách việc kết hợp với Đức Kitô và đời sống của họ, nhưng lớn lên trong sự kếp hợp với Ngài, đồng thời chu toàn các công việc của họ như ư muốn Thiên Chúa." (214)

Việc dạy giáo lư cho người tín hữu ngày nay càng lúc càng trở nên khẩn thiết, không phải chỉ do những năng động tự nhiên thôi thúc việc đào sâu Đức Tin, nhưng c̣n do việc cần thiết phải "chứng thực niềm tin" mà họ ấp ủ trong ḿnh khi đối diện thế giới với các vấn đề nghiêm trọng và phức tạp của nó. Do vậy, một lối dạy giáo lư có hệ thống, thích ứng riêng cho từng lứa tuổi và hoàn cảnh sống khác nhau, và một cuộc cổ động văn hoá Công Giáo sâu rộng được xem là tuyệt đối cần thiết, để đáp ứng những thắc mắc muôn thuở và những vấn đề mới mẻ đang làm cho con người và xă hội ngày nay giao động.

Đặc biệt là làm sao cho người tín hữu giáo dân, nhất là người dấn thân bằng những cách khác nhau trong lănh vực xă hội và chính trị, có được sự hiểu biết chính xác hơn học thuyết xă hội của Giáo Hội, là một vấn đề tối ưu cần thiết, như các Nghị Phụ Thượhg Hội Đồng đă nhiều lần đ̣i hỏi trong các lần phát biểu. Khi nói về việc tham gia chính trị của người tín hữu giáo dân, Thượng Hội Đồng đă diễn tả ư kiến của ḿnh như sau: "Để các giáo dân có thể thể hiện tích cực dự án cao đẹp của ḿnh trong chính trị (có nghĩa là dự án làm cho các giá trị con người và Công Giáo được nh́n nhận và hâm mộ), không phải chỉ khuyến khích họ là đủ, mà phải đem đến cho họ những phương tiện cần thiết đề đào tạo lương tâm xă hội của họ; đặc biệt trong học thuyết xă hội của Giáo Hội, chứa đựng những nguyên tắc suy tư, những tiêu chuẩn phán đoán và những hướng dấn để hành động (Thánh bộ Tín Lư, "Giáo Huấn về Tự do Công Giáo và giải phóng", 72. Học thuyết đó phải hiện diện ngay trong chương tŕnh giáo lư căn bản và phải được giải thích trong các khóa huấn luyện đặc biệt cũng như trong các trường học và đại học. Nên lưu ư rằng, học thuyết xă hội của Giáo Hội có tính năng động, nghĩa là nó thích ứng với những hoàn cảnh, không gian và thời gian khác nhau. Những chủ chăn có quyền và có bổn phận đề nghị những nguyên tắc luân lư thuộc lănh vực xă hội cũng như trong các lănh vực khác. Kitô hữu phải đặt ḿnh vào việc bảo vệ nhân quyền, dấn thân tích cực vào các đảng phái chính trị đành riêng cho giáo dân". (215)

Trong khuôn khổ của việc đào tạo toàn diện và hợp nhất người tín hữu giáo dân, chúng ta phải ưu tư tái bồi các giá trị con người; nó cần thiết cho sinh hoạt truyền giáo và tông đồ. Chính trong ư nghĩa đó, Công Đồng đă viết: "(Giáo dân) sẽ yêu thích nhiều khả năng nghề nghiệp, ư nghĩa gia đ́nh và công dân, và các nhân đức liên quan đến đời sống xă hội như thanh liêm, tinh thần công lư, thành thật, tế nhị, khẳng khái. Không có những nhân đức đó th́ không có đời sống Kitô hữu chân thật." (216)

 

NHỮNG CỘNG TÁC VlÊN CỦA THlÊN CHÚA LÀ NHÀ GlÁO DỤC

61. Đào tạo tín hữu ở những nơi đâu và bằng phương tiện nào? Những ai và những cộng đoàn nào được kêu gọi để đảm trách bổn phận đào tạo giáo dân một cách toàn diện và hiệp nhất?

