TÔN CHỈ VÀ MỤC ĐÍCH
“Thiên Chúa Là Tình Yêu”

Chúng tôi, những tâm hồn khao khát mến yêu, muốn được tình yêu Đức Kitô xoa dịu nỗi đau khổ cuộc sống, chúng tôi cũng muốn tham gia vào sứ mệnh loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay. Vì thế, trang này được viết nên theo:

Tôn chỉ :

Mục đích :

 Với tất cả thiện chí và cố gắng chúng tôi sưu tầm, biên tập, cống hiến những tài liệu, suy tư, suy niệm của nhiều tác giả với ước vọng mọi người cảm nghiệm được Tình Yêu Thiên Chúa và đáp trả.

Chúng tôi xin tác giả của các bài viết này, vì lòng yêu mến Thánh Tâm Chúa, cho phép chúng tôi được sử dụng tâm huyết tinh thần của Quý vị, ngõ hầu khơi dậy ngọn lửa tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu trong tâm hồn chúng tôi và các tín hữu.

 

 

.----------------

Haõy mang laáy aùch cuûa toâi(Mt 11, 28 -30)

  28"Taát caû nhöõng ai ñang vaát vaû mang gaùnh naëng neà, haõy ñeán cuøng toâi, toâi seõ cho nghæ ngôi boài döôõng.  

 

29Anh em haõy mang laáy aùch cuûa toâi, vaø haõy hoïc vôùi toâi, vì toâi coù loøng hieàn haäu vaø khieâm nhöôøng. Taâm hoàn anh em seõ ñöôïc nghæ ngôi boài döôõng. 

 

 30Vì aùch toâi eâm aùi, vaø gaùnh toâi nheï nhaøng."

 

 

 

“Việc tôn thờ Trái Tim cực Thánh Chúa Giêsu là trường học hữu hiệu nhất về TÌNH YÊU THIÊN CHÚA. Bởi vì Tình Yêu vốn là nền tảng của Nước Trời, phải được xây dựng trong các Linh Hồn, các gia đình và các Quốc Gia”.   Pio X

 

 

 

 

 

+

 

SÙNG KÍNH THÁNH TÂM

 

1- BIẾN ÐỔI CON TIM
--------------

Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR.

 

 Lần cuối dân chúng gặp gỡ Chúa Giêsu trước khi Người hoàn tất sứ mạng cứu thế Chúa Cha đã trao phó là lúc Chúa Giêsu hấp hối trên thánh giá. Ðây là lúc Trái Tim Cực Thánh của Người bị lưỡi đòng đâm thâu để tuôn ra những giọt máu cuối cùng làm thành suối nguồn ơn cứu độ cho nhân loại. Ðây cũng là cơ hội cuối cùng cho người trần gặp gỡ và nhìn nhận Ðấng Cứu Thế đang thi thố đến cùng tình yêu của Người dành cho nhân loại.

Có đủ hạng người hiện diện ở Ðồi Canvê chứng kiến cảnh Chúa Cứu Thế đang hấp hối trong đau thương tức tưởi. Nhưng chỉ có một ít tâm hồn nhận biết và yêu mến Người. Phần đông không nhận ra Người là Con Thiên Chúa nên đã xúc phạm đến Người.

  1. Vì sao người ta không nhận biết và yêu mến Chúa Giêsu?
  2. Làm sao để nhận biết Người?
  3. Ðó là vấn đề con tim!

Phải có tâm hồn am hợp với Chúa Giêsu để có thể nhận biết, mến yêu và kết hợp với Người. “Ðồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” là thế!

Phúc Âm Luca 23:33-49 thuật lại khung cảnh Chúa Giêsu hấp hối trên thánh giá như sau:

33.Khi đến nơi gọi là “Cái Sọ,” thì người ta đã đóng đinh Ngài nơi ấy, và hai tên gian phi kia, một tên bên hữu, một tên bên tả.

34.Bấy giờ Ðức Giêsu nói: “Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm.”

Còn họ thì chia áo xống của Ngài thành từng phần mà bắt thăm.

35.Dân thì đứng nhìn, còn các đầu mục thì nhạo báng mà rằng: “Nó đã cứu những ai khác, thì nó hãy cứu lấy mình! nếu nó là Ðấng Kitô của Thiên Chúa, Ðấng đã được chọn!”

36. Cả lính tráng cũng chế giễu Ngài,

37. mà rằng: “Nếu mày là Vua dân Dothái, thì hãy cứu lấy mình!”

38. Phía trên Ngài, có tấm biển: Tên này là Vua dân Dothái.

39. Một người trong các kẻ gian phi bị treo đó mắng nhiếc Ngài: “Phải chăng mày là Kitô? Hãy cứu lấy mình và chúng ta với!”

40. Nhưng tên kia lên tiếng mắng bảo nó: “Mày không kính sợ Thiên Chúa sao, ngay lúc mày cũng mắc cùng một án?

41. Phần ta, thật là phải lẽ, ta chuốc lấy đáng tội đã làm; nhưng ông này, ông không làm điều gì trái!”

42. Và hắn nói: “Lạy Ðức Giêsu, xin nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài!”

43. Và Ngài đã nói với hắn: “Quả thật, Ta bảo ngươi: hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta!”

44. Khi đã đến lối giờ thứ sáu, thì xảy ra có tối tăm trên toàn cõi đất, cho đến giờ thứ chín,

45. trong khi mặt trời khuất bóng. Màn đền thờ bị xé ngay chính giữa.

46. Kêu lớn tiếng, Ðức Giêsu nói: “Lạy Cha, Con ký thác hồn Con trong tay Cha.” Nói đoạn, Ngài tắt thở.

47. Viên bách quản thấy sự xảy ra, thì tôn vinh Thiên Chúa rằng: “Hẳn thật, ông này là người công chính!”

48. Tất cả đoàn lũ dân chúng tuôn đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy tất cả các sự xảy ra, thì đều đấm ngực lui về.

49. Ðứng tự đàng xa, có tất cả những kẻ quen biết ngài, cùng những phụ nữ đã đi theo Ngài từ Galilê; các bà đã chứng kiến các điều ấy.

Những tâm hồn không nhận biết và yêu mến Chúa

Những người không nhận biết và tin yêu Chúa Giêsu là những người có tâm hồn ngược hẳn với tâm hồn của Người. Mắt lòng của họ đã bị đui chột mù lòa nên không nhận ra Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Thế , là Vua Tình Yêu, là Chúa của lòng họ. Suy gẫm bối cảnh đồi Canvê chiều Thứ Sáu Tuần Thánh và nhìn lại suốt cuộc đời Chúa Giêsu, người ta nhận ra những loại người không nhận biết Chúa Cứu Thế, không tin yêu Người mà còn xúc phạm đến Người như sau:

 

1. Nhẫn tâm: “Những người qua lại mắng nhiếc Ngài.” (Mt 27:39). Loại người này chẳng những không biết cảm thương nỗi đau của tha nhân mà còn tàn nhẫn gây thêm đau khổ cho người hoạn nạn.

2. Ác tâm: “.các thượng tế cùng với ký lục và hàng niên trưởng chế giễu Ngài.” (Mt 27:41). Ðây là những con người vì tự ái kiêu ngạo và ghen tương sẵn sàng làm hại người khác để thỏa mãn các tham vọng của mình.

3. Dã tâm: “Cả lính tráng cũng chế giễu Ngài.” (Lc 23:36). Loại người này tìm vui thú trong việc hành hạ kẻ khác. Họ là những kẻ “lòng lang dạ thú.”

 

4. Tiểu tâm: “Một trong những kẻ gian phi bị treo đó mắng nhiếc Ngài.” (Lc 23:39). Loại người này dù ngay cả khi đang ở trong cảnh đau khổ vẫn không biết cảm thương người cùng cảnh ngộ mà chỉ nghĩ đến mình mà thôi.

 

5. Vô tâm: “Xưa có một người nhà giàu, ăn mặc những gấm tía, và hàng mịn; ngày ngày yến tiệc linh đình, lại có một người ăn mày, tên là Lazarô, người ta vứt bỏ bên cổng nhà ông, mình đầy lở lói.” (Lc 16:19-20). Loại người này có thái độ lãnh đạm dửng dưng truớc nỗi khổ đau túng cực của kẻ khác. Họ là những người không biết xót thương. Và vì vậy, họ đã mất cơ hội yêu mến và phục vụ chính Chúa Cứu Thế: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, những gì các ngươi đã không làm cho một người nào trong các kẻ hèn mọn nhất này, là các ngươi đã không làm cho chính mình Ta” (Mt 25:45).

 

6. Tà tâm: Ðây là những tâm hồn gian tà, bất chính, đam mê. Hêrôđê Cha đã lo sợ bị mất quyền bình nên âm mưu giết Chúa Hài Ðồng nhưng lại nói với ba nhà đạo sĩ rằng “Các ông hãy đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi; và khi đã tìm thấy, thì hãy báo lại cho trẫm, để trẫm cũng đi yết bái Ngài” (Mt 2:8). Hay như Hêrôđê Con vì đam mê nhục dục đã loạn luân với chị dâu và giết Thánh Gioan tiền Hô (Mt 14:3-12).

 

7. Nhị tâm: Giuđa Iscariốt tiêu biểu cho loại người này. Dù được Chúa gọi và chọn làm tông đồ và giao cho chức thủ quỹ của Nhóm Mười Hai, Giuđa đã tiếp xúc riêng với các thượng tế là kẻ thù của Người và tìm dịp để nộp Người cho họ (Mt 26:14-16).

 

8. Kiêu tâm: Là những kẻ kiêu hãnh về chính mình, cậy tài, cậy đức, cậy công, tự thờ mình, tự đặt mình trên thiên hạ và coi khinh kẻ khác. Hình ảnh người biệt phái lên đền thờ cầu nguyện là tiêu biểu của hạng người này (Lc 18:9-14).

 

9. Mãn tâm: Là những con người tìm sự thỏa mãn trong tiền tài, danh vọng, thú vui trần gian mà quên lãng Thiên Chúa và hạnh phúc đời đời. Người phú nông dự định xây kho lúa mới để tích trữ của cải là điển hình cho loại người này (Lc 12:16-21).

------o------

 

 

Những tâm hồn nhận biết và yêu mến Chúa

Những người nhận biết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và bước vào mối tình thâm giao với Người là những người có “tâm tư như đã có nơi Ðức Kitô Giêsu” (Phil 2:5). Họ là những người sau:

1. Từ tâm: Là những người biết “chạnh lòng thương” trước những đau khổ của tha nhân và ra tay cứu giúp xoa dịu những nỗi đau của họ. Người Samaritanô nhân lành trong dụ ngôn của Chúa Giêsu là tiêu biểu cho loại người này (Lc 10:29-37). Với họ, Chúa Giêsu nói: “Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một người trong các anh em hèn mọn nhất này của Ta, là các ngươi đã làm cho chính mình Ta” (Mt 25:40). Và “Phúc cho những kẻ biết xót thương, vì họ sẽ được thương xót” (Mt 5:7).

 

2. Thành tâm: Người trộm chịu đóng đanh bên hữu Chúa Giêsu đã thành thực nhìn nhận đau khổ anh đang phải chịu là xứng hợp với tội lỗi của anh và bày tỏ lòng tin vào Chúa Giêsu (Lc 23:40-42).

 

3. Quảng tâm: Ðây là những người có tâm hồn quảng đại như các môn đệ tiên khởi đã “bỏ cả chài lưới.bỏ đã đò cả cha mà đi theo Ngài” (Mt 4:20,22). Họ cũng là những người học gương Chúa Giêsu để rộng rãi chia sẻ các phúc lộc cho tha nhân và sẵn sàng tha thứ cho những kẻ xúc phạm đến mình.

 

4. Nhiệt tâm: Maria em Bà Martha có thể được coi như tiêu biểu cho loại người này: “vừa nghe nói, Maria vội vàng chỗi dậy mà đi gặp Ngài” (Jn 11:29). Sốt sắng nhiệt thành là đặc tính của tâm hồn những người đang yêu. Chúa Giêsu cũng bày tỏ tình yêu của Người đối với Chúa Cha qua sự nhiệt thành của Người trong việc xua đuổi những người buôn bán ra khỏi Ðền Thờ: “Lòng nhiệt thành đối với nhà Chúa sẽ nghiến cả mình tôi” (Jn 2:17; Tv 69:10). Họ còn là những người luôn khao khát sự trọn lành nên Chúa sẽ làm thỏa mãn nỗi khao khát của lòng họ: “Phúc cho những kẻ đói khát công chính, vì họ sẽ được no đầy” (Mt 5:6).

5. Thiện tâm: Là những tâm hồn thiện chí, không có thành kiến khi giao tiếp với người khác, biết tìm kiếm, nhìn nhận và ngợi khen những gì là chân, thiện, mỹ nơi tha nhân. Tiêu biểu cho loại người này là ba nhà đạo sĩ đến gặp Chúa Hài Ðồng ở Bêlem và viên bách quản chứng kiến hiện tượng trời đất trở thành tối đen khi Chúa Giêsu sinh thì nên đã nhận biết Người là Con Thiên Chúa (Mt 27:54).

 

6. Đơn tâm: Là những người có tâm hồn đơn sơ và trong sạch. Họ không khao khát, mong mỏi hay kiếm tìm điều gì khác hơn là chính Chúa, nên Chúa sẽ tỏ mình cho họ: “Phúc cho những tinh sạch trong lòng, vì họ sẽ thấy Thiên Chúa” (Mt 5:8).

7. Kiên tâm: Là những con người trung kiên, trung thành, nhẫn nại trong việc phụng sự Chúa và chờ giờ Chúa đến. Ông già Simêon và Bà Anna là gương mẫu cho loại người này. Chúa Giêsu hứa: “Những kẻ nào kiên nhẫn đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu” (Mt 24:13).

 

8. Úy tâm: Là những người có “lòng kính sợ Chúa.” Họ thà chết chẳng thà phạm tội mất lòng Chúa vì họ luôn ý thức về sự hiện diện đầy uy linh và tình thương của Chúa trong cuộc đời họ. Nhờ vậy, họ đã được trở thành đối tượng đón nhận lòng thương xót Chúa: “Và lòng nhân nghĩa của Người suốt đời nọ đến đời kia trên những kẻ kính sợ Người” (Lc 1:50).

 

9. Ấu tâm: Là những ngườì biết trở nên thơ bé để sống trong sự tin yêu, phó thác vào sự quan phòng đầy quyền năng và khôn ngoan của Chúa. Ðây là điều Chúa Giêsu muốn thấy nơi những môn đệ Người: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, nếu các ngươi không hoán cải mà nên như trẻ nhỏ, các ngươi sẽ không vào được Nước Trời” (Mt 18:3).

 

10. Hối tâm: Là những người khiêm nhường nhận biết tội mình và có lòng thống hối nài xin Chúa thương xót thứ tha. Thánh Vương Ðavít xác nhận: “Lễ tế cho Thiên Chúa: tâm thần bầm tím, tấm lòng bầm tím và nghiền tán, lạy Thiên Chúa, Người sẽ chẳng khinh” (Tv 51:19). Người thu thuế cầu nguyện thưa với Chúa: “Lạy Thiên Chúa, xin khấng thương tôi là đứa tội lỗi” trong đền thờ là hình ảnh của những người này(Lc 18:13).

 

11. Tri tâm: Là tâm hồn khao khát và nỗ lực tìm hiểu và thực hành thánh ý và lề luật của Chúa, nhận biết mọi sự là ơn Chúa và tận tâm đáp đền ơn Chúa. Thánh Vịnh gia diễn tả điều này như sau: “Lòng dạ ngay chính, tôi sẽ tạ ơn Người, bởi được học biết các phán quyết công minh của Người” (Tv 119:7).

 

12. Toàn tâm: Là tâm hồn biết quy hướng mọi sự về Chúa và đặt Chúa là tất cả trong mọi sự. Họ luôn ghi lòng tạc dạ giới răn trọng nhất của Chúa: “Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, hết trí khôn ngươi và hết cả sức lực ngươi” (Mc 12:30).

Tất cả những đặc tính của một tâm hồn am hợp với Thiên Chúa được diễn tả trên đây đều được tìm thấy nơi Trái Tim Vẹn Sạch của Mẹ Maria.

Lời nguyện xin cho được tâm hồn thơ bé

Lạy Thánh Nữ Maria là Mẹ Chúa Trời.

Xin Mẹ giữ cho con tâm hồn thơ bé

Như suối kia tinh khiết trong ngần.

Xin Mẹ cho con tấm lòng đơn bạch

Không ủ ê nhấm nháp ưu phiền.

Một trái tim luôn sẵn sàng cống hiến

Và dịu dàng luôn biết cảm thông.

Một trái tim quảng đại trung thành,

Không quên sót một ơn lành đã nhận,

Không để lòng thù hận một ai.

Xin Mẹ cho con quả tim khiêm tốn dịu hiền,

Biết yêu người mà không đòi đáp lại,

Vui vẻ xóa mình trước mặt Con Chí Ái

Trong tâm hồn bất cứ một ai.

Một trái tim cao cả không gì đánh bại,

Không bao giờ khép lại trước một nỗi vong ân,

Không nản bước chùn chân vì thờ ơ lãnh đạm.

Một trái tim dằn vặt vì vinh quang của Chúa,

Mang vết thương bởi lòng mến yêu Người

Cho tới lúc được lên Trời mới khỏi mà thôi.

 

(Theo Cha Leonce de Grand-Maison bản dịch của Cha Nguyễn Công Ðoan, SJ).

Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR.

-----------------------------

 

 

2- TUẦN CỬU NHẬT

KÍNH THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

của Thánh Anphong Liguori

Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR.

Lời dịch giả: Nhân Lễ Thánh Anphong Liguori, Tổ Phụ Dòng Chúa Cứu Thế, ngày 01/08, chúng tôi xin gửi đến quí vị độc giả Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp Tuần Cửu Nhật Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu của ngài. Vốn là một tông đồ nhiệt thành của Thánh Tâm Chúa Giêsu, năm 1758 Cha Thánh Anphong đã soạn tuần cửu nhật này và đệ trình lên Ðức Giáo Hoàng Clêmentê XIII để được phê chuẩn, với ước nguyện giúp mọi người gia tăng lòng yêu mến Trái Tim Thánh Thể Chúa Giêsu. Ước mong bản dịch Việt ngữ này sẽ góp phần thực hiện ước nguyện thánh thiện ấy của Cha Thánh Anphong nơi tâm hồn các tín hữu Công Giáo Việt Nam trong thời đại hôm nay (Lm. Phạm Quốc Hưng, C.Ss.R.)

 

Lời ngỏ của Thánh Anphong

Việc sùng kính trên hết các việc sùng kính là yêu mến Chúa Giêsu Kitô.

Một tác giả đạo đức than phiền khi thấy nhiều người chú tâm đến những việc sùng kính khác, mà lơ là việc sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Có nhiều nhà giảng thuyết và cha giải tội đã nói đến nhiều điều trọng đại, nhưng lại nói quá ít về việc yêu mến Chúa Giêsu Kitô.

Yêu mến Chúa Giêsu Kitô phải là việc chính; đúng hơn, phải là việc sùng kính duy nhất của một Kitô hữu. Yêu mến Chúa Giêsu Kitô phải là đề tài và mối quan tâm duy nhất của các nhà giảng thuyết và các cha giải tội - tất cả phải không ngừng đốt lên trong lòng người nghe ngọn lửa yêu mến Chúa Giêsu Kitô. Không thực hiện điều này là lý do khiến người ta chậm tiến trên đường nhân đức và vẫn đắm mình trong tính mê nết xấu. Thiếu lòng sùng kính Thánh Tâm là lý do khiến người ta hay tái phạm tội trọng, vì họ ít chú tâm, và không được khuyến khích đủ để có được lòng yêu mến Chúa Giêsu Kitô, là sợi dây vàng nối kết và ràng buộc linh hồn với Thiên Chúa.

Vì lý do này mà Ngôi Lời Hằng Hữu đã đến thế gian, để làm cho người ta yêu mến Người: Ta đã mang lửa đến thế gian (Lc 12:49). Vì lý do này mà Chúa Cha Hằng Hữu đã sai Con Ngài xuống thế gian, để Người giúp chúng ta nhận biết Tình Yêu của Ngài mà tận tình đáp mến. Chúa Cha sẽ yêu mến chúng ta theo cùng một mức độ chúng ta yêu mến Chúa Giêsu Kitô: Vì vậy chính Chúa Cha yêu thương các con vì các con đã yêu mến Thầy và các con tin rằng Thầy từ Cha mà đến (Gioan 16:27). Hơn nữa, Ngài ban ân sủng cho chúng ta khi chúng ta cầu xin nhân danh Con Ngài: Ðiều gì các con nhân danh Thầy mà xin cùng Chúa Cha, Ngài sẽ ban cho các con (Gioan 16:23). Thế nhưng, chúng ta sẽ không bao giờ được trở nên giống hình ảnh Chúa, ngay cả cũng không có được ước muốn được trở nên giống hình ảnh Chúa, nếu chúng ta không suy niệm về tình yêu mà Chúa Giêsu Kitô đã tỏ ra cho chúng ta.

Vì mục đích này- như được thuật lại nơi đời sống của Thánh Margarita Maria Alacốc, một nữ tu Dòng Ðức Mẹ Thăm Viếng- Chúa Cứu Thế đã mạc khải cho người tôi tá này rằng Người mong ước việc sùng kính và Lễ Thánh Tâm được thiết lập và quảng bá trong Hội Thánh. Nhờ việc này, những tín hữu đạo đức, qua việc tôn thờ và cầu nguyện, sẽ đền tạ cho những xúc phạm mà Thánh Tâm Chúa phải chịu thường xuyên bởi nhân loại bội bạc khi Người hiện thân trong Phép Thánh Thể trên bàn thờ.

Người ta kể rằng khi người nữ tu thánh thiện này cầu nguyện trước Thánh Thể, Chúa Giêsu Kitô chỉ cho Chị Trái Tim Người bị mão gai quấn chung quanh, với một thánh giá ở trên, và trong một ngai bằng lửa. Chị đã thuật lại rằng Chúa Giêsu nói với Chị: “Này đây Trái Tim đã yêu thương nhân loại, và đã không tiếc gì với họ, ngay cả việc thiêu hủy chính mình để cho họ bảo chứng tình yêu của nó, nhưng đã nhận lại được từ phần lớn nhân loại, không một sự đáp trả nào ngoài sự vô ơn bạc nghĩa, và những sự lăng nhục đối với Bí Tích Tình Yêu.”

Việc sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu không gì khác hơn là việc thực hiện lòng yêu mến dành cho Chúa Cứu Thế yêu thương của chúng ta. Vì thế, đối tượng chính của việc sùng kính này, đối tượng tâm linh của việc sùng kính này, là tình yêu mà Trái Tim Chúa Giêsu đang bừng cháy cho tất cả chúng ta.

Giờ đây, chúng tôi cố gắng làm thỏa mãn lòng sùng kính của những người đang thiết tha yêu mến Chúa Giêsu Kitô, và muốn tôn vinh Người trong Phép Thánh Thể, qua tuần cửu nhật với những bài suy niệm và những tâm tình thánh thiện dành cho Thánh Tâm Người.

---------------

 

 

3- NGÀY THỨ NHẤT

Trái Tim Ðáng Yêu Của Chúa Giêsu

 

Suy niệm:

Những người tỏ ra đáng yêu trong mọi sự phải được mọi người thực sự mến yêu. Chớ gì chúng ta tận tâm tìm hiểu tất cả những phẩm tính tốt lành mà qua đó Chúa Giêsu Kitô đã cho thấy rằng Người đáng được chúng ta yêu mến, để rồi chúng ta hết thảy sẽ phải yêu mến Người. Chúng ta có tìm được một trái tim nào đáng yêu hơn Trái Tim Chúa Giêsu không? Một Trái Tim hoàn hoàn tinh khiết, hoàn hoàn thánh thiện, tràn đầy tình yêu đối với Thiên Chúa và chúng ta; bởi vì tất cả ước muốn của Người chỉ là vinh danh Thiên Chúa và sự lành cho chúng ta mà thôi. Ðây là Trái Tim mà trong đó Thiên Chúa tìm thấy mọi sự vui thỏa. Mọi sự toàn thiện và mọi nhân đức ngự trong Trái Tim này.

Trong Chúa Giêsu chúng ta tìm thấy tất cả những gì là quyến rũ và ưng ý. Có người yêu kẻ khác vì bị quyến rũ bởi sắc đẹp, có người vì sự ngây thơ, có người vì chung sống, có người vì sự sùng mộ. Nhưng nếu có một người hội đủ tất cả những phẩm tính đó và mọi nhân đức khác, thì ai lại không yêu mến người ấy? Giả sử chúng ta nghe nói ở một xứ xa xôi nọ, có một ông hoàng đẹp trai, khiêm nhường, lịch thiệp, thánh đức, đầy bác ái, và chỉ lấy ơn trả oán, thì mặc dù chúng ta không biết ông hoàng này và cũng không có cơ may quen biết ông, chúng ta vẫn có thể say mến ông, và cảm thấy yêu ông. Thế thì tại sao Chúa Giêsu Kitô, là Ðấng có tất cả mọi nhân đức nơi mình, và có một cách hoàn hảo nhất, và là Ðấng yêu thương chúng ta cách rất dịu hiền, lại không được nhân loại mến yêu, và không là đối tượng duy nhất của tình yêu chúng ta?

Chúa con ơi, tại sao Chúa Giêsu là Ðấng duy nhất đáng được yêu mến, và là Ðấng đã cho chúng con quá nhiều bằng chứng tình yêu của Người dành cho chúng con, lại không thành công trong việc làm cho chúng con mến yêu Người! Ðiều này đã khiến Thánh Rosa thành Lima, Thánh Catarina thành Giênôa, Thánh Têrêsa (Avila), Thánh Maria Mađalêna thành Pazzi phải khóc sướt mướt khi nghĩ đến sự vong ân bội nghĩa của nhân loại, đã phải kêu lên trong nước mắt:

 “Ôi Tình Yêu không được yêu lại! Ôi Tình Yêu không được yêu lại!”

 

Yêu mến và cầu nguyện

Lạy Ðấng Cứu Chuộc đáng yêu của con, con có thể yêu ai nhiều hơn yêu Chúa? Chúa là vẻ đẹp của thiên đàng, Chúa là Tình Yêu của Chúa Cha, Thánh Tâm Chúa là ngai tòa nhân đức. Ôi Trái Tim đáng yêu của Chúa Giêsu của con, Chúa đáng được mọi tâm hồn yêu mến; thật nghèo nàn và bất hạnh cho những tâm hồn không yêu mến Chúa. Chúa ơi, tâm hồn con đã khốn khổ biết bao những khi con không yêu mến Chúa. Nhưng con sẽ không còn bất hạnh nữa. Con yêu Chúa, và con nhất định sẽ yêu Chúa không ngừng.

Giêsu, Chúa con ơi, con đã bao phen quên Chúa, và giờ đây con còn dám trông mong gì? Sự bội bạc của con có buộc Chúa quên và ruồng bỏ con không? Không, lạy Ðấng Cứu Ðộ con, xin đừng cho phép điều đó xảy ra. Chúa là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa vì thế Chúa phải được một người tội lỗi khốn cùng yêu mến. Ôi ngọn lửa xinh tươi đang bừng cháy trong Trái Tim yêu thương của Chúa Giêsu của con, xin nhóm lên trong trái tim khốn cùng của con ngọn lửa thánh đó, ngọn lửa đã được Chúa đã mang xuống từ trời để soi sáng thế gian. Xin hãy thiêu hủy tất cả những tình cảm dơ nhớp trong lòng con ngăn cản nó thuộc trọn về Chúa.

Lạy Thiên Chúa của con, xin làm cho trái tim con chỉ có để yêu Chúa, một mình Chúa, Ðấng Cứu Ðộ yêu dấu nhất của con mà thôi. Nếu có lần con đã khinh thường Chúa, thì giờ đây Chúa là đối tượng duy nhất của tình yêu con. Con yêu Chúa, con yêu Chúa, con yêu Chúa, và con sẽ không yêu bất cứ ai ngoài Chúa. Ôi Chúa yêu dấu của con, xin đừng từ chối tình yêu của một tâm hồn đã một lần làm tổn thương Chúa vì tội lỗi con. Xin hãy làm vinh danh Chúa bằng cách phơi bày cho các thiên thần một trái tim giờ đây nồng cháy tình yêu Chúa; trái tim đã có lần xa lánh và khinh thường Chúa.

Lạy Rất Thánh Ðồng Trinh Maria, là hy vọng của con. Xin Mẹ giúp con, và nài xin Chúa Giêsu làm cho con trở nên tất cả những gì Người muốn nơi con nhờ ân sủng của Người.

 

------------------

 

 

 

4- NGÀY THỨ HAI

Trái Tim Yêu Thương của Chúa Giêsu

 

Suy niệm

Chớ gì chúng ta hiểu được tình yêu đang rực cháy trong Trái Tim Chúa Giêsu vì chúng ta! Người đã thương yêu chúng ta quá sức đến nỗi ngay cả nếu tất cả mọi người, tất cả các thiên thần, và tất cả các thánh họp lại, với tất cả năng lực của họ, họ cũng không thể đạt được một phần ngàn tình yêu của Chúa Giêsu dành cho chúng ta. Người yêu chúng ta vô cùng, hơn cả chúng ta yêu chính mình.

Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta quá bội, và còn tình yêu nào quá bội hơn tình yêu đã khiến Thiên Chúa chịu chết cho các thụ tạo của Người? Người đã yêu chúng ta đến cực độ: Vì Người đã yêu những kẻ thuộc về Người trên thế gian, Người yêu họ cho đến cùng (Gioan 13:1). Người đã yêu chúng ta từ muôn thuở, vì không có một lúc nào từ đời đời mà Thiên Chúa không nghĩ đến chúng ta và không thương yêu mỗi người trong chúng ta: Ta đã yêu các người với một tình yêu vĩnh cửu (Jeremiah 31:3). Vì yêu chúng ta, Thiên Chúa đã làm người và chọn một cuộc sống đau khổ và chết trên thập giá cho chúng ta. Người đã yêu thương chúng ta trọn vẹn và đã hy sinh mọi sự để cho chúng ta nhận ra tình yêu Người dành cho chúng ta. Phải chăng tình yêu quá bội này đủ khiến các thiên thần trên Thiên Ðàng phải ngẩn ngơ kinh ngạc muôn đời?

Tình yêu này cũng lôi kéo Chúa ở lại với chúng ta bây giờ trong Phép Thánh Thể, như ngự trên ngai tòa tình yêu, vì Người ở lại nơi đó dưới hình dáng của một miếng bánh nhỏ bé, bị nhốt lại trong nhà tạm, nơi đó Người ở lại để yêu thương chúng ta. Tình yêu khiến chúng ta ao ước sự hiện diện không ngừng của đối tượng chúng ta yêu. Chính tình yêu và lòng ao ước này đã khiến Chúa Giêsu cư ngụ với chúng ta trong Bí Tích Cực Trọng. Ba mươi ba năm Người sống với chúng ta trên trần gian đã không đủ dài. Vì thế, để chứng tỏ lòng Người mong ước được ở cùng chúng ta, Người đã làm một phép lạ cả thể nhất trong các phép lạ qua việc lập Phép Thánh Thể. Người ở lại nơi đó vì Người không thể tự xa lìa chúng ta.

Tình yêu của Chúa đã thúc bách Người trở nên lương thực nuôi linh hồn chúng ta, để kết hợp chính Người với chúng ta, và làm cho Trái Tim Người và trái tim chúng ta nên một: Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong người ấy (Gioan 6:56). Ôi sự quá bội của Tình Yêu Thiên Chúa! Ðây là một mầu nhiệm đức tin vượt quá sự hiểu biết của con; con không thể hiểu được. Ôi tình yêu của Chúa Giêsu, xin làm cho con biết Chúa và yêu Chúa!