Cũng như việc giáo dục con người liên hệ mật thiết vào tương quan của t́nh mẫu tử, việc đào tạo người Kitô hữu cũng bám rễ và hút lấy nguồn sinh lực nơi Thiên Chúa: Ngài là Người Cha yêu thương và giáo dục con cái. Vâng, Thượng Đế là nhà giáo dục lớn lao và cao cả đối với Dân Ngài, như đoạn văn kỳ diệu sau đây trích từ Bài ca của Môisen:

** “Nơi hoang vu, trong cảnh cô quạnh bao la của sa mạc, Ngài nhận nó làm con: Ngài bao bọc, Ngài nuôi dưỡng nó. Ngài ǵn giữ nó như con ngươi của mắt Ngài. Như đại bàng canh chừng ổ chim con, bay lượn bên trên đàn con dại. Ngài trương đôi cánh và nhắc nó lên. Ngài nâng nó đặt lên bộ lông của Ngài. Chúa là vị độc nhất dẫn dắt nó, chứ không phải là một Chúa nào khác” (Dt. 32:10-12, xem 8. 5).

Công tŕnh giáo dục của Thiên Chúa được mặc khải và hoàn thành trong Chúa Giêsu là Thầy dạy, và tác động bên trong tầm hồn của tất cả mọi người, nhờ sự hiện diện linh động của Chúa Thánh Thần. Giáo Hội Mẹ chúng ta được gọi để kết hợp với công tŕnh giáo dục của Chúa, bằng chính danh nghĩa của ḿnh cũng như bằng các giáo huấn và hành động của ḿnh. Chính v́ thế mà những tín hữu giáo dân được đào tạo do bởi Giáo Hội và trong Giáo Hội, trong sự hợp thông và công tác hỗ tương giữa tất cả các phần tử của Giáo Hội: linh mục, tu sĩ và tín hữu giáo dân. Nhờ vậy, toàn thể cộng đoàn Giáo Hội trong sự khác biệt giữa các phần tử của ḿnh, nhận lấy nguồn phong phú của Thánh Thần và cộng tác vào kho tàng ơn ích đó. Chính trong ư nghĩa này Methodius thành Olympo đă viết: “Những người chưa hoàn hảo được đón nhận và đào tạo bởi những kẻ hoàn hảo hơn, như trong ḷng bà mẹ, để họ được cưu mang và khai sinh nhờ sự cao cả và đẹp đẽ của nhân đức”. (217) Sự kiện đó đă xảy đến cho Thánh Phaolô, từng được các Kitô hữu hiểu biết hơn (qua chính nhân vật Anania) đón nhận và đưa vào Giáo Hội, và sau đó, đến phiên Ngài, đă trở nên toàn hảo và làm cha linh hướng cho biết bao nhiêu con cái khác!

Công tŕnh giáo dục trước hết là một sự kiện của Giáo Hội hoàn vũ, trong đó Giáo Hoàng đóng vai tṛ giáo dục quan trọng hơn cả đối với tín hữu giáo dân. V́ là người kế vị Thánh Phêrô, Ngài nhận lấy trách vụ “làm cho anh em ḿnh vững mạnh trong Đức Tin” , khi dạy dỗ cho tất cả các tín hữu những yếu tố cần thiết của ơn gọi và sứ mệnh làm người Kitô hữu và làm con cái Giáo Hội. Người tín hữu giáo dân không những cần phải lắng nghe với thái độ tuân phục và mến chuộng những lời Ngài nói mà thôi, mà c̣n phải lắng nghe những lời dạy được ban bố qua các văn kiện của các Thánh bộ trong Giáo Hội.

Giáo Hội duy nhất và phổ quát hiện diện trong mỗi một phần tử khác nhau của thế giới, trong các Giáo Hội địa phương. Trong mỗi Giáo Hội đó, Giám Mục mang trách nhiệm riêng đối với các tín hữu giáo dân, ngài phải đào tạo họ qua việc loan tin mừng, cử hành bí tích Thánh Thể và các Bí Tích khác, sinh hoạt và hướng dẫn đời sống công giáo của họ.

Giáo xứ được thiết lập và hoạt động trong ḷng Giáo Hội địa phương hay Giáo phận, mang một vai tṛ thiết yếu trong việc đào tạo trực tiếp những tín hữu giáo dân. Thật vậy họ đạo có cơ hội gặp gỡ dễ dàng từng người và từng nhóm, nên được kêu gọi để đào tạo các phần tử của ḿnh biết lắng nghe Lời Chúa, tham dự phụng vụ, đối thoại trực tiếp với Thiên Chúa, dấn thân vào công tác bác ái đối với anh em, và cảm nhận cách trực tiếp và cụ thể hơn ư nghĩa sự hiệp thông của Giáo Hội và trách nhiệm truyền giáo.

Bên trong một số giáo xứ, nhất là những giáo xứ lớn và tản mác c̣n có sự hiện diện của những cộng đoàn giáo hội nhỏ. Chúng có thể rất hữu ích trong việc đào tạo những người Kitô hữu, v́ nhờ đó ư thức và kinh nghiệm về sự hợp thông và sứ mệnh Giáo Hội được thể hiện một cách sắc bén và sâu đậm hơn. Cũng như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă từng tuyên bố, một h́nh thức hỗ trợ khác được cống hiến qua việc dạy giáo lư sau bí tích Rửa Tội dưới h́nh thức lớp giáo lư khai tâm nhằm tŕnh bày lại cho những người lớn một vài yếu tố của Nghi thức Khai tâm đời sống Công Giáo, giúp họ đón nhận và sống những ơn phong phú và kỳ diệu của phép Rửa tội họ đă lănh nhân, cũng như những trách nhiệm phát sinh từ ân huệ đó. (218)

Trong việc đào tạo mà tín hữu giáo dân lănh nhận trong giáo phận hoặc trong giáo xứ của ḿnh, đặc biệt về những điều liên quan đến ư nghĩa cuộc sống hiệp thông và sứ mệnh của ḿnh, sự nâng đỡ mà các phần tử khác nhau trong Giáo Hội liên đới thực hiện cho nhau mang tính cách quan trọng đặc biệt. Sự nâng đỡ này giúp khám phá và đồng thời giúp thể hiện mầu nhiệm của Giáo Hội là Mẹ và là Thầy giáo dục. Các linh mục và các tu sỹ phải giúp tín hữu giáo dân trong công tŕnh đào tạo của họ. Trong đường hướng đó, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă yêu cầu các linh mục và các ứng viên vào các chức Thánh phải “chuẩn bị chu đáo để có đủ khả năng tiếp ứng ơn gọi và sứ mệnh của giáo dân”.(219) Về phần ḿnh, chính tín hữu giáo dân cũng có thể và phải giúp các linh mục và các tu sĩ trong bước đường thiêng liêng và mục vụ của họ.

 

Những môi trường giáo dục khác

62. Gia đ́nh công giáo, như là “Giáo Hội tại gia” cũng cần thành một trường học tự nhiên và cơ bản trong việc đào tạo Đức Tin: bậc làm cha mẹ nhận nơi bí tích Hôn nhân ân sủng và tác vụ giáo dục Công Giáo đối với con cái ḿnh, làm chứng trước con cái họ và thông đạt những giá trị con người và đồng thời giá trị tôn giáo. Khi tập nói những tiếng đầu tiên, trẻ con cũng học ca tụng Thiên Chúa, Đấng mà chúng cảm thấy gần gũi như người cha đầy yêu thương và ân cần; khi học biết những cử chỉ thân ái đầu tiên, trẻ em cũng học tiếp nhận kẻ khác và nhận ra ư nghĩa cuộc sống con người trong sự trao ban chính ḿnh. Chính cuộc sống thường ngày của một gia đ́nh Công Giáo chân thực tạo thành “kinh nghiệm Giáo Hội” đầu tiên nhằm giúp trẻ con vững mạnh phát triển trong việc hội nhập tích cực và có trách nhiệm vào một cộng đoàn Giáo Hội rộng lớn hơn và vào xă hội. Vợ chồng và cha mẹ Công Giáo càng ư thức rằng “Giáo Hội tại gia” của ḿnh tham dự vào cuộc sống và sứ mệnh của Giáo Hội hoàn vũ, th́ con cái họ càng có thể được đào tạo để hiểu “ư nghĩa của Giáo Hội”, và chúng càng ư thức sự cao đẹp của việc hiến dâng sức lực ḿnh để phục vụ Nước Chúa.