 

Yêu mến và cầu nguyện

Ôi Trái Tim đáng tôn thờ của Chúa Giêsu của con, Trái Tim bừng cháy tình yêu dành cho nhân loại, Trái Tim được dựng nên để yêu thương họ, sao Chúa lại có thể bị khinh miệt và tình yêu Chúa không thông chia được cho nhân loại? Ôi, khốn thân con, con cũng đã là một trong những kẻ vong ân không mến yêu Chúa. Con cảm thấy con đáng bị kết án suốt đời không thể yêu Chúa vì con đã một lần từ bỏ tình yêu Chúa. Ôi Cứu Chúa của con, xin Chúa trừng phạt con cách nào khác chứ đừng phạt con cách này. Xin ban cho con ơn yêu mến Chúa, rồi gửi đến cho con bất cứ sự khó nào Chúa muốn.

Ôi Tình Yêu của Chúa Giêsu, Chúa là tình yêu của con. Ôi Trái Tim nồng cháy của Chúa Giêsu, xin cũng hãy thiêu đốt lòng con. Trong tương lai, xin đừng cho phép con sống mà không yêu mến Chúa, cho dầu chỉ một giây phút thôi. Con tín thác nơi máu Chúa đã đổ ra cho con; nhờ đó, con sẽ luôn được yêu Chúa, và Chúa sẽ luôn yêu con, và tình yêu này giữa Chúa và con sẽ không bị tan vỡ đời đời.

Ôi Maria, Mẹ của tình yêu xinh tươi, Mẹ là Ðấng rấtù ước mong cho mọi người yêu mến Chúa Giêsu, xin Mẹ buộc chặt con, kết hợp con lại với Con Mẹ, nhưng xin trói buộc con với Chúa cách nào để chúng con không bao giờ rời xa nhau nữa.

 

----------------o----------------

 

 

 

5- NGÀY THỨ BA

 

Trái Tim Chúa Giêsu Ước Muốn Ðược Mến Yêu

 

Suy niệm

Chúa Giêsu không cần chúng ta. Chúng ta có yêu Người hay không, Người cũng vẫn hạnh phúc, vẫn giầu sang, vẫn quyền phép như vậy. Tuy nhiên, như Thánh Tôma dạy, Người yêu chúng ta quá đỗi đến độ Người ước muốn tình yêu của chúng ta như thể nhân loại là Thiên Chúa của Người vậy, và như thể sự sống của Người lệ thuộc vào nhân loại. Ðiều này đã khiến Thánh Gióp phải kinh ngạc thốt lên: Con người là chi mà Chúa coi trọng, mà Chúa phải chú tâm đến như thế? (Gióp 7:17).

Lạ chưa? Có thể nào Thiên Chúa lại ước muốn và nài xin tình yêu của loài sâu bọ một cách thiết tha như thế? Chỉ cần Chúa cho phép chúng ta yêu mến Người đã là một ân huệ lớn lao rồi. Các bậc vua chúa trên trái đất này không tự hạmình để làm điều đó, nhưng Chúa Giêsu, Ðấng là Vua Trời cao cả, đòi chúng ta yêu mến Người: Các con hãy kính mến Chúa, là Thiên Chúa chúng con, với hết cả tâm hồn (Mt 22:37). Người khẩn khoản nài xin tấm lòng của chúng ta: Con ơi, con hãy dâng lòng con cho Cha (Châm Ngôn 23:26). Nếu Người bị xua đuổi ra khỏi một linh hồn, Người sẽ không bỏ đi, nhưng Người đứng lại ở cửa lòng mà kêu gọi và gõ cửa để được vào lại: Ta đứng ở ngoài cửa và gõ (Khải Huyền 3:20). Tóm lại, Chúa Giêsu sung sướng được chúng ta yêu mến và cảm thấy được an ủi khi một người thưa với Chúa, và lập lại thường xuyên, “Lạy Chúa con, lạy Chúa con, con yêu mến Chúa.”

“Tại sao Thiên Chúa yêu thương, nếu không phải là để chính Người được yêu lại” Thánh Bênađô nói thế. Và chính Thiên Chúa nói, Các con hãy yêu mến Ta và phụng sự Ta với hết cả tấm lòng và linh hồn. (Thứ Luật 10:12). Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng Người là một chủ chăn khi tìm được con chiên lạc đã mời gọi mọi người chung vui với mình: Hãy chung vui với tôi vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc (Luca 15:6). Người nói với chúng ta rằng Người là người Cha, khi đứa con hoang đàng trở về phủ phục dưới chân ông, ông không những chỉ tha thứ cho, mà còn âu yếm ôm hôn cậu. Chúng ta còn có thể không xúc động để đáp trả tình yêu của Thiên Chúa trước những lời mời gọi và đoan hứa như thế chăng?

 

Yêu mến và cầu nguyện

Lạy Ðấng Cứu Chuộc rất yêu dấu của con, con sẽ thưa với Chúa, cùng với Thánh Augustinô, rằng Chúa truyền cho con yêu Chúa và đe dọa phạt con xuống hỏa ngục nếu con không yêu Chúa. Còn gì khủng khiếp hơn hỏa ngục? Còn sự bất hạnh nào lớn hơn là việc đánh mất tình yêu Chúa? Nếu Chúa muốn làm con kinh hãi, xin chỉ đe dọa con rằng con sẽ tiếp tục sống mà không được yêu Chúa - vì nguyên sự sự đe dọa này thôi sẽ làm con sợ hãi hơn cả ngàn hỏa ngục. Vì, nếu giữa lửa hỏa ngục, những linh hồn bị trầm đọa có thể bừng cháy tình yêu Chúa thì, Chúa ơi, hỏa ngục sẽ trở thành thiên đàng. Ngược lại, nếu các thánh trên thiên đàng mà không thể yêu Chúa, thì thiên đàng sẽ trở nên hỏa ngục. Ðó là điều Thánh Augustinô muốn dạy chúng con.

Lạy Thiên Chúa rất yêu dấu của con, con thấy rằng con thực đáng bị ơn Chúa ruồng bỏ vì các tội lỗi con. Cũng vậy, con đáng bị kết án để không còn khả năng yêu Chúa được nữa. Nhưng con vẫn hiểu rằng Chúa tiếp tục truyền cho con yêu mến Chúa, và con cũng cảm thấy trong con một lòng khao khát lớn lao được yêu mến Chúa. Ước muốn này là một món quà của ân sủng Chúa và đến từ Chúa. Xin ban cho con sức mạnh cần thiết để cộng tác với ơn Chúa. Và xin Chúa khiến con, từ nay trở đi, thành một người có thể cầu nguyện tận đáy lòng và luôn lập lại với Chúa: “Lạy Chúa con, con yêu Chúa, con yêu Chúa, con yêu Chúa!” Xin xóa khỏi ký ức Chúa những tội con đã phạm tới Chúa. Chúng ta hãy yêu nhau từ hôm nay trở đi. Con nhất định sẽ không lìa bỏ Chúa, và Chúa sẽ không lìa bỏ con. Chúa sẽ luôn yêu con, và con sẽ luôn yêu Chúa.

Ôi Maria, Nữ Trinh Vô Nhiễm, xin Mẹ giúp con và xin Mẹ cầu cùng Chúa Giêsu cho con.

 

-----o-----

 

 

6- NGÀY THỨ BỐN

 

Trái Tim Ðau Buồn của Chúa Giêsu

 

Suy niệm

Chúng ta không thể nào không cảm thương Chúa Giêsu khi suy nghĩ đến việc Trái Tim của Chúa bị sầu khổ biết chừng nào? Người nói với chúng ta rằng Trái Tim Người bị chất đầy những nỗi buồn đau: Linh hồn Thầy buồn phiền đến nỗi chết (Marcô 14:34). Nỗi đau buồn chính làm khổ Chúa không phải là cảnh tượng những cực hình và sỉ nhục mà nhân loại đã chuẩn bị cho Chúa, nhưng là cảnh tượng những sự vong ân đối với tình yêu bao la của Người. Chúa Giêsu thấy trước mọi tội lỗi mà chúng ta sẽ phạm sau tất cả những đau khổ của Người và sau cái chết đắng cay ô nhục như thế. Người thấy trước những sỉ nhục kinh khủng mà con người sẽ xúc phạm đến Trái Tim đáng tôn thờ của Người, Trái Tim mà Người đã để lại cho chúng ta trong Phép Thánh Thể như là bảo chứng tình yêu của Người. Ôi lạy Thiên Chúa của con, kinh khủng thay những xúc phạm Chúa Giêsu phải chịu trong Bí Tích Tình Yêu!

Thế nhưng, cảnh tượng của tất cả những sỉ nhục này không ngăn cản được Chúa để lại cho chúng ta bảo chứng tình yêu lớn lao này của Người. Người gớm ghét tội lỗi, nhưng dường như tình yêu của Chúa dành cho chúng ta đã vượt thắng sự gớm ghét tội lỗi này của Người, bởi lẽ Người thà để những sự phạm thánh này xảy ra, chứ không nỡ để những linh hồn yêu mến Người mất đi thứ thần lương này. Ðiều này lẽ nào không khiến ta yêu mến Trái Tim đã quá yêu chúng ta sao?

Chúa Giêsu Kitô đã làm đủ để đáng được chúng ta yêu. Nếu chúng ta tiếp tục bỏ rơi Chúa trên bàn thờ như phần lớn nhân loại thì chúng ta vô ơn bạc nghĩa đến thế nào? Chúng ta có nên hợp đoàn với số ít người nhận biết Chúa không? Trái Tim Chúa Giêsu ở trong Bí Tích Thánh Thể đang bừng cháy lửa yêu mến chúng ta. Chúng ta có nên bừng cháy lửa yêu mến Chúa Giêsu trước sự hiện diện của Người không?

 

Yêu mến và cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu rất đáng tôn thờ và rất yêu dấu, dưới chân Chúa đây là một người đã gây biết bao đau buồn cho Trái Tim đáng yêu của Chúa. Ôi Thiên Chúa của con, sao con nỡ gây thương tích cho Trái Tim Chúa đã quá yêu con và đã không tiếc bất cứ điều gì để làm cho con yêu Chúa? Nhưng xin Chúa tự an ủi, con sẽ thưa cùng Cứu Chúa con, vì trái tim con, đã bị thương tích bởi ân sủng và tình yêu cực thánh của Chúa, giờ đây cảm thấy hối hận vì những tội lỗi con xúc phạm đến Chúa. Giêsu, Chúa con ơi, xin ban cho con nỗi đau buồn vì tội lỗi con mà Chúa đã cảm nhận trong đời Chúa! Lạy Cha Hằng Hữu, con xin dâng lên Cha nỗi đau buồn mà Con Cha đã cảm nhận vì tội lỗi con. Con xin Cha ban cho con nỗi đau buồn lớn lao vì những tội lỗi con đã phạm tới Cha, để con sẽ sống một đời không còn khinh rẻ tình thân của Cha nữa.

Giêsu, Chúa con ơi, từ nay trở đi, xin ban cho con ơn ghê sợ tội lỗi, để con gớm ghét ngay cả những lỗi thật nhỏ, vì chúng làm mất lòng Chúa. Ôi Chúa yêu dấu của con, giờ đây con chán ghét mọi sự làm mất lòng Chúa, và trong tương lai, con nhất định chỉ yêu một mình Chúa, và chỉ yêu những gì Chúa yêu. Xin giúp con, Chúa ơi, xin ban cho con sức mạnh, xin ban cho con ơn kêu cầu Chúa không ngừng, Ôi Chúa Giêsu của con, và cho con luôn lập lại với Chúa lời cầu khẩn này: “Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho con tình yêu Chúa, xin ban cho con tình yêu Chúa, xin ban cho con tình yêu Chúa.”

Lạy Rất Thánh Ðức Mẹ Maria, xin ban cho con ơn biết cầu nguyện không ngừng với Mẹ và thưa cùng Mẹ, Ôi Mẹ của Con, xin làm cho con yêu mến Chúa Giêsu Kitô.

 

---------oooooooo--------

 

 

 

 

7- NGÀY THỨ NĂM

Trái Tim Thương Cảm của Chúa Giêsu

 

Suy niệm

Chúng ta sẽ tìm đâu được một trái tim thương cảm hay dịu hiền, hoặc có sự cảm thông với những nỗi khốn khổ của chúng ta hơn Trái Tim Chúa Giêsu?

Lòng thương cảm này đã lôi kéo Chúa Giêsu từ trời xuống trần gian. Nó làm cho Người nói rằng Người là mục tử nhân lành đến để thí mạng sống vì đoàn chiên. Ðể ban ơn tha thứ tội lỗi cho chúng ta, Người đã không dung tha cho chính Người, nhưng đã hi sinh chính Mình trên Thánh Giá. Nơi những đau khổ của Người, Chúa Giêsu đã gánh thay ta án phạt mà chúng ta đáng phải chịu. Nỗi xót xa và lòng thương cảm này khiến cho Người ngay cả lúc này phải nói: Hỡi Israel, sao ngươi phải chết? Ta không muốn ai chết cả.. nhưng muốn các người ăn năn hối cải và được sống! (Ezekien 18:31-32). Các con cái đáng thương của Ta, tại sao các con chạy trốn ta? Các con không thấy rằng bằng cách xa lánh Ta các con sẽ tự đổ xô vào cái chết đời đời hay sao? Ta không muốn thấy các con bị hư mất. Ðừng thất vọng. Bất cứ lúc nào các con muốn trở về, hãy trở về, và các con sẽ được phục hồi sự sống. Hãy hối cải và được sống!

Giêsu, Chúa con ơi, Chúa tha thứ cho người tội lỗi biết hối cải, và ban cho họ tất cả mọi sự trong những lần Hiệp Lễ trong đời họ. Ngay cả trên thiên đàng, với vinh quang vĩnh cửu, Chúa không tỏ ra một chút khó chịu nào khi kết hợp với các linh hồn đã từng xúc phạm đến Chúa. Ôi Cứu Chúa rất yêu dấu của con, con tìm ở đâu được một trái tim rất đáng yêu và thương cảm như Trái Tim Chúa?

 

Yêu mến và cầu nguyện

Ôi Trái Tim thương cảm của Chúa Giêsu của con, xin đoái thương con: Ôi Chúa Giêsu rất dịu ngọt, xin thương xót con. Giờ đây, con thưa cùng Chúa và nài xin Chúa ban cho con ơn được luôn thưa cùng Chúa, “Lạy Chúa Giêsu rất dịu ngọt, xin thương xót con.” Ngay cả trước khi con xúc phạm đến Chúa, Ôi Cứu Chúa của con, chắc chắn con đã không đáng được những ân huệ Chúa đã dành cho con. Chúa đã dựng nên con, Chúa đã ban cho con ánh sáng và sự hiểu biết, và tất cả mọi sự dầu con không có công trạng gì. Nhưng con đã xúc phạm đến Chúa. Con không những không đáng được ân huệ của Chúa, mà còn thực đáng bị Chúa ruồng bỏ và ném vào hỏa ngục.

Lòng thương cảm Chúa đã khiến Chúa đợi chờ con và gìn giữ sự sống con ngay cả khi con đã xúc phạm đến Chúa. Lòng thương cảm Chúa đã soi sáng con và ban ơn tha thứ cho con. Nó đã cho con biết đau buồn vì tội lỗi con và lòng ao ước yêu mến Chúa. Giờ đây, con trông cậy lòng thương xót Chúa để được luôn ở lại trong ân nghĩa Chúa. Ôi Chúa Giêsu của con, xin chớ ngừng tỏ cho con lòng thương cảm Chúa đối với con. Con yêu Chúa và con nhất định sẽ luôn yêu Chúa. Xin đừng bao giờ để con lìa xa Chúa; xin đừng bao giờ để con lìa xa Chúa.

Maria, Mẹ con ơi, xin đừng bao giờ để con lìa xa Thiên Chúa của con.

 

---------oo--------

 

 

 

8- NGÀY THỨ SÁU

 

Trái Tim Quảng Ðại của Chúa Giêsu

 

Suy niệm

Ðặc điểm của những người có lòng tốt là ước ao làm cho mọi người hạnh phúc, nhất là những người buồn phiền và thống khổ. Nhưng nào có ai tìm được một người có tấm lòng tốt hơn tấm lòng Chúa Giêsu Kitô? Người là sự tốt lành vô hạn, và có lòng mong ước vô cùng để thông truyền sự giầu sang của Người cho dân Người: Giầu sang và danh dự thuộc về Ta,... Ta ban cho những ai yêu mến Ta (Châm Ngôn 8:18,21). Vì lý do này Người làm cho mình trở nên nghèo, như thánh tông đồ nói, để Người làm cho chúng ta nên giàu có: Mặc dầu Người giàu sang, Người đã trở nên nghèo hèn để làm cho anh em trở nên giàu sang nhờ sự nghèo hèn của Người (2 Corinthô 8:9). Vì mục đích này Chúa cũng chọn ở lại với chúng ta trong Phép Thánh Thể, nơi đó Người ở lại liên lỉ với đôi tay đong đầy ân sủng sẵn sàng ban phát cho những ai đến thăm viếng Người. Vì lý do này, Người cũng hoàn toàn hiến mình cho chúng ta trong lúc Hiệp Lễ, từ đó giúp ta hiểu rằng Người không thể từ chối ta bất cứ tặng ân tốt đẹp nào cả, bởi lẽ Người đã trao ban trọn vẹn chính Người cho ta: Sao Người lại không ban cho chúng ta tất cả mọi sự cùng với Người? (Roma 8:32).

Trong Trái Tim Chúa Giêsu, chúng ta nhận được mọi sự lành, mọi ân sủng mà chúng ta mong ước: Vì anh em đã trở nên phong phú hoàn toàn.... Anh em không thiếu một ơn thiêng liêng nào (1 Corinthô 1:5-7). Chúng ta phải hiểu rằng chúng ta mắc nợ Trái Tim Chúa Giêsu mọi ân sủng chúng ta đã nhận được - ơn cứu chuộc, ơn kêu gọi, ơn soi sáng, ơn tha thứ, ơn chống trả cám dỗ, và ơn kiên nhẫn trong nghịch cảnh - vì không có sự trợ giúp của Người, chúng ta sẽ không làm được điều gì lành: Không có Thầy, các con không làm được gì cả (Gioan 15:5).

Ðấng Cứu Chuộc chúng ta nói, nếu con chưa nhận được ơn con mong muốn, đừng than phiền với Ta, hãy trách mình, vì các con đã quên tìm kiếm nó nơi Ta: Cho đến bây giờ, các con đã chẳng xin gì nhân Danh Thầy; hãy xin và các con sẽ được để niềm vui của các con được nên trọn (Gioan 16:24). Trái Tim Chúa Giêsu rộng rãi biết bao với những ai kêu cầu Người! Tất cả chúng ta có cùng một Chúa, là Ðấng rất đại lượng với bất cứ ai kêu cầu Người (Roma 10:12). Những tín hữu thành khẩn xin Chúa Giêsu trợ giúp nhận được ơn thương xót vĩ đại dường bao! Vậy nên chúng ta hãy đến cùng Trái Tim này, và cầu xin với lòng tin tưởng, và chúng ta sẽ nhận được điều chúng ta mong muốn.

 

Yêu mến và cầu nguyện

Giêsu, Chúa con ơi, Chúa đã không từ chối ban cho con Máu Chúa và Sự Sống Chúa. Lẽ nào con lại từ chối dâng lên Chúa trái tim khốn cùng của con? Không, lạy Cứu Chúa rất yêu dấu của con, con xin dâng Chúa trót cả lòng con. Con xin dâng Chúa tất cả ý chí của con. Xin Chúa nhận lấy nó và dùng nó theo ý Chúa. Con không làm được gì, con không có chi, nhưng con có trái tim này mà Chúa đã ban cho con. Con có thể mất của cải, mất máu, mất sự sống, nhưng không bao giờ mất trái tim. Với trái tim này con có thể yêu Chúa; với trái tim này con nhất định sẽ yêu Chúa.

Con nài xin Chúa, Ôi Thiên Chúa của con, xin dạy con biết quên mình hoàn toàn. Xin dạy con phải làm gì để có được tình yêu tinh khiết của Chúa, mà nhờ lòng nhân lành của Chúa, Chúa đã làm cho con ao ước. Con cảm thấy trong con một quyết tâm làm vui lòng Chúa, nhưng để con thực hiện quyết tâm của con, con trông mong và khẩn nài sự giúp đỡ cần thiết của Chúa. Ôi Trái Tim yêu thương của Chúa Giêsu, con lệ thuộc vào Chúa để làm cho trái tim con được thuộc trọn về Chúa. Xin ban cho con ơn có được một ý chí luôn bừng cháy lửa mến yêu Chúa.

Ôi Mẹ Vô Nhiễm Ðồng Trinh Maria, Mẹ có phúc chừng nào vì Trái Tim Mẹ luôn kết hợp với Trái Tim Chúa Giêsu. Ôi Mẹ con, xin Mẹ ban cho con ơn này, là trong tương lai, cho con chỉ ước mong và khao khát những gì Chúa Giêsu muốn và những gì Mẹ muốn.

 

------------0000000----------

 

 

 

 

9- NGÀY THỨ BẢY

Trái Tim Biết Ơn của Chúa Giêsu

Suy niệm

Trái Tim Chúa Giêsu rất biết ơn đến nỗi Người không thể đón nhận một việc nào dù là việc tầm thường nhất làm vì yêu - một lời nguyện tắt hay một ước muốn tốt duy nhất của chúng ta - mà lại không ban thưởng cho từng việc một. Chúa Giêsu luôn rất mực biết ơn đến nỗi Người trả lại gấp trăm: Họ sẽ nhận được gấp trăm và sẽ được sống đời đời (Mt 19:29).

Khi biết ơn, loài người thường lấy ơn đền ơn. Họ trả ơn như một nhiệm vụ rồi không còn nghĩ đến nữa. Chúa Giêsu không theo gương chúng ta. Tốt hơn, Người trả lại gấp trăm ở đời này cho những việc lành chúng ta làm để vui lòng Người, và đời sau Người sẽ trả lại cho chúng ta nhiều lần vô cùng cho đến đời đời. Ai lại dại dột làm ngơ đến nỗi không chịu cố gắng hết sức có thể để làm vui lòng Trái Tim biết ơn này?

Ôi Thiên Chúa của con, người ta cố gắng làm đẹp lòng Chúa thế nào? Hay đúng hơn, con phải hỏi, sao người ta lại quá tệ bạc với Chúa, lạy Ðấng Cứu Chuộc con? Nếu Người chỉ đổ một giọt máu, hay một giọt lệ mà thôi để cứu chuộc chúng ta, thì chúng ta vẫn phải có nhiệm vụ biết ơn Người vô cùng, vì giọt máu và giọt lệ này có giá trị vô cùng trước mặt Thiên Chúa để đem lại mọi ân sủng cho ta. Nhưng Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta tất cả công nghiệp Người đã lập được từ mọi đau khổ và nhục nhã Người đã gánh chịu, tất cả máu Người đã đổ ra và chính sự sống Người đã hiến dâng, để chúng ta cảm thấy bổn phận phải hết lòng yêu mến Chúa không phải một lần mà không ngừng.

Ngay cả khi một con chó nhỏ tỏ dấu có tình cảm với chúng ta, nó dường như đòi chúng ta phải thương lại nó. Vậy, tại sao chúng ta lại quá vô ơn với Thiên Chúa? Dường như những phúc lộc của Thiên Chúa ban cho chúng ta như thể làm biến đổi bản tính chúng ta: thay vì nhận được lòng biết ơn và yêu mến, chúng không đạt được gì khác ngoài những sự xúc phạm và tổn thương cho Chúa. Lạy Chúa, xin soi sáng cho loài người vô ơn để họ nhận biết tình yêu Chúa đang ấp ủ cho chúng con.

Yêu mến và cầu nguyện

Ôi Chúa Giêsu yêu dấu của con, xin hãy đoái nhìn dưới chân Chúa đây một người tội lỗi vô ơn. Con đã biết ơn các thụ tạo, nhưng lại vô ơn với một mình Chúa; với Chúa là Ðấng đã chết cho con, và là Ðấng đã làm mọi sự có thể để khiến con yêu Chúa.

Lạy Chúa Giêsu rất yêu dấu, con đã thường xúc phạm và khinh miệt Chúa, nhưng giờ đây con yêu Chúa trên hết mọi sự, ngay cả hơn chính mình con! Xin Chúa hãy nói cho con biết Chúa muốn con phải làm gì, vì con sẵn sàng làm mọi việc với sự giúp đỡ của Chúa. Con tin rằng Chúa đã dựng nên con. Con tin rằng Chúa đã ban cho con máu Chúa và sự sống của Chúa để con được sống. Con tin rằng vì con mà Chúa ở lại trong Bí Tích Thánh Thể. Con cảm tạ Chúa vì ơn trọng này, Ôi tình yêu của con. Xin đừng để con trở nên bội bạc trong tương lai trước biết bao phúc lộc và bằng chứng tình yêu của Chúa.

Ôi lạy Chúa, xin trói buộc con, xin kết hợp con với Trái Tim Chúa, và đừng bao giờ để con xúc phạm hay làm mất lòng Chúa trong những năm tháng còn lại của đời con. Con đã làm mất lòng Chúa. Giờ đây là lúc con phải yêu mến Chúa. Ôi, chớ gì những năm con đánh mất có thể trở lại. Con biết rằng chúng sẽ không trở lại, và cuộc đời còn lại của con có thể thật ngắn ngủi. Nhưng đời con dầu ngắn hay dài, con ao ước dùng tất cả để yêu mến Chúa, lạy Chúa rất nhân lành, Ðấng đáng được yêu mến mãi mãi và vô cùng.

Maria, Mẹ con ơi, xin đừng bao giờ để con lại trở nên vô ơn với Con Mẹ. Xin Mẹ cầu cùng Chúa Giêsu cho con.

 

----------o-----------

 

 

 

 

10- NGÀY THỨ TÁM

Trái Tim Bị Khinh Chê của Chúa Giêsu

Suy niệm

Không có nỗi đau buồn nào lớn hơn cho một trái tim yêu thương khi thấy tình yêu của mình bị khinh miệt. Càng đau buồn hơn nữa khi, một mặt bằng chứng được bày tỏ của tình yêu này thật lớn lao, và mặt khác sự vô ơn cũng thật to lớn.

Nếu chúng ta phải từ bỏ mọi tài sản, phải vào sống trong sa mạc, phải ăn cỏ dại, phải ngủ trên nền đất, phải làm đủ các việc đền tội, và cuối cùng hiến mình để bị giết vì Chúa Kitô, thì những gì chúng ta dâng hiến có đủ để đền trả cho sự đau khổ, máu, và sự sống mà Con Thiên Chúa cao cả đã hiến dâng vì chúng ta không? Nếu chúng ta phải hy sinh chính mình từng giây phút cho đến chết, chúng ta chắc chắn vẫn không thể làm đủ để đáp trả một phần nhỏ đối với tình yêu mà Chúa Giêsu Kitô đã tỏ ra cho chúng ta khi hiến mình cho chúng ta trong Phép Thánh Thể.

Ôi Thiên Chúa của con, sự đền đáp và tạ ơn nào nhân loại đã dâng lên cho Chúa Giêsu Kitô? Ðối xử bất công, coi thường lề luật và phương châm của Chúa - những sự tổn thương mà họ đã không làm cho kẻ thù lớn nhất hay những tên côn đồ hung ác nhất trên trần gian - tất cả những tổn thương này là những sự Chúa Giêsu đã chịu, và vẫn còn phải chịu hằng ngày. Sao chúng ta lại không cảm thấy đau buồn vì chúng, và sao ta không cố gắng ít nữa là bằng tình yêu của chúng ta, đền trả tình yêu vô biên của Trái Tim Thần Linh của Người, vẫn đang ngự trong Phép Thánh Thể, bừng cháy lửa yêu mến chúng ta, và nóng lòng ban phát mọi ơn lành cho chúng ta?

Chúng ta đã quen nghe nói về Việc Tạo Dựng, Việc Nhập Thể, Việc Cứu Chuộc; về việc Chúa Giêsu sinh ra nơi máng cỏ và việc Chúa Giêsu chết trên thập giá. Ôi Thiên Chúa của con, nếu chúng con biết rằng có người nào khác đã ban cho chúng con một trong những phúc lộc này, chúng con chắc hẳn sẽ không cầm hãm được lòng yêu mến người đó. Dường như có thể nói được rằng, chỉ có một mình Thiên Chúa là gặp rủi ro đối với nhân loại, vì dẫu rằng Người đã làm tất cả những gì có thể để chúng con yêu Người, nhưng Người không đạt được mục đích đó. Thay vì được yêu, Thiên Chúa thấy mình bị khinh miệt và coi thường. Tất cả những điều này là do sự lãng quên của loài người đối với tình yêu Thiên Chúa.

Yêu mến và cầu nguyện

Ôi Trái Tim Chúa Giêsu, vực thẳm của lòng thương xót và tình yêu, sao con không chết được vì đau buồn khi con thấy lòng nhân lành mà Chúa đã tỏ cho con và sự vô ơn của con? Lạy Cứu Chúa của con, sau khi đã ban cho con sự sống, Chúa cũng đã ban cho con tất cả máu Chúa và sự sống của Chúa bằng cách hiến thân chịu đau khổ và chịu chết vì con. Vẫn không lấy thế làm đủ, Chúa lại còn hy sinh chính mình hằng ngày cho con trong Phép Thánh Thể. Ôi Thiên Chúa của con, làm sao để con thấy sự vô ơn của con đối với Chúa? Chúa ơi, con cầu xin Chúa chấm dứt sự vô ơn của con, bằng cách làm cho trái tim con bị thương tích bởi tình yêu Chúa và làm cho con thuộc trọn về Chúa.

Xin Chúa hãy nhớ đến máu và nước mắt Chúa đã đổ ra vì con mà tha tội cho con. Xin đừng để tất cả những đau khổ của Chúa trở nên uổng phí nơi con. Mặc dù con đã vô ơn và bất xứng với tình yêu Chúa, Chúa đã không ngừng yêu con, ngay cả khi con đã không yêu Chúa và ngay cả khi con không ao ước yêu Chúa. Xin Chúa ban cho con ơn bắt đầu yêu Chúa ít nữa là từ hôm nay. Xin cho con chết cho tất cả mọi sự trong con để con chỉ sống cho một mình Chúa, và xin cho con luôn bừng cháy lửa yêu mến Chúa.

Ôi Mẹ Maria, Trái Tim Mẹ là bàn thờ diễm phúc luôn cháy lửa yêu Chúa. Lạy Mẹ rất yêu dấu của con, xin làm cho con nên giống Mẹ. Xin Mẹ cầu cùng Con Mẹ ban cho con ơn này, Người vui mừng tôn vinh Mẹ, bằng cách không từ chối bất cứ điều gì Mẹ xin.

-----------o---------------

 

11- NGÀY THỨ CHÍN

Trái Tim Trung Tín của Chúa Giêsu

Suy niệm

Trái Tim xinh đẹp của Chúa Giêsu trung tín ngần nào với những ai Người mời gọi đến tình yêu của Người. Ðấng kêu gọi anh em thì trung tín và sẽ làm điều đó (1 Thessalonica 5:24).