Những trường học và đại học công giáo, cũng như những trung tâm canh tân đời sống thiêng liêng ngày nay đang gia tăng số lượng và ngày càng trở thành quan trọng. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă nêu lên cho thấy rằng, trong khung cảnh xă hội và lịch sử ngày nay chúng ta đang sống, được chứng kiến một cuộc biến đổi văn hóa sâu rộng, việc tham gia của phụ huynh Công Giáo và đời sống của học đường chưa lấy ǵ làm đủ. Cần phải chuẩn bị các tín hữu giáo dân để họ hiến thân vào công tác giáo dục như hiến thân vào một công tác của chính Giáo Hội. Cần thành lập và phát triển “những đoàn thể giáo dục” gồm thành phần phụ huynh, nhà giáo, linh mục, tu sĩ, nam nữ, và đại diện giới trẻ. Và để trường học có thể thi hành chức phận giáo dục của ḿnh một cách xứng đáng, các tín hữu giáo dân cần phải ư thức rằng việc dấn thân đ̣i buộc mọi người, cũng như cổ động cho mọi người biết về quyền tự do giáo dục thật sự, kể cả việc (thể hiện nền tự do đó qua phương tiện của qui chế lập pháp dân sự thích ứng.(220)

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng tỏ ra ưu ái và khích lệ tất cả những tín hữu giáo dân, nam nữ, đang đảm trách công tác giáo dục trong trường học hay các cơ sở huấn luyện, với một tinh thần công dân và Kitô hữu sâu sắc. Ngoài ra, các Ngài đă nhấn mạnh rằng các tín hữu giáo dân làm giáo viên hoặc giáo sư tại các trường học khác nhau, Công Giáo hay không Công Giáo, cần gấp trở thành những người chứng trung thực của Phúc âm, bằng gương sáng của đời ḿnh, khả năng và lương tâm chức nghiệp, cảm hứng Công Giáo trong việc giảng dạy – dĩ nhiên – cần tôn trọng tính cách độc lập của các ngành và bộ môn khoa học khác nhau. Vấn đề đặc biệt quan trọng là việc nghiên cứu khoa học và kỹ thuật do các tín hữu giáo dân đảm trách phải lấy việc phục vụ con người toàn diện với các giá trị và yêu sách của nó làm tiêu chuẩn: Giáo Hội trao phó cho các tín hữu giáo dân này nhiệm vụ giải thích cho mọi người hiểu được mối tương quan mật thiết giữa Đức Tin và khoa học, giữa Phúc âm và văn hóa con người. (221)

Chúng ta đọc thấy đoạn văn này: “Thượng Hội Đồng này kêu gọi đến vai tṛ rao giảng của các trường học và đại học Công Giáo và ca ngợi sự tận tâm của các giáo chức và thành phần giáo sư, phần lớn ngày nay là giáo dân, để họ có thể đào tạo tại các cơ sở giáo dục Công Giáo những con người, nam cũng như nữ, biết thâm nhập: “điều răn mới”. Sự hiện diện đồng thời của các linh mục và giáo dân, cũng như nam nữ tu sĩ cống hiến cho sinh viên một h́nh ảnh sống động của Giáo Hội, và làm cho họ ư thức dễ dàng hơn kho tàng phong phú đó. (Bộ Giáo dục Công Giáo, “Người giáo dân trong ngành giáo dục, chứng tá Đức Tin trong các trường học”).(222)

Các nhóm, các hiệp hội và các phong trào cũng có một chỗ đứng trong việc đào tạo các tín hữu giáo dân. Thật thế, mỗi một tập thể có những phương pháp riêng, tất cả có thể cống hiến một lối đào tạo đi sát với chính kinh nghiệm của đời tông đồ. Chúng lại có cơ hội để bổ túc, cụ thể và chuyên biệt hóa công việc đào tạo mà các thành phần trong đó thu thái được do những bậc thầy khác nhau và đoàn thể khác nhau.

 

VlỆC ĐÀO TẠO HỖ TƯƠNG GlỮA: CHO VÀ NHẬN

63. Công tŕnh đào tạo không phải là đặc ân của một nhóm người, nhưng là một quyền lợi và bổn phận của mọi người. Về vấn đề này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă yêu cầu “ phải làm sao để mọi người , nhất là những kẻ nghèo khó có thể hưởng được công tŕnh đào tạo, để mọi người chính ḿnh có thể trở thành những nguồn đào tạo cho tất cả”; và các Ngài nói thêm: “Đối với việc đào tạo, nên xử dụng các phương thế thích ứng giúp cho Kitô hữu thể hiện hữu hiệu hơn ơn gọi toàn vẹn làm người và làm Kitô hữu nơi họ.” (223)

Để thực thi một đường lối mục vụ thật sự hữu hiệu, cần cổ động việc đào tạo những nhà giáo dục bằng cách tổ chức các chương tŕnh và các trường chuyên môn. Đào tạo những người để sau đó đến phiên họ lại đào tạo các tín hữu giáo dân khác là một yêu sách tối cần thiết để bảo đảm công việc đào luyện sâu rộng, toàn thể những người tín hữu giáo dân.

Trong công tŕnh đào luyện, cần lưu ư đặc biệt đến văn hóa địa phương, thể theo lời yêu cầu công khai của Thượng Hội Đồng “việc đào tạo các Kitô hữu sẽ phải lưu ư nhiều hơn nữa về nền văn hóa địa phương, v́ chính nền văn hóa đó đóng góp vào việc đào tạo; và công việc đào tạo phải hướng dẫn ta thẩm định các giá trị đă hàm chứa trong nền văn hóa cổ truyền cũng như những gía trị t́m thấy trong nền văn hóa tân thời. Phải lưu ư đến t́nh trạng có nhiều nền văn hóa khác nhau, có thể đang cùng sinh tồn trong một dân tộc, trong một quốc gia. Giáo Hội Mẹ và Thầy của các dân tộc, phải cố gắng cứu văn (nếu có trường hợp đó xảy ra) nền văn hóa của các nhóm thiểu số đang sống ở giữa các quốc gia rộng lớn.” (224)

Trong công tŕnh đào tạo, một vài điều xác tín đặc biệt được xem là cần thiết và hữu ích. Trước hết cần xác tín rằng không thể có việc đào tạo thật sự và hữu hiệu nếu mỗi người không tự đảm trách và khai triển trách nhiệm đào tạo chính ḿnh. V́ tất cả các công tŕnh đào tạo thiết yếu phải là “tự đào tạo lấy ḿnh”.

** Sau đó, xác tín rằng mỗi người trong chúng ta là kết qủa và là nguyên tắc của việc đào tạo: Chúng ta càng được đào tạo hoàn hảo bao nhiêu, th́ chúng ta lại càng có khả năng đào tạo kẻ khác bấy nhiêu.

Điểm quan trọng đặc biệt là nên ư thức rằng công tŕnh đào tạo, dĩ nhiên không thể bỏ qua việc cần đến trí thông minh con người nhờ vào các phương tiện và phương pháp của các nền khoa học nhân văn. *Nhưng nó chỉ có thể hữu hiệu một khi ta sẵn sàng tiếp nhận tác động của Thiên Chúa. Chỉ có cành nào không sợ để cho người làm vườn nho cắt tỉa mới mang nhiều hoa trái cho chính ḿnh và cho kẻ khác.

 

 TIẾNG GỌI VÀ LỜI CẦU NGUYỆN

64. Để kết luận văn kiện hậu Thượng Hội Đồng này, một lần nữa Ta nhắc lại lời mời gọi của “Người chủ vườn nho” mà Phúc âm nói đến: Các người cũng thế, hăy đi đến vườn nho của Ta. Ta có thể nói ư hướng của Thượng Hội Đồng về ơn gọi và sứ mệnh của giáo dân thực sự nằm trong lời mời mà Chúa nói với tất cả mọi người, và đặc biệt với người tín hữu giáo dân, nam cũng như nữ.