Lòng trung tín của Thiên Chúa đem lại cho chúng ta sự tin tưởng để trông cậy mọi sự, mặc dù chúng ta không xứng đáng được điều gì. Nếu chúng ta đã xua đuổi Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn chúng ta, thì giờ đây ta hãy mở cửa lòng cho Thiên Chúa, và Người sẽ lập tức bước vào, như lời Người đã hứa. Ta đứng ngoài cửa và gõ. Nếu ai nghe tiếng Ta và mở cửa, Ta sẽ vào với người ấy (Khải Huyền 3:20). Nếu ta ước được ơn Chúa, ta hãy cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta, nhân danh Chúa Giêsu, và Người đã hứa rằng chúng ta sẽ nhận được: Ðiều gì các con nhân danh Thầy mà xin cùng Chúa Cha, Ngài sẽ ban cho các con (Gioan 16:23). Nếu chúng ta bị cám dỗ, chúng ta hãy tín nhiệm nơi công nghiệp của Người, biết rằng Người sẽ không cho phép quân thù thử thách chúng ta quá sức của ta: Thiên Chúa trung tín và sẽ không để anh em bị cám dỗ quá sức anh em (1 Corinthô 10:13).

Hãy so sánh sự trung tín của Thiên Chúa và sự trung tín của loài người. Con người ta thường hay hứa, rồi không giữ lời hứa, vì họ đã nói dối khi hứa hoặc vì sau khi hứa họ lại đổi ý. Thiên Chúa không phải người phàm có thể nói dối, hay con cái loài người phải hối hận. Có khi nào Người nói sẽ làm gì mà không làm chưa? Người có hứa gì mà Người không chu toàn chưa? (Dân Số 23:19). Thiên Chúa không thể bất tín với lời hứa của Người, vì Người là chính sự thật, Thiên Chúa không thể nói dối. Cũng thế, Thiên Chúa không thể đổi ý vì Ý Người thật công bình và chính đáng. Thiên Chúa đã hứa giúp đỡ và thương yêu tất cả những ai yêu mến Người.

Chớ gì chúng ta có thể trung tín với Thiên Chúa như Thiên Chúa trung tín cùng chúng ta! Ðã xảy ra quá thường trong quá khứ, chúng ta đoan hứa với Chúa là chúng ta sẽ phụng sự và yêu mến Người, để rồi lại chỉ phản bội Người, từ chối phụng sự Người, và bán mình làm nô lệ cho ma quỷ. Chúng ta hãy xin Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để trung thành với Chúa trong tương lai. Chúng ta có phúc chừng nào nếu chúng ta trung thành với Chúa Giêsu Kitô trong ít việc Người truyền cho chúng ta làm. Tốt lắm, đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, Ta sẽ ban thêm cho ngươi. Hãy vào mà chung vui cùng chủ ngươi (Mathêu 25:21).

Yêu mến và cầu nguyện

Lạy Chúa Cứu Chuộc rất yêu dấu của con, ước gì con được trung tín với Chúa như Chúa đã luôn trung tín với con. Mỗi khi con mở lòng con cho Chúa, Chúa đã bước vào và tha thứ cho con và đón nhận con vào trong tình yêu Chúa. Mỗi khi con kêu cầu Chúa, Chúa đã đến cứu giúp con. Chúa đã trung tín với con, nhưng con đã bất trung quá mức đối với Chúa. Con đã đoan hứa yêu mến Chúa và rồi nhiều lần đã từ chối dâng hiến Chúa tình yêu con, như thể --Chúa con ơi—Chúa là Ðấng đã dựng nên con và đã cứu chuộc con không đáng được yêu mến bằng một trong những thụ tạo của Chúa hay một vài thú vui hèn hạ. Giêsu, Chúa con ơi, xin tha thứ cho con. Con nhận biết sự vô ơn của con và con chê ghét nó. Con biết rằng Chúa là sự thiện hảo vô cùng và Chúa đáng được đón nhận một tình yêu vô cùng, cách riêng từ con, người Chúa đã yêu thương ngay cả sau tất cả mọi tội lỗi mà con đã phạm đến Chúa.

Ôi Trái Tim yêu thương và trung tín của Chúa Giêsu, xin hãy thiêu đốt trái tim khốn cùng của con để nó bừng cháy lửa yêu mến Chúa. Lạy Chúa Giêsu của con, giờ đây xem ra con đang yêu Chúa, nhưng con yêu Chúa ít quá. Xin Chúa hãy làm cho con yêu Chúa quá mức. Xin cho con trung thành với Chúa cho đến chết. Con xin Chúa ơn này, cùng với ơn luôn cầu xin Chúa ban thêm nhiều ân sủng và phúc lành. Xin cho con thà chết chứ không bao giờ phản bội Chúa nữa.

Maria, Mẹ con ơi, xin giúp con trung thành với Con Mẹ.

 

***

 

 

 

12- LỜI NGUYỆN KẾT

 

CÙNG THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

 

Ôi Trái Tim yêu thương của Ðấng Cứu Chuộc con! Chúa là nguồn mọi nhân đức, là nguồn mọi ân sủng, là lò lửa bừng cháy trong đó mọi người thánh đều rực lửa yêu Chúa. Chúa là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa, là nơi trú ẩn của những người thống khổ, và là tổ ấm của tất cả các linh hồn yêu mến Chúa.

Trái Tim Chúa đã bị thương tích vì con trên thập giá bởi lưỡi đòng tội lỗi của con. Trái Tim Chúa ở lại với con trong Phép Thánh Thể trên bàn thờ. Trái Tim Chúa yêu thương mọi người với sự dịu dàng, và được yêu lại rất ít. Xin đốt cháy mọi tâm hồn bằng tình yêu chân thành đối với Chúa!

Sao con không thể đi khắp thế gian mà làm cho mọi người nhận biết ơn Chúa, cho mọi người biết sự ngọt ngào và kho tàng Chúa ban phát cho tất cả những ai yêu mến Chúa? Xin nhận lấy ước nguyện của con là ước ao cho tất cả mọi tâm hồn yêu mến Chúa. Xin Chúa trở nên niềm an ủi cho con trong những cơn thử thách, sự an nghỉ cho con trong lao nhọc, sự thanh thản của con lúc lo âu, nơi ẩn náu của con trong giông tố. Con xin tận hiến cho Chúa thân xác và linh hồn con, trái tim và sự sống con, cùng với tất cả mọi sự thuộc về con. Con xin kết hợp với Chúa trong mọi tư tưởng, mọi tình cảm và ước muốn của con.

Lạy Chúa Cha Hằng Hữu! Con xin dâng Cha những tình cảm tinh khiết của Trái Tim Chúa Giêsu. Nếu Cha khước từ con, Cha không thể khước từ Con Cha. Nguyện xin Trái Tim Người bù đắp cho trái tim con những gì còn thiếu sót để con có thể trở nên đẹp lòng Cha.

(Dựa theo ấn bản Anh Ngữ 1997 của Nhà Xuất Bản Liguori do Lm. Thomas M. Santa, CSsR, soạn lại)

Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR.

******

 

 

13- VẤN ÐỀ TRÁI TIM

 

Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR.

Các nhà tu đức thường nói:

“Bản chất Kitô giáo là vấn đề của trái tim, của tấm lòng, của tâm hồn.”

Ðức Hồng Y Joseph Ratzinger viết: “Tin là hành động của trái tim.”

Tác giả sách Tiếng Gọi Thánh Tâm viết về linh mục và cũng có thể áp dụng cho mỗi tín hữu và những người sùng kính Thánh Tâm như sau: “Ðời sống linh mục bao giờ cũng phải là một cuộc trao đổi tình ái từ Thánh Tâm xuống lòng mình và từ lòng mình lên tới Thánh Tâm”.

Thành ngữ “đạo tại tâm” một cách nào đó đã diễn tả chính xác thực chất của việc sống đạo, sống thánh, nếu chữ “tâm” được hiểu một cách đầy đủ, đúng đắn. Thực vậy, giá trị đích thực của một người tùy thuộc ở bản chất của tấm lòng, của tâm hồn, của trái tim người ấy. Người tốt là người có tấm lòng tốt, người xấu là người có lòng dạ xấu xa. Bởi đó, thi hào Nguyễn Du có thơ rằng: “Thiện căn ở tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Kim Vân Kiều).

Hơn nữa, tâm hồn tốt đẹp dẫn đến một đời sống thiện hảo, một dáng vẻ đáng yêu. Tâm hồn độc dữ tạo nên một đời sống xấu xa và làm hỏng cả những tài năng sẵn có. Ðó là ý nghĩa câu thành ngữ: “Hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sinh. Hữu tướng vô tâm, tướng tòng tâm diệt.”

Việc hối cải—điều kiện căn bản để đón nhận Tin Mừng Chúa Kitô—cũng là vấn đề của trái tim. Ðó là quá trình biến đổi tâm hồn để tâm hồn của ta được trở nên giống tâm hồn của Chúa, đẹp lòng Chúa, và nên một với Người. Mọi việc bên ngoài chỉ có giá trị khi nó góp phần biến đổi tâm hồn hay được thúc đẩy bởi tình yêu ở tận đáy lòng.Tiên tri Joel viết:

Ðây là sấm ngôn của Ðức Chúa: “Nhưng ngay cả lúc này,

các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta,

hãy ăn chay, khóc lóc, và thống thiết than van.”

Ðừng xé áo, nhưng hãy xé lòng.

Hãy trở về cùng Ðức Chúa là Thiên Chúa của anh em,

bởi vì Người từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương,

Người hối tiếc vì đã giáng họa (2:12-13).

 

Nhưng tự sức riêng, con người ta không thể hiểu rõ tâm hồn của chính mình chứ chưa nói đến việc có sức để biến đổi tâm hồn của mình để trở nên tốt hơn. Ðiều khiến chúng ta vui mừng là chính Thiên Chúa, vì yêu thương con người, đã khởi xướng, hướng dẫn và thực hiện việc “thay tim” cho con người để họ có thể bước vào liên hệ yêu thương thiết thân với chính Người. Ðây là điều Thiên Chúa đã phán trong sách tiên tri Ezekiel:

”Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành” (36:26-27).

Ðó cũng là điều Thánh Vương Ðavít khi sám hối đã tha thiết nài xin cùng Chúa trong Thánh Vịnh 51:

”Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng,<BT> đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy” (Tv 51:12).

Như vậy, tất cả cố gắng sống niềm tin của ta sẽ không nhằm mục đích nào khác hơn là nhắm đến việc đón nhận và cộng tác với ơn thánh Chúa, để được Chúa biến đổi trái tim xấu xa tội lỗi của ta nên giống Trái Tim của chính Chúa Giêsu Cứu Thế, để trái tim ta kết hợp làm một với Thánh Tâm Người.

Ý nghĩa của từ ngữ “Trái Tim” hay “Tấm Lòng”

Từ ngữ “trái tim” hay “tấm lòng” được hiểu theo những ý nghĩa sau:

- diễn tả hay biểu thị cảm xúc hay thái độ của một người (“con tim vui,” “Và Con Tim Sẽ Vui Trở Lại” , “trái tim rướm máu”)

- chỉ một bản vị, một con người với trọn cả xác hồn, toàn thể con người (“tìm một tâm hồn,” “yêu với trọn cả trái tim”)

- là trung tâm thuộc linh của linh hồn một người, cốt lõi của các hoạt động của ý chí (chọn lựa, quyết định), cảm xúc và trí tuệ

- ý nghĩa là “trung tâm con người” có căn bản vững chắc trong Thánh Kinh

- “trái tim” hay “tấm lòng” là từ ngữ hay được dùng nhất trong Cựu Ước khi diễn tả con người. Từ ngữ “leb” hay “lebab” dùng để chỉ “trái tim” hay “tấm lòng” xuất hiện 858 lần trong Cựu Ước, 113 lần trong các Thánh vịnh.

Hiểu “trái tim” chỉ theo nghĩa diễn cả những tình cảm giác quan mà thôi là một lối hiểu hẹp hòi nông cạn. Lối hiểu này dẫn đến quan niệm sai lầm đồng hóa tình yêu hay việc sống đạo với những xúc cảm nhất thời, hay đánh giá sự thánh thiện theo sự thay đổi của những cảm xúc nơi những kinh nghiệm thiêng liêng mà thôi. Quan niệm hẹp hòi này giam hãm đời sống đức tin ở mức độ thấp kém của những cảm xúc hời hợt, không giúp người ta trung kiên giữ vững đức tin khi gặp thử thách khó khăn.

 

“Trái Tim” trong Cựu Ước.

Trong Cựu Ước, ta thấy Thiên Chúa đã dùng từ ngữ “trái tim” hay “tấm lòng” để áp dụng cho chính Người:

Trước đại hồng thủy “Ðức Chúa thấy rằng trên mặt đất sự gian ác của con người quả là nhiều, và suốt ngày lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu. Ðức Chúa hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng” (Kn 6:5-6).

Khi Vua Saul bất tuân lệnh truyền của Giavê, Người quyết định phế bỏ ông và chọn Ðavít làm vua thay ông. Tiên tri Samuel đã được Thiên Chúa sai đến nói với Vua Saul: “Nhưng giờ đây vương quyền của ngài sẽ không đứng vững. Ðức Chúa đã tìm cho mình một kẻ như lòng Người mong muốn, và Ðức Chúa đã đặt kẻ ấy làm người lãnh đạo dân Người, bởi vì ngài đã không giữ điều Ðức Chúa truyền cho ngài” (1 Sam 13:14).

Trong sách tiên tri Jeremiah, Chúa phán: “Ta sẽ cho các ngươi những mục tử đẹp lòng Ta; chúng sẽ khôn ngoan sáng suốt chăn dắt các ngươi” (Gie 3:15).

 

Trái tim cũng là nơi xác định hạnh phúc đích thực của mỗi người và là chỗ gặp gỡ giữa con người và Thiên Chúa. Tác giả Thánh Vịnh viết: “Biết bao kẻ nói rằng: ‘Ai sẽ cho ta thấy hạnh phúc?’

Lạy Chúa, xin tỏa ánh tôn nhan Ngài trên chúng con.

Chúa ban xuống lòng con nhiều hoan lạc

Hơn khi thiên hạ được mùa lúa rượu đầy dư” (Tv 4:7-8).

”Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ,

cứu những tâm thần thất vọng ê chề” (Tv 34:19).

”Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn,

Người sẽ cho được phỉ chí toại lòng” (Tv 37:4).

”Xin hướng lòng con nghiêng về thánh ý,

không ngả theo lợi lộc tiền tài” (Tv 119:36)

 

Trái tim còn là chỗ gặp gỡ kết giao giữa con người với nhau. “Tâm đầu ý hợp” là thế! Sách Các Vua II kể lại việc gặp gỡ kết giao giữa Yêhu và Yônađab như sau:

Bỏ đó trẩy đi, ông gặp Yônađab con của Rêkab ra đón ông. Ông chào và nói: “Lòng ông có trung trực với lòng tôi, như lòng tôi với lòng ông không?” Và Yônađab nói: “Dĩ nhiên!” Yêhu nói: “Dĩ nhiên thì hãy bắt tay” Và Yônađab đã bắt tay. Còn Yêhu đã đón ông lên xe với mình. Yêhu nói: “Hãy đi với tôi mà chứng kiến lòng nhiệt thành của tôi với Yavê” Và Yêhu đã đem ông ấy đi với mình trên xe (10:15-16).

 

”Trái Tim” trong Tân Ước.

Các từ ngữ Hy Lạp “kardia,” “koilia” và “splancha” dùng cho “trái tim” hay “tấm lòng” cũng thường xuất hiện trong Tân Ước.

Phúc Âm Luca cho thấy Chúa Giêsu là Ðấng thấu suốt tâm hồn mỗi người: “Nhưng Ðức Giêsu thấu biết họ đang suy nghĩ thế, nên Người lên tiếng bảo họ rằng: ‘Các ông suy nghĩ gì trong bụng vậy?’” (Lc 5:22)

Ðồng thời, Chúa Giêsu đã chỉ cho ta thấy tâm hồn chính là trung tâm phát xuất mọi điều hay dở nơi mỗi người. Giá trị và hạnh phúc của con người đều căn cứ ở tình trạng tâm hồn của người ấy:

”Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5:8).

”Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra. Người tốt thì rút cái tốt từ kho tàng tốt của mình; kẻ xấu thì rút cái xấu từ kho tàng xấu của mình” (Mt 12:35).

”Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh bị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế” (Mc 7:21-23).

Hơn nữa, việc yêu mến Thiên Chúa là điểm cốt yếu nhất của niềm tin phải được phát xuất từ tâm hồn: “Ngươi phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi” (Mc 12:30).

Một khi thiếu yếu tố chân thực từ đáy lòng, mọi hình thức hay nghi lễ thờ phượng đều không đáng Chúa chấp nhận. Vậy nên Chúa Giêsu đã trách những người biệt phái giả hình như sau: “Bọn giả hình! Chí lý thay điều Ysaya đã tuyên sấm trên các ngươi, rằng: Dân này tôn kính Ta ngoài môi, còn lòng chúng thì xa Ta một vời” (Mt 15:7-8).

Chúa Giêsu còn dạy rằng trái tim con người còn là nơi chứa đựng những gì quý báu nhất của họ: “Vì kho tàng các ngươi ở đâu, thì lòng các ngươi cũng ở đó” (Lc 12:34).

Như Thánh Công Ðồng Vaticanô II nhận xét: Chúa Giêsu “đã yêu mến bằng quả tim con người” (Gaudium et Spes 22), Người đã diễn tả những xúc động mến yêu sâu xa của Trái Tim nhân loại của Người trước những cảnh bơ vơ, bệnh tật, đói khát và chết chóc của con người (Mt 9:36; Mt 14:14, Mt 16:32; Lc 7:13-14; Ga 11:33-35

 

Từ ngữ “chạnh lòng thương” được Phúc Âm dùng để diễn tả lòng thương xót vô biên của Thánh Tâm Giêsu.

Ðể giúp con người biết yêu như Chúa yêu, sống như Chúa sống và nhận được sự nâng đỡ, ủi an, hướng dẫn của Người, Chúa Giêsu đã mời gọi họ đến học hỏi nơi Thánh Tâm của Người: “Hãy đến với Ta, hết những kẻ lao đao và vác nặng, và Ta sẽ cho nghỉ ngơi lại sức. Hãy mang lấy ách của Ta vào mình, hãy thụ giáo với Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng, và các ngươi sẽ tìm thấy sự nghỉ ngơi cho tâm hồn. Vì chưng ách của Ta thì êm ái, và gánh Ta lại nhẹ nhàng” (Mt 11:28-30).

Phúc âm Luca còn cho thấy vấn đề của niềm tin là vấn đề của tấm lòng khi Chúa Giêsu trách sự chậm tin của hai môn đệ trên đường về làng Emmau sau khi Người sống lại như sau: “Hỡi những kẻ ngu độn và trí lòng chậm tin vào mọi điều các tiên tri đã nói!” (Lc 24:25). Và hai ông cũng xét lại kinh nghiệm đức tin của họ dựa trên sự biến đổi của tâm hồn: “Lòng chúng ta đã không cháy bừng bừng, lúc dọc đàng Ngài ngỏ lời với ta, và giải nghĩa Kinh Thánh cho ta đó sao?” (Lc 24:32).

Sách Tông Ðồ Công Vụ cũng nói đến sự yêu thương hiệp nhất trong Hội Thánh thời sơ khai là sự hiệp nhất của tấm lòng: “Ngày ngày họ đồng tâm nhất trí chuyên cần lui tới Ðền thờ, bẻ bánh ở nhà, cùng nhau chia sẻ của nuôi thân, lòng hân hoan, dạ đơn thành, trong lời ngợi khen Thiên Chúa, trong sự mến phục của toàn dân” (2:46-47).

Thánh Phaolô dùng từ “kardia” ít là 50 lần trong các thư của người. Cũng cùng một tâm tình như Chúa Giêsu, Thánh Phaolô cũng nhận ra vấn đề của niềm tin là vấn đề của tấm lòng. Mọi liên hệ yêu thương giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau phải được phát sinh và thực hiện nơi tâm hồn:

”Bởi vì nếu ngươi tuyên xưng nơi miệng ngươi: Gêsu là Chúa! và nếu ngươi tin trong lòng ngươi: Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại từ cõi chết! ngươi sẽ được cứu. Vì tin trong lòng thì được sự công chính, và tuyên xưng nơi miệng thì được ơn cứu rỗi” (Rom 10:9-10).

”Mà bởi vì anh em là con cái, thì Thiên Chúa đã sai Thần Khí Con của Người vào lòng anh em, Thần Khí kêu lên: Abba, lạy Cha” (Gal 4:6).

”Lẽ đương nhiên là tôi phải có những tâm tình như thế đối với anh em hết thảy, bởi tôi hằng có anh em canh cánh nơi lòng tôi” (Phil 1:7) và “tôi trìu mến anh em hết hảy trong lòng dạ Ðức Kitô” (Phil 1:8).

Tất cả nỗ lực khuyến đức và xây dựng niềm tin của Thánh Phaolô có thể được tóm gọn trong câu: “Anh em hãy có nơi anh em tâm tư như đã có trong Ðức Kitô Giêsu” (Phil 2:5).

 

Những ý nghĩa chính của “trái tim” trong cái nhìn của Thánh Kinh:

Tiến Sĩ Timothy T. O’Donnell, tác giả cuốn Trái Tim Ðấng Cứu Thế, đưa ra những ý nghĩa chính của “trái tim” như đã được trình bày trong Thánh Kinh: Nói chung, Thánh Kinh xem trái tim như điểm trung tâm nơi một người, là những gì trung thực nhất nơi người ấy. Chính nơi ấy, Thiên Chúa sẽ gặp gỡ và hiệp thông tâm sự với con người. Theo nghĩa này, trái tim gần đồng nghĩa với lương tâm.

Các từ “leb” và “lebab” trong Cựu Ước, “kardia,” “koilia” và “splancha” trong Tân Ước đều chung ý nghĩa diễn tả trung tâm trung thực trực tiếp của một người, nơi phát sinh mọi tư tưởng, cảm xúc, chọn lựa.

Từ ngữ “trái tim” theo nghĩa nới rộng được dùng cho cả Thiên Chúa lẫn con người.

Thiên Chúa thực sự muốn mạc khải Trái Tim của Ðấng Thiên Sai theo ý nghĩa và sứ điệp ban đầu của Thánh Kinh.

Dù Trái Tim thể lý của Chúa Giêsu không được nói đến cách cụ thể rõ ràng trong Thánh Kinh, nhưng có rất nhiều đoạn văn trong Thánh Kinh có thể dùng để diễn tả tâm tình của Thánh Tâm Chúa Giêsu.

 

Tóm lại, cốt lõi của việc sống đạo hay sống niềm tin là vấn đề trái tim, vấn đề của tấm lòng. Tất cả nỗ lực sống đạo của chúng ta phải nhắm đến việc hiệp nhất tâm hồn với Chúa Giêsu Kitô. Ðể thực hiện được việc này, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là một điều tuyệt đối không thể thiếu được. Chỉ khi biết Thánh Tâm, yêu Thánh Tâm vàø nên một với Thánh Tâm, chúng ta mới biết Thiên Chúa, yêu Thiên Chúa và được hiệp nhất với Thiên Chúa cũng như biết chính mình, tìm được ý nghĩa và hạnh phúc đích thật cho đời ta. Ðó là điều Thánh Augustinô từng xác quyết trong tác phẩm Tự Thú của người: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên lòng con cho Chúa, và lòng con còn băn khoăn thao thức mãi cho đến khi được an nghỉ trong Chúa.”

---------

 

 

14- CĂN BẢN TÍN LÝ

 

Lm. Phạm Quốc Hưng, C.Ss.R.

Thánh Tôma Aquinô định nghĩa sự tôn sùng hay lòng sùng kính là một ước muốn sẵn sàng hiến dâng chính mình cho mọi việc cần thiết để phụng sự Thiên Chúa. Tuy nhiên, bất cứ lòng sùng kính chân thực nào cũng phải dựa trên căn bản tín lý như ý chí dựa trên trí khôn, để có thể giúp ta thăng tiến trong đời sống tâm linh một cách lành mạnh đúng theo thánh ý và chương trình yêu thương của Chúa. Không có căn bản tín lý vững chắc, lòng sùng kính sẽ biến thành những cảm xúc tầm thường hay dẫn đến sự cuồng tín. Vì thế, chúng ta cần phải nắm vững căn bản tín lý hay các chân lý đức tin được dùng làm nền tảng cho lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, trước khi chúng ta tìm hiểu sâu hơn về cách thức thực hiện lòng sùng kính tuyệt hảo này.

Những lý do phản đối lòng sùng kính Thánh Tâm

Tiến Sĩ Timothy T. O’Donnell, tác giả tác phẩm Trái Tim Ðấng Cứu Thế, vạch ra 4 lý do người ta thường nêu lên để phản đối lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu như sau:

Lòng sùng kính Thánh Tâm dựa trên một căn bản tín lý yếu ớt và có nguy hiểm nhấn mạnh quá về nhân tính Chúa Kitô.

Không có quy chiếu Thánh Kinh về lòng sùng kính Thánh Tâm.

Lòng sùng kính Thánh Tâm chỉ đã bắt đầu từ một mạc khải tư được ban cho một nữ tu dòng kín của thế kỷ 17 (Thánh Magarita Alacoque 1647-1690).

Lòng sùng kính Thánh Tâm có thể ích lợi cho một thời đại và bối cảnh văn hóa nhất định nào đó, nhưng nó không còn thích hợp với thời hiện đại và đã bị tàn lụi.

Tất cả những lý do trên sẽ bị bác bỏ dễ dàng khi người ta hiểu rõ bản chất của lòng sùng kính Thánh Tâm, căn bản tín lý vững chắc của lòng sùng kính tuyệt hảo này, sự tán thành và cổ võ nồng nhiệt của các Ðức Giáo Hoàng—những vị Ðại Diện Chúa Kitô, Thủ Lãnh Hữu Hình và Phát Ngôn Viên chính thức của Giáo Hội Hoàn Vũ—dành cho lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, cũng như nghiệm ra những lợi ích lớn lao và lạ lùng do lòng sùng kính này đem lại cho đời sống cá nhân, gia đình, cộng đoàn và toàn thể Giáo Hội và nhân loại.

 

Bản chất lòng sùng kính Thánh Tâm

Lòng sùng kính Thánh Tâm cốt yếu phải là việc thờ lạy và đáp trả lại Bản Vị của Chúa Kitô được nhìn dưới khía cạnh tình yêu thần linh và nhân loại của Người được thể hiện qua bản tính nhân loại của Người và được biểu hiệu bằng Trái Tim thể lý bị thương tích của Người.

Trong Lời Mở Ðầu của Tuần Cửu Nhật Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu (1758), Thánh Anphong Liguori viết: “Lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu không là gì khác hơn là một sự thực hành lòng yêu mến dành cho Ðấng Cứu Thế yêu dấu của chúng ta. Vì thế, đối tượng chính của lòng sùng kính này, đối tượng tâm linh của lòng sùng kính này, là tình yêu mà nhờ đó Trái Tim Chúa Giêsu được nung nấu hướng tới mọi người.”

Ðức Giáo Hoàng Piô XII, trong Thông Ðiệp Về Lòng Sùng Kính Thánh Tâm (Haurietis Aquas, 15/05/1956), định nghĩa: “Lòng sùng kính Thánh Tâm tự bản chất là việc thờ lạy Tình Yêu nhờ đó mà Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu, đã yêu mến chúng ta, và đồng thời, là việc thực hành tình yêu của chúng ta nhờ đó chúng ta liên hệ với Thiên Chúa và tha nhân.”

 

Cũng trong thông điệp này, Ðức Piô XII đưa ra hai lý do làm căn bản cho việc Hội Thánh dành cho Trái Tim Chúa Cứu Thế việc thờ lạy cao cả nhất (latria):1. Trái Tim Chúa Giêsu, “bộ phận cao thượng nhất của bản tính nhân loại,” luôn được hiệp nhất theo bản vị với Ngôi Lời của Thiên Chúa. Vì vậy, Hội Thánh thờ lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu là thờ lạy chính Thiên Chúa, Ngôi Lời Nhập Thể. Ðây là một tín điều của đức tin đã được khẳng định ở Công Ðồng Êphêsô 431 và Công Ðồng Constantinople 553.

2. Tự Trái Tim Chúa Giêsu kêu mời một cách đặc biệt sự thờ lạy cao cả nhất vì Trái Tim Người, hơn mọi bộ phận khác của Thân Xác Người, “là dấu chỉ và biểu hiệu tự nhiên của tình yêu vô biên của Người dành cho nhân loại.”

Theo giáo huấn của Ðức Piô XII, Trái Tim Chúa Giêsu là “dấu chỉ và biểu hiệu chính” của tình yêu ba chiều mà Con Thiên Chúa không ngừng yêu mến Chúa Cha và nhân loại tội lỗi:

Tình yêu thần linh mà Người chia sẻ với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Nhưng vì chỉ có Ngôi Lời Nhập Thể, nên chỉ có một mình Người thể hiện tình yêu này nơi một thân xác có thể tiêu vong.

Tình yêu nồng cháy được phú ban vào linh hồn nhân loại của Người, tình yêu này đã tăng cường ý chí và hướng dẫn nó hành động với sự hiểu biết hoàn hảo nhất phát sinh từ sự chiêm ngưỡng hồng phúc được phú ban trực tiếp cho Người.

Tình yêu giác cảm, vì Người có các quan năng cảm giác và suy xét hoàn toàn và thực sự hoàn hảo hơn bất cứ thân xác của người nào khác.

 

Những chân lý đức tin làm nền tảng cho lòng sùng kính Thánh Tâm

Cha John Anthony Hardon, SJ (1914-2000), một thần học gia uy tín và thánh thiện, đã vạch ra căn bản tín lý của lòng sùng kính Thánh Tâm một cách vắn tắt và mạch lạc như sau:

”Chân lý mạc khải nào làm nền tảng cho lòng sùng kính Thánh Tâm?

”Ðó chính là sự kiện Thiên Chúa, Ðấng là Tình Yêu, đã yêu thương thế gian đến nỗi đã gửi Con Một Người

  1. để làm người và ở giữa chúng ta,
  2. để dạy chúng ta bằng lời nói và gương sáng giúp ta biết cách đạt đến sự sống đời đời,
  3. để chịu đau khổ và chịu chết cho chúng ta trên Thánh Giá để cứu chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết muôn đời,
  4. để sống lại từ cõi chết và lên trời,
  5. để từ trời ban xuống cho chúng ta quà tặng là Thần Khí của Người,

và để hiện diện cách tích cực giữa chúng ta nơi trần gian, trong Hy Lễ và Bí Tích Thánh Thể. “Sáu yếu tố này hợp với nhau tương ứng với điều chúng ta muốn nói đến bằng ‘Thánh Tâm’. Khi chúng ta tôn vinh và thờ lạy Chúa Giêsu Kitô trong những chiều kích này, chúng ta đang thực hành lòng sùng kính Thánh Tâm.”

Như vậy, lòng sùng kính Thánh Tâm được dựa trên căn bản của thần học Nhập Thể, nhấn mạnh đến sự kiện căn bản này: Ðây là Trái Tim của một con người, và con người này cũng chính là Thiên Chúa của Tình Yêu. Và vì thế, Trái Tim này vừa là dấu chỉ và biểu hiệu vừa là nguồn phát sinh mọi tình yêu thần linh và nhân loại của Chúa Giêsu.

Sự chấp nhận và cổ võ của các Ðức Giáo Hoàng:

Nếu lòng thảo mến, vâng phục và hiệp nhất với Ðức Giáo Hoàng luôn là một trong những dấu chắc chắn của đức tin Công Giáo chân chính, thì bất cứ tín hữu Công Giáo nào cũng phải quan tâm đến việc sốt sắng thực hiện lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Thực vậy, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu đã được tất cả các Ðức Giáo Hoàng trong lịch sử Giáo Hội chấp nhận và cổ võ lòng với tất cả sự cẩn trọng, tinh thần trách nhiệm và ý hướng bảo vệ sự tinh ròng của Ðức Tin Công Giáo.