Những công việc của Thượng Hội Đồng đă đem lại cho tất cả các vị tham dự một kinh nghiệm thiêng liêng sâu đậm: kinh nghiệm của Giáo Hội, dưới ánh sáng và sức mạnh của Chúa Thánh Thần, hằng lưu ư t́m ṭi và đón nhận lời kêu gọi liên lỉ của Chúa, để đem lại cho thế giới ngày nay một lần nữa cuộc sống thông hiệp của ḿnh và sức năng động của sứ mệnh cứu độ nơi ḿnh. Công việc đó được thể hiện qua việc chân nhận chỗ đứng và vai tṛ đặc biệt của người tín hữu giáo dân.

Thượng Hội Đồng này mà Tông Huấn của Ta muốn phổ biến cho các Giáo Hội rải rác khắp thế giới, sẽ có hiệu quả bằng hành động tiếp nhận thực sự của toàn Dân Chúa, và đặc biệt các tín hữu giáo dân.

V́ thế, Ta kêu gọi tất cả và mỗi một người hăy luôn làm cho ư thức của ḿnh về cuộc sống Giáo Hội được sống động trong tâm hồn và trong đời sống của ḿnh, ư thức ḿnh là phần tử của Giáo Hội của Chúa Giêsu Kitô, tham dự vào mầu nhiệm hiệp thông và sức-năng-động trong công tác tông đồ và truyền giáo của Giáo Hội.

Điều quan trọng hơn hết là, tất cả Kitô hữu phải ư thức về phẩm giá kỳ diệu mà bí tích Rửa Tội đem lại cho họ: nhờ ân sủng, chúng ta được gọi để trở nên những người con sủng ái của Chúa Cha, những chi thể gắn liền với Chúa Kitô và Giáo Hội Ngài, nhưng đền thờ sống động và thánh thiện của Chúa Thánh Thần. Một lần nữa, một cách xúc động và đầy ḷng biết ơn, chúng ta hăy lắng nghe những lời nói cúa Thánh Gioan Tông Đồ Thánh Sử: “Anh em hăy xem t́nh yêu mà Chúa Cha Đấng ban cho chúng ta lớn lao ngày nào, đến nỗi chúng ta được gọi làm con cái của Thiên Chúa, và chúng ta là con thật!” (1 Jn. 3:l).

“Điều mới lạ này của Công giáo” ban cho các phần tử Giáo Hội đối với mọi người là nền tảng của việc tham dự vào chức tư tế, rao giảng và vương giả của Chúa Kitô, và cũng là nền tảng của ơn gọi ơn thánh trong t́nh yêu. Điều mới lạ đó được biểu lộ và thể hiện trong những người tín hữu giáo dân thể theo “tính cách trần thể’ , là đặc nét riêng tư và cá biệt của họ”.

Ư thức Giáo Hội bao gồm sự hiểu biết về Mầu Nhiệm Giáo Hội Hiệp Thông, đồng thời với ư thức giá trị Công Ǵáo của mọi người. Đó là một khía cạnh căn bản và quyết định cho đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội. Đối với mọi người cũng như từng người một, lời cầu khẩn khoản của Chúa Giêsu trong buổi Tiệc ly: “Xin cho họ nên một! “ (Jn.17.21), phải trở nên một chương tŕnh bó buộc không thể sao lăng trong đời sống và hành động hằng ngày.

Ư nghĩa sống động của việc thông hiệp trong Giáo Hội là ơn của Chúa Thánh Thần, đ̣i hỏi ta một sự đáp ứng tự do. Nó sẽ làm nẩy sinh hoa trái quí giá, tức là việc phối hợp nhịp nhàng, trong Giáo Hội “duy nhất và Công Giáo”, tính cách khác biệt phong phú của các ơn gọi và các hoàn cảnh sống, các đoàn sủng, các thừa-tác-vụ, các công tác và trách nhiệm; hoa trái đó cũng là việc hợp tác đầy xác tín và quyết tâm hơn nơi các nhóm, các hiệp hội và các phong trào của các tín hữu giáo dân trong việc liên đới chu toàn sứ mạng cứu độ chung của chính Giáo Hội. Sự hiệp thông đó, tự nó đă là một dấu chỉ lớn lao đầu tiên sự hiện diện của Chúa Kitô Cứu Độ nơi trần thế, đồng thời, nó trợ lực và khích lệ hoạt động tông đồ trực tiếp và sinh hoạt truyền giáo của Giáo Hội.

** Trước ngưỡng cửa của đệ tam thiên niên, toàn thể Giáo Hội, Chủ chăn, cũng như tín hữu, phải nhận ra một cách mạnh mẽ hơn nữa trách nhiệm của ḿnh là vâng theo mệnh lệnh của Chúa Kitô: “Các con hăy đi khắp thế giới và rao giảng Tin Mừng cho muôn dân” (Mt. 16.15), là tái tạo một phương pháp truyền giáo mới. Giáo Hội được giao phó để thực hiện một công tŕnh có tầm vóc lớn lao, khó khăn và cao cả: đó là việc tiến hành “một h́nh thức rao giảng Phúc âm mới” mà thế giới ngày nay đ̣i hỏi một cách cấp thiết. Tín hữu giáo dân phải thấy rằng ḿnh là phần tử tích cực trong công cuộc đó. Họ được gọi để loan báo và sống Phúc âm, bằng công tác phục vụ con người và xă hội trong tất cả những giá trị và đ̣i hỏi của nó. Thượng Hội Đồng các Giám Mục, đă được tổ chức vào tháng Mười năm Thánh Đức Mẹ, đặc biệt giao phó các công việc của ḿnh vào sự cầu bầu của Thánh Nữ Maria, Mẹ Đấng Cứu Chuộc. Nay Ta cũng xin chính Ngài cầu bầu cho các thành quả của Thượng Hội Đồng được gặt hái những hoa trái thiêng liêng. Đến phần cuối văn kiện hậu Thượng Hội Đồng này, hiệp thông với các Nghị Phụ và các tín hữu giáo dân hiện diện trong Thượng Hội Đồng, và với tất cả các thành phần khác của Dân Chúa, Ta dâng lên Đức Trinh Nữ lời khẩn cầu sau đây:

Lạy Nữ Trinh rất thánh,

Mẹ Chúa Kitô và Mẹ Giáo Hội,

Chúng con vui mừng và phấn khởi,

Hiệp thông với lời kinh Ngợi Khen của Mẹ,

Một bài ca t́nh yêu và cảm tạ.

Cùng với Mẹ, chúng con cảm tạ Thiên Chúa,

“T́nh yêu của Ngài trải qua đời nọ đên đời kia”

Cảm tạ Chúa v́ ơn gọi vinh quang,

Và v́ nhiều sứ mệnh Chúa đă giao phó cho

người tín hữu giáo dân,

Chúa gọi họ, gọi đích danh từng người một,

để họ sống thông hiệp t́nh yêu

và thánh thiện với Chúa,

để họ liên kết với nhau trong t́nh anh em

trong đại gia đ́nh con Chúa.

Chúa cũng sai họ đi chiếu giăi ánh sáng của Đức Kitô,

và đốt ngọn lửa của Thần Linh Thiên Chúa

trong tất cả các lănh vực của cuộc sống trần thế

bằng chính đời sống Phúc âm của ḿnh.

Lạy Trinh Nữ của bài ca Ngợi Khen,

xin hăy đổ đầy tâm hồn họ

ḷng biết ơn và niềm hứng khởi đối với ơn gọi và sứ mệnh này.

Mẹ đầy khiêm tốn và độ lượng, là “Nữ Tỳ của Thiên Chúa”

xin trao ban cho chúng con ḷng khao khát

phục vụ Thiên Chúa và cứu độ thế giới của Mẹ.

Xin mở rộng ḷng chúng con,

để đón nhận những chân trời bao la của Nước Chúa

và của việc truyền bá Phúc âm cho mọi tạo vật.

Mối từ tâm của Mẹ không ngừng lo lắng khi chứng kiến nhiều nguy nan,

nhiều sự dữ vô kể,

đang đè nặng trên anh chị em chúng con trong thời đại hôm nay.