Ðể nhấn mạnh đến tính cách hết sức cần thiết và thích hợp của lòng sùng kính Thánh Tâm trong thời đại hiện nay, ở đây chúng ta chỉ nhắc lại nhận định và lời cổ võ của các vị giáo hoàng cận đại đối với lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu.

 

Ðức Piô XI (1922-1939) nhận xét: “Lòng sùng kính Thánh Tâm là một phương dược phi thường cho những nhu cầu ngoại thường của thời đại chúng ta” (Trong văn kiện Caritate Christi compulsi, 03/05/1932).

 

Ðức Piô XII (1939-1958) khẳng định: “Lòng sùng kính Rất Thánh Trái Tim Chúa Giêsu quan trọng đến nỗi khi được thực hành đúng đắn có thể được coi như sự tuyên xưng đức tin Kitô giáo cách hoàn hảo. Nó không phải chỉ là một hình thức đạo đức bình thường mà ai nấy tùy ý thực hiện như thể không có hiệu quả gì hay bỏ qua một bên như là thua kém các việc đạo đức khác” (Trong Thông Ðiệp Haurietis Aquas, 15/05/1956).

 

Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), vị giáo hoàng đã có công triệu tập Công Ðồng Chung Vaticanô II, tâm sự trong Tâm Hồn Nhật Ký của ngài: “Mỗi lần tôi nghe ai nói về Thánh Tâm Chúa Giêsu hay về Bí Tích Thánh Thể, tôi cảm thấy một niềm vui khôn tả.Ðấy là những lời gọi mời yêu thương của Chúa Giêsu Ðấng hết lòng muốn tôi ở đó tại nguồn của mọi sự thiện hảo, Thánh Tâm của Ngài, đang đập một cách mầu nhiệm sau tấm màn Thánh Thể. Lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu đã lớn lên với tôi trong suốt cuộc đời tôi. Tôi muốn phụng sự Thánh Tâm hôm nay và mãi mãi. Chính Trái Tim Chúa Giêsu là nơi tôi phải hướng đến để tìm ra giải đáp cho mọi vấn nạn của tôi. Tôi muốn lòng sùng kính Trái Tim Người, ẩn dấu trong Bí Tích Tình Yêu, là thước đo tất cả sự tiến bộ tâm linh của tôi. Tôi quyết tâm không để mình ngơi nghỉ cho đến khi tôi có thể thực sự nói rằng tôi đã được tan hòa trong Trái Tim Chúa Giêsu.”

Ðức Phaolô VI (1963-1978), vị giáo hoàng đã được đắc cử đúng vào Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu ngày 21/06/1963 và đã góp phần hoàn tất Công Ðồng Chung Vaticanô II cách tốt đẹp, nêu lên tính cách hợp thời của lòng sùng kính Thánh Tâm như sau: “Lòng sùng kính Thánh Tâm là phương thế hữu hiệu nhất để đóng góp vào việc canh tân tâm linh và luân lý của thế giới như Công Ðồng Vaticanô II đã kêu gọi” (Diễn văn trước Tổng Công Nghị Lần 31 của Dòng Tên).

Ðức Ðương Kim Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, vị giáo hoàng đến từ Balan—một xứ sở có truyền thống nồng nhiệt tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu—và đã được đắc cử đúng vào Lễ Thánh Margarita Alacoque-Tông Ðồ của Thánh Tâm ngày 16/10/1978, đã mạnh mẽ xác định sự cần thiết và hợp thời của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trong thời đại chúng ta như sau: “Trong nhiều dịp khác nhau tôi đã bày tỏ niềm xác tín của tôi là lòng sùng kính Thánh Tâm phù hợp hơn bao giờ hết với những mong đợi của thời đại chúng ta. Tôi đã nhấn mạnh rằng những yếu tố căn bản của lòng sùng kính này thuộc về linh đạo của Hội Thánh suốt dòng lịch sử của mình một cách ổn định” (Diễn văn với Dòng Thừa Sai Thánh Tâm, 05/10/1987).

 

Tuyệt đối cần thiết

 

Trong lời tựa của Tuần Cửu Nhật Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu do Thánh Anphong Liguôri soạn và trình lên Ðức Giáo Hoàng Clêmentê XIII năm 1758, thánh nhân đã nói đến sự tuyệt đối cần thiết phải thực hành và cổ cõ lòng sùng kính Thánh Tâm như sau:

 

”Lòng sùng kính của tất cả mọi lòng sùng kính là Tình Yêu dành cho Chúa Giêsu Kitô.

”Một tác giả đạo đức đã than phiền cảnh rất nhiều người chú tâm đến các thứ sùng kính khác nhau nhưng lại bỏ qua lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Có nhiều nhà giảng thuyết và các cha giải tội nói đến nhiều điều to tát nhưng lại nói thật ít về tình yêu dành cho Chúa Giêsu Kitô.

”Tình yêu Chúa Giêsu Kitô thực sự phải là lòng sùng kính chính yếu và duy nhất của một Kitô hữu. Tình yêu Chúa Giêsu Kitô lẽ ra phải là đề tài và mối quan tâm duy nhất của các nhà giảng thuyết và các cha giải tội—tất cả phải không ngừng đốt lên trong tâm hồn những người nghe ngọn lửa tình yêu Chúa Giêsu Kitô.

”Không làm như thế là lý do tại sao người ta chậm tiến trong đường nhân đức và ở mãi trong tính hư nết xấu cũ. Sự thiếu lòng sùng kính Thánh Tâm là lý do của việc sa đi ngã lại trong tội trọng, vì người ta ít chú tâm và không được khích lệ đủ để đạt được tình yêu Chúa Giêsu Kitô, điều là sợi dây vàng nối kết linh hồn với Thiên Chúa.”

Cùng một nhận định như Thánh Anphong, Cha John Anthony Hardon, SJ (1914-2000), nguyên là cha linh hướng của Mẹ Têrêsa Calcutta đã chết trong hương thơm thánh thiện và đang được nhiều người vận động để Hội Thánh tôn phong chân phước, đã nhấn mạnh đến sự tuyệt đối cần thiết của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trong thời đại hôm nay như sau:

”Sự thờ lạy Chúa Giêsu nơi biểu hiệu Thánh Tâm theo thời gian ngày càng trở nên ý nghĩa. Lòng sùng kính Thánh Tâm chẳng những không phải là một việc tùy ý, nhưng còn là tuyệt đối cần thiết. Vì cùng một lý do là tình yêu Chúa Kitô là căn bản của đức tin chúng ta, và tình yêu của chúng ta dành cho Người là một nguyên lý cần thiết của linh đạo Kitô. Các tín hữu chúng ta không có chọn lựa khác. Hoặc chúng ta canh tân lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu như là nền tảng chắc chắn cho đời sống Kitô giáo, hay thế giới sẽ ngày càng trở thành phi-Kitô, cũng là vô thần, và chúng ta phải chịu trách nhiệm về lỗi lầm này, vì việc thế tục hóa đang phá hủy xã hội quá phát triển về vật chất mà chúng ta đang sống.”

Nhìn vào thực trạng sống đạo bê tha của rất nhiều tín hữu tại Hoa Kỳ, Cha Hardon nhiều lần cảnh cáo: “Trừ phi chúng ta khôi phục lòng nhiệt thành và tinh thần của các Kitô hữu ở thế kỷ thứ nhất, trừ phi chúng ta sẵn lòng làm những gì họ đã làm và trả giá như họ đã trả giá, tương lai của đất nước chúng ta, những ngày của Mỹ Quốc đã được định đoạt.”

Mặt khác, nếu ta tin rằng mọi biến cố xảy ra trong Hội Thánh đều nằm trong sự quan phòng kỳ diệu và khôn ngoan của Thiên Chúa, thì ta phải xác tín rằng hai vị đại giáo hoàng gần chúng ta nhất là Ðức Phaolô VI và Gioan-Phaolô II đều là những Giáo Hoàng của Thánh Tâm: Ðức Phaolô VI được đắc cử giáo hoàng đúng vào Lễ Thánh Tâm ngày 21/06/1963 vàø Ðức Gioan-Phaolô II được đắc củ vào đúng ngày 16-10-1978, Lễ Thánh Magarita Maria Alacoque, Vị Tông Ðồ của Lòng Sùng Kính Thánh Tâm.

Như vậy, sứ mạng của Ðức Phaolô VI và Ðức Gioan-Phaolô II không gì khác hơn là làm cho mọi người nhận biết, yêu mến và tôn thờ Tình Yêu Tuyệt Ðối của Thánh Tâm Chúa Giêsu. Triều đại giáo hoàng của các ngài thực sự cho thấy thời đại hiện nay chính là thời đại của Thánh Tâm Thánh Thể Chúa Giêsu.

 

 

Lợi ích vô cùng

 

Với những ai hiểu rõ bản chất của lòng sùng kính Thánh Tâm, chính lòng sùng kính này hay Tình Yêu Chúa Giêsu Kitô đã là một phần thưởng lớn lao đủ thỏa mãn cho tâm hồn của họ rồi.

 

Thánh Phanxicô Assisi (1181-1226) thường nói: “Thiên Chúa của con là Tất Cả của con.”

Thánh Ignatio Loyola (1491-1556) cầu cùng Chúa: “Tình yêu và ân sủng Chúa là đủ cho con.”

Thánh Anphong Liguôri (1696-1787) thưa với Chúa: “Món quà duy nhất mà con xin Chúa là một tình yêu nồng cháy và bền bỉ dành cho Ngài!”

Thánh Margarita Maria Alacoque (1647-1690)--Tông Ðồ của Lòng Sùng Kính Thánh Tâm—trong một thị kiến thấy Thánh Claude de la Colombiere lập được nhiều công nghiệp qua việc cổ võ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu hơn tất cả các hoạt động khác của thánh nhân.

Thánh Margarita thường nói rằng người không dám kể hết các ơn lành Chúa hồn xác Chúa Giêsu cho biết Người sẽ ưu ái ban tặng những ai nhiệt thành sùng kính Thánh Tâm vì sợ rằng họ sẽ sùng kính Thánh Tâm chỉ vì các tặng ân đó hơn là vì chính Ðấng Ban Ơn.

Dù vậy, Chúa Giêsu vẫn dạy Thánh Margarita phải làm cho mọi người biết 12 lời hứa Chúa dành cho những ai trung thành thực hiện lòng sùng kính Thánh Tâm như sau:

 

  1. Ta sẽ ban cho họ đủ ơn cần thiết trong bậc sống của họ.
  2. Ta sẽ tạo bình an trong gia đình họ.
  3. Ta sẽ an ủi họ trong những khi phiền muộn.
  4. Ta sẽ là nơi trú ẩn cho họ khi còn sống và nhất là trong giờ lâm chung.
  5. Ta sẽ ban muôn ơn lành xuống cho các công việc của họ.
  6. Các tội nhân sẽ tìm được nơi Trái Tim Ta cả một nguồn suối từ bi bất tận.
  7. Các linh hồn nguội lạnh sẽ trở nên sốt sắng.
  8. Các linh hồn sốt sắng sẽ mau chóng đạt tới sự trọn lành.
  9. Ta sẽ chúc phúc cho những nơi nào có trưng bày và tôn kính ảnh tượng Trái Tim Ta,
  10. Ta sẽ ban cho các linh mục ơn đánh động các tâm hồn chai lì nhất.
  11. Tên của những ai cổ cõ lòng tôn sùng này sẽ được ghi vào Trái Tim Ta và không bao giờ bị phai mờ.
  12. Với lòng từ bi vô hạn, Ta hứa với con rằng, những ai rước lễ vào 9 Thứ Sáu Ðầu Tháng liên tiếp sẽ được tình yêu quyền năng của Ta bảo đảm cho được ơn ăn năn tội lần sau hết. Họ sẽ không chết trong tình trạng mất ơn nghĩa Chúa hay chưa được lãnh nhận các bí tích. Trái Tim Ta sẽ là nơi trú ẩn an toàn cho họ trong giây phút cuối cùng ấy.

 Như vậy, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu có căn bản tín lý vững chắc dựa trên thần học về mầu nhiệm Nhập Thể và đã cắm rễ sâu trong linh đạo của Hội Thánh. Với sự vui mừng chấp nhận và nhiệt liệt cổ võ của các Ðức Giáo Hoàng, lời giảng dạy thiết tha và gương sáng rạng ngời của các thánh được chọn để cổ động lòng sùng kính Thánh Tâm, sự tuyệt đối cần thiết và lợi ích lớn lao của lòng sùng kính tuyệt hảo này đã được nhìn nhận và rao truyền.

Chúng ta còn ngần ngại gì mà không cùng Khiết Tâm Mẹ Maria sốt sắng đứng vào hàng ngũ những người quyết tâm trung thành say yêu và đền tạ Trái Tim Chúa Giêsu và trở nên những tông đồ của Thánh Tâm?

 

_____________________

 

 

 

15- LỊCH SỬ

 

 LÒNG SÙNG KÍNH THÁNH TÂM

 

Lm. Phạm Quốc Hưng, C.Ss.R.

Bắt nguồn từ lòng sùng kính nhân tính Chúa Kitô

 

Lòng sùng kính Trái Tim Chúa Giêsu dựa trên và bắt nguồn từ lòng sùng kính nhân tính của Người. Vì vậy, lòng sùng kính này có thể nói được là đã bắt đầu ngay từ thời Chúa Giêsu với những người sùng kính Thánh Tâm nổi bật hơn cả là Mẹ Maria, Thánh Gioan Tông Ðồ và Thánh Nữ Maria Mađalêna, những người đã đứng kề Thánh Giá chia sẻ nỗi đau của Chúa Kitô trong cơn hấp hối, và chứng kiến Trái Tim Cực Thánh của Người bị đâm thâu để tuôn trào suối nguồn ơn cứu độ và khai sinh Hội Thánh.

Thánh Phaolô cũng xứng đáng với danh hiệu Tông Ðồ của Thánh Tâm Chúa Giêsu. Nhiều tác giả gọi ngài là một người có trái tim giống hệt Trái Tim Chúa Giêsu vì đã được Chúa Giêsu tuyển chọn để mạc khải mầu nhiệm tình yêu của Người cho nhân loại. Chính thánh nhân đã cảm nghiệm sâu xa tình yêu Chúa Cứu Thế và được biến đổi hoàn toàn bởi tình yêu ấy. Vậy nên, ngài đã yêu mến mọi người trong Trái Tim Chúa Giêsu: “tôi trìu mến anh em hết thảy trong lòng dạ Ðức Kitô” (Phil 1:8) và đã kêu gọi các tín hữu noi gương ngài mang lấy trong mình tâm tư hay Trái Tim Chúa Kitô: “Anh em hãy có nơi anh em tâm tư như đã có trong Ðức Kitô Yêsu” (Phil 2:5).

 

Luôn hiện diện trong lịch sử Hội Thánh

 

Ðức Piô XII (1939-1958) trong Thông Ðiệp Về Lòng Sùng Kính Thánh Tâm (Haurietis Aquas 15/05/1956) tóm tắt lịch sử lòng sùng kính này như sau:

”Chúng ta, vì vậy, biết rằng lòng sùng kính mà nhờ đó chúng ta tôn kính tình yêu của Thiên Chúa và Chúa Giêsu Kitô dành cho con người qua dấu chỉ cao cả của Trái Tim Bị Thương Tích của Ðấng Cứu Thế bị đóng đinh trên Thánh Giá không bao giờ mà hoàn toàn không được biết đến trong lòng đạo đức Kitô giáo. Tuy nhiên, những lúc gần đây, lòng sùng kính này đã được biết đến nhiều hơn và được lan tràn một cách kỳ diệu trong khắp Hội Thánh, nhất là sau khi chính Chúa mạc khải riêng bí quyết thần linh này cho một vài con cái Người, được phú ban cách dồi dào những tặng ân thiên quốc, và tuyển chọn họ như những sứ giả và những tiền hô cho lòng sùng kính này.

”Thực ra, luôn có những tâm hồn hiến thân đặc biệt cho Thiên Chúa, những người noi gương Mẹ Thiên Chúa, các Tông Ðồ và các Giáo Phụ gương mẫu của Hội Thánh, thờ lạy, cảm tạ và yêu mến nhân tính cực thánh của Chúa Kitô, đặc biệt các thương tích gây ra nơi Thân Xác Người trong cuộc Thương Khó lành thánh của Người”.