Nhưng Trái Tim của Mẹ cũng lưu ư đến nhiều sáng kiến,

được khởi xướng để thực hiện những lợi ích những nguyện vọng lớn lao

thực hiện các giá trị và những tiến bộ khả quan

phát sinh hiệu quả Cứu Độ.

Lạy Đức Trinh Nữ can trường,

xin thêm sức mạnh cho tâm hồn chúng con.

Xin hướng niềm trông cậy của chúng con vào nơi Chúa,

để chúng con thắng vượt được tất cả những trở ngại

mà chúng con gặp phải

trên bước đường hoàn thành sứ mệnh của chúng con

Xin dạy chúng con biết sống

những thực tại trần thế, với tinh thần sâu sắc

và trong niềm hy vọng hoan hỷ Ngày Nước Chúa đến,

và ngày Trời Mới và Đất Mới được mở ra.

Mẹ cùng với các Tông Đồ cầu nguyện,

nơi nhà Tiệc Ly trông chờ Thánh Thần Chúa hiện xuống,

Mẹ hăy xin Ngài, ngự xuống tràn đầy                     

trên tất cả tín hữu giáo dân nam nữ,

để họ hết ḷng đáp lại ơn gọi và sứ mệnh của họ.

Như cành nho của cầy nho thật,

được gọi để mang nhiều hoa trái cho cuộc sống trần thế.

Lạy Mẹ Đồng Trinh,

Mẹ hăy dẫn dắt và nâng đỡ chúng con để chúng con luôn sống

như những người con nam, nữ của Giáo Hội của Con Mẹ,

và để chúng con có thể tiếp tay vào việc xây dựng nền văn minh của chân lư

và của t́nh yêu trên thế giới, theo ước nguyện của Thiên Chúa

và để làm Sáng Danh Ngài muôn đời. Amen

 

************

Ban hành tại Rôma cạnh Đền Thờ Thánh Phêrô,

Ngày 30 tháng 12 năm 1988 Lễ Thánh Gia Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse

Năm thứ Mười Một triều đại Giáo Hoàng của Ta

JOANNES PAULUS PP II

CHÚ THÍCH

209- Propositio 40

210- "Dabit Virtutem, qui contulit dignitatem " ( = Đấng đă ban cho các ngươi phẩm giá đó, th́ cũng ban cho sứ mạng)- (Thánh Lêo Cả, Serme. II,1.)

211- Vaticanô II- Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, 4

212- Vaticanô II- Hiến chế Gaudium et Spes, 43, xem SL. Ad Gentes 21; Phaolô VI- T.H: Evangelii Nuntiandi, 20; AAS 68 (1976) 19.

213- Gioan-Phaolô II- Diễn văn đọc trước những người tham dự Hội nghi của phong trào dấn thân văn hóa trong Giáo hội (M.E.I.C) (16-01-1982). Insegnamenti V,1 (1982) 131. Cũng xem thư gửi Hồng Y Agnostinô Casaroli, Quốc vụ khanh, thiết định qui chế của Hội đồng Giáo hoàng về Văn hóa (20-5-1982): AAS 74 (1982), 685- Diễn văn đọc trước Cộng đồng đại họe Louvain ( 20- 5- 1985): Insegnamenti VIII -1 (1985) 1591.

214- Vaticanô II- Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, 4

215- Propositio 22. Cũng xem Gioan-Phaoloâ II, Tđ. Sollicitudo rei Socialis, 41, AAS 80 (1988) 570-572.

216- Vaticanô II- Sắc lệnnh Apostôlicam Actuositatem,

217- Thánh Mêthôđô Olympê- Symbolisio II,8.       ---- 218- Xem Propositio 11

219- Propositio 40   ----- 220' Xem Propositio 44    -----221- Propositio 45

222- Propositio 44    ---- 223- Propositio 41            ----- 224- Propositio 42

 

-------------------------@@@@@---------------------------

 

 

 

GIA Đ̀NH PHẠT TẠ THÁNH TÂM VIỆT NAM

BAN TUYÊN HUẤN TGP SAIGON

                                                                thực hiện 2008