 

Linh dược cho thế giới thời sau hết

 

Trong hạnh Thánh Gertrude (1256-1302) có thuật rằng: Trong một thị kiến, thánh nữ thấy Thánh Gioan Tông Ðồ hiện ra với người, đầu tựa vào Trái Tim Chúa Giêsu như trong bữa tiệc ly năm xưa. Thánh Gertrude hỏi Thánh Gioan: “Lạy Thánh Tông Ðồ đã được phúc tựa đầu vào Trái Tim Chúa, vì sao trong Phúc Âm của ngài không tỏ cho mọi người biết Trái Tim đầy tình yêu và chất chứa ơn phúc?” Thánh Gioan đáp: “Tôi viết Phúc Âm để ghi lại đời sống của Chúa Giêsu và ơn cứu chuộc của Người. Còn Trái Tim Chúa, Người chờ cho đến khi thế gian ra khô khan tội lỗi, mới tỏ cho mọi người để nhờ những công nghiệp ấy thế gian được trở lại”.

Như vậy, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu chính là linh dược Chúa muốn ban cho Giáo Hội và nhân loại để chữa trị căn bệnh tội lỗi cực kỳ nghiêm trọng của thế giới trong thời đại hôm nay. Coi thường và chểnh mảng việc thực hiện và cổ võ lòng sùng kính này là bỏ qua một phương thế tuyệt đối cần thiết và hữu hiệu để canh tân Hội Thánh và thế giới hôm nay.

____________________

 

Các thánh Giáo Phụ và lòng sùng kính Thánh Tâm

 

Lòng sùng kính Thánh Tâm của các thánh Giáo Phụ như Thánh Irenaeus (120-202), Thánh Justin (c. 166), Thánh Ambrose thành Milan (339-397), Thánh Jerome (347-419), Augustino (354-430), và Thánh Cyril thành Alexandria (370-444) đã được nhận thấy nơi cảm hứng của các ngài khi suy niệm về nguồn nước sự sống hay nguồn mạch tình yêu tuôn trào từ cạnh sườn của Chúa Giêsu.

Các Giáo Phụ hiểu rằng Thần Khí đã được đổ xuống trên nhân loại vì Ðấng đầy tràn Thần Khí đã hiến tế Trái Tim của chính Người. Chính nhờ hành động hiến tế này, Hội Thánh cùng với các bí tích chứa đựng ân sủng đã tuôn trào từ Trái Tim Chúa Giêsu như một công trình của Chúa Thánh Linh. Ðây chính là chân lý căn bản nuôi dưỡng đời sống tu đức và thần bí của Giáo Hội thời các Giáo Phụ.

Vì vậy, lòng sùng kính Thánh Tâm thời Giáo Hội sơ khai thường được coi như là việc chú giải và suy niệm lời Phúc Âm Thánh Gioan như sau:

”Vào ngày cuối cuộc lễ, một đại lễ, Ðức Giêsu đứng dậy mà hô lên rằng: ‘Ai khát thì hãy đến với Ta, và hãy uống kẻ tin vào Ta!’ như Kinh Thánh đã nói: Tự lòng Ngài có những sông tuôn chảy nước sinh sống. Ðiều ấy, Ngài nói về Thần Khí các kẻ tin vào Ngài sẽ lĩnh lấy, vì Thần Khí chưa có, bởi Ðức Giêsu chưa được tôn vinh” (Ga 7:37-39).

Ý tưởng của các Giáo Phụ cho rằng Giáo Hội như Evà Mới được phát sinh từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Giêsu như Ađam Mới được dựa trên Phúc Âm Thánh Gioan Ga 19:33-37. Nước và Máu tuôn ra từ cạnh sườn Chúa Giêsu được coi là biểu tượng của Bí Tích Rửa Tội và Bí Tích Thánh Thể, hai bí tích tối cần để làm phát sinh và nuôi dưỡng đời sống ơn thánh của các tín hữu.

”Ðến bên Ðức Giêsu, họ thấy Ngài đã chết, thì không đập bể ống chân Ngài, nhưng một người lính lấy đòng đâm cạnh sườn Ngài, và lập tức có máu và nước chảy ra. Người trông thấy đã làm chứng—và chứng của người là chứng xác thực, và người biết là đã nói thật—ngõ hầu cả anh em nữa cũng tin. Các điều ấy đã xảy ra là để cho lời Kinh Thánh nên trọn: ‘Không một xương nào của Người sẽ bị giập’. Lại còn lời Kinh Thánh khác nói: ‘Chúng sẽ trông lên Người chúng đã đâm’” (Ga 19:33-37).

 

Lòng sùng kính Thánh Tâm được tiếp tục phát triển

Trong Thông Ðiệp Về Lòng Sùng Kính Thánh Tâm, Ðức Piô XII kể ra một số vị thánh nổi tiếng trong Giáo Hội về việc thực hiện và quảng bá lòng sùng kính Thánh Tâm. Ðó là Thánh Bonaventura (1217-1274), Thánh Albert Cả (1260-1280), Thánh Gertrude (1256-1302), Thánh Catherine thành Siena (1347-1380), Chân Phước Henry Suso (d. 1295), Thánh Peter Canisius (1521-1597), Thánh Francis de Sales (1567-1622), Thánh John Eudes (1601-1680).

Ðức Piô XII cũng nhắc đến việc Lễ Kính Thánh Tâm được cử hành công khai lần đầu tiên vào ngày 20-10-1672 với sự phê chuẩn của các giám mục nuớc Pháp.

Thánh Margarita Mary Alacoque (1647-1690) được Ðức Piô XII nhìn nhận là người có vị trí chính yếu trong việc cổ động lòng sùng kính Thánh Tâm như sau:

”Trong số những người đã cổ võ lòng sùng kính tuyệt hảo này, Thánh Margarita Maria Alacoque chiếm một chỗ danh dự chính yếu. Ðược bốc cháy bởi lòng nhiệt thành lớn lao với sự trợ giúp của vị linh hướng của ngài là Chân Phước Claude de la Colombiere (đã được Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II tôn phong hiển thánh ngày 31/05/1992), ngài đã thành công một cách lạ lùng đối với các tín hữu trong cố gắng làm cho lòng sùng kính này, thật phong phú về những phúc lộc siêu nhiên, được thiết lập và phân biệt rõ ràng với các hình thức đạo đức Kitô giáo khác bởi bản tính đặc biệt của những động tác mến yêu và đền tạ của nó”.

Các dòng tu được biết đến nhiều về việc cổ động lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là Dòng Biển Ðức, Dòng Ðaminh, Dòng Thăm Viếng và Dòng Tên.

Thánh John Eudes là người đã soạn lời nguyện dùng cho Lễ Thánh Tâm năm 1668. Lời nguyện này cũng đã được chính thức dùng vào Lễ Thánh Tâm ngày 20-10-1672.

Từ năm1690 đến năm 1740, Tòa Thánh đã nhìn nhận và khích lệ việc sùng kính Thánh Tâm qua việc cho phép thành lập hơn 700 hiệp hội có mục đích cổ võ lòng sùng kính Thánh Tâm.

Năm 1758, Thánh Anphong Ligôri (1696-1787), Tổ Phụ Dòng Chúa Cứu Thế, gửi cho Ðức Thánh Cha Clement XIII (1758-1769) Tuần Cửu Nhật Kính Thánh Tâm do ngài biên soạn. Thánh nhân cũng ủng hộ cố gắng nồng nhiệt của Cha Joseph Francois Galliffet, SJ trong việc xin Tòa Thánh cho thiết lập Lễ Thánh Tâm trong Giáo Hội Hoàn Vũ.

Ngày 06-02-1765, Ðức Clement XIII chuẩn nhận yêu cầu của các giám mục Balan cho phép Lễ Thánh Tâm được cử hành tại Balan và trong các Hiệp Hội Kính Thánh Tâm (chính Ðức Clement XIII cũng là một hội viên). Bộ Phụng Vụ xác nhận rõ hơn quyết định này của Ðức Thánh Cha vào ngày 11-05-1765.

 

****

 

 

16- Lễ Thánh Tâm và Lễ Chúa Kitô Vua

được thiết lập cho Giáo Hội hoàn vũ

 

Ngày 23-08-1856, qua sắc lệnh của Bộ Nghi Lễ, theo yêu cầu của các giám mục Pháp và hầu hết các giám mục khắp thế giới, Chân Phước Giáo Hoàng Piô IX đã chính thức cho thiết lập Lễ Thánh Tâm trong Giáo Hội Hoàn Vũ và khuyến khích việc dâng mình cho Thánh Tâm. Lễ Thánh Tâm hàng năm được cử hành trọng thể vào Thứ Sáu sau Chúa Nhật Lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu, đúng như yêu cầu của Chúa Giêsu trong những lần hiện ra với Thánh Nữ Maria Magarita.

Ngày 02-04-1899, Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII (1878-1903) đã phê chuẩn Kinh Cầu Trái Tim Chúa Giêsu để dùng cho Giáo Hội hoàn vũ như hình thức chúng ta có hiện nay. Và ngày 25-05-1899, ngài ban hành Thông Ðiệp Annum Sacrum để dâng hiến toàn thể nhân loại cho Thánh Tâm Chúa. Trong thông điệp này này, ngài ca ngợi lòng sùng kính Thánh Tâm là lòng sùng kính trổi vượt nhất và hy vọng việc dâng hiến thế giới cho Thánh Tâm sẽ đem lại những lợi ích phi thường và bền vững cho nhân loại. Ngài cũng khuyến khích các tín hữu dâng mình cho Thánh Tâm vì “bất cứ danh dự, sự tôn kính hay tình yêu mến nào dành cho Trái Tim Thần Linh này thực sự là dâng tặng chính Chúa Kitô”. Ngài gọi thông điệp này là “hành động cao trọng nhất của triều đại Giáo Hoàng của tôi”, một thông điệp chuẩn bị cho nhân loại bước vào thế kỷ 20.

Cuối Năm Thánh 1925, Ðức Piô XI (1922-1939) ban hành Thông Ðiệp Quas Primas để thiết lập Lễ Chúa Kitô Vua cho Giáo Hội Hoàn Vũ và liên kết lễ này với lòng sùng kính Thánh Tâm.

_______________________

 

Sự cần thiết của việc đền tạ Thánh Tâm

 

Ngày 09-05-1928, Ðức Giáo Hoàng Piô XI đã ra Thông Ðiệp Miserentissimus Redemptor nói về sự cần thiết phải thực hành việc đền tạ Thánh Tâm. Trong thông điệp này ngài nhấn mạnh rằng việc đền tạ Thánh Tâm là bổn phận đòi hỏi mọi Kitô hữu phải thực hiện. Lòng sùng kính

PIO XI

Thánh Tâm được diễn tả như một “sự tổng hợp của toàn bộ đạo giáo của chúng ta” (totius religionis summa), nếu được thực hiện “sẽ rất chắc chắn dẫn chúng ta đến việc biết Chúa Kitô một cách thân mật và sẽ làm cho tâm hồn chúng ta yêu mến Người cách dịu dàng hơn và kết thân với Người một cách quảng đại hơn”.

Ðức Piô XI cũng chỉ ra những nhu cầu khẩn cấp của thời đại đòi hỏi các tín hữu phải thực hành việc đền tạ Thánh Tâm như sau:

A. Về phía xã hội bên ngoài:

- các nhà lãnh đạo và các chính phủ công khai tấn công Giáo Hội

- các tu sĩ hiến thân phụng sự Thiên Chúa bị bách hại

- nhân quyền và thần quyền bị lật đổ

- những sự tấn công nặng nề về đức trong sạch nơi giới trẻ đã được thực hiện

- sự chối đạo đã trở thành phổ biến

B. Về phía bên trong Giáo Hội:

- có sự coi thường kỷ luật và truyền thống của Giáo Hội

- có sự xúc phạm đến tính cách thánh thiêng của hôn nhân

- việc giáo dục trẻ em đã được đặt trên những lý thuyết sai lạc

- nhân đức đoan trang đã thực sự bị quên lãng

- chủ nghĩa duy vật đã trở thành một khát vọng không thể kiềm chế

- thẩm quyền của Lời Chúa bây giờ đã bị khinh thị cách công khai.

Trong thế kỷ 21 hiện nay, nhu cầu đền tạ Thánh Tâm càng thêm khẩn thiết trước sự lan tràn của tội ác phá thai; sự phổ biến của các hành động ngừa thai nhân tạo, triệt sản, ly dị ngay cả nơi phần đông các gia đình Công Giáo; sự thiếu xác tín hay bất phục giáo huấn chân thực của Hội thánh ngay cả trong hàng ngũ giáo sĩ, tu sĩ.

 

Thông Ðiệp Về Lòng Sùng Kính Thánh Tâm

 

Ngày 15-05-1956, nhân kỷ niệm 100 năm Chân Phước Giáo Hoàng Piô IX thiết lập Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu cho toàn thể Giáo Hội, Ðức Giáo Hoàng Piô XII ra Thông Ðiệp Về Lòng Sùng Kính Thánh Tâm (Haurietis Aquas) dạy về nền tảng đức tin và căn bản Thánh Kinh của lòng sùng kính Thánh Tâm, bản chất cũng như sự cần thiết và lợi ích lớn lao của lòng sùng kính này.

Trong thông điệp này, Ðức Piô XII nhấn mạnh rằng lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa được Giáo Hội nhìn nhận và nhiệt liệt cổ võ không phải vì đã được mạc khải riêng cho Thánh Margarita Maria, nhưng vì lòng sùng kính này hoàn toàn phù hợp với bản chất của Kitô giáo, thực chất là đạo của tình yêu.

Ngài viết: “Vậy nên, thật hiển nhiên, những mạc khải được tiết lộ cho Thánh Margarita Maria đã không thêm gì vào đạo lý Công Giáo. Ý nghĩa của những mạc khải ấy dựa vào điều này, Chúa Kitô—khi biểu lộ Thánh Tâm Người một cách ngoại thường và đặc biệt—muốn kêu gọi tâm trí con người chiêm ngắm và tôn kính mầu nhiệm tình yêu rất thương xót của Thiên Chúa dành cho loài người”.

Ðức Piô XII cũng chỉ ra ý nghĩa căn bản của lòng sùng kính Thánh Tâm như sau:

”.Chúng ta sẵn sàng hiểu rằng lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu cốt yếu là lòng sùng kính đối với tình yêu mà Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta qua Chúa Giêsu và đồng thời cũng là tình yêu làm sống động tình yêu của chúng ta dành cho Thiên Chúa và con người. Hay, nói cách khác, lòng sùng kính này được hướng tới tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta để ta thờ lạy Người, cảm tạ Người và suốt đời noi gương Người”.

Cũng trong thông điệp này, Ðức Thánh Cha Piô XII đã cho thấy lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là tinh hoa và tổng hợp của tất cả mọi lòng sùng kính cần thiết và lành mạnh khác trong Giáo Hội như việc suy tôn Thánh Giá, việc tôn sùng Thánh Thể và lòng biệt kính Ðức Mẹ.

 

Lòng sùng kính Thánh Tâm trong Giáo Hội hôm nay

 

Có lẽ lòng vì sùng kính Thánh Tâm chưa được thực hiện đầy đủ như lòng Chúa lòng muốn, nên Chúa đã tiếp tục gửi đến nhân loại sứ điệp khẩn cấp của tình yêu nồng cháy của Thánh Tâm Người qua một số linh hồn ưu tuyển trong thế kỷ XX.

Chúng ta có thể kể đến ba sứ giả nổi bật của Thánh Tâm là Chị Bêninha Consolata (1885-1916) người Ý thuộc Dòng Thăm Viếng, Chị Josefa Menendez (1889-1923) người Pháp thuộc Dòng Thánh Tâm và Thánh Maria Faustina Kowalska (1905-1938) người Ba lan thuộc Dòng Nữ Tu Ðức Mẹ Thương Xót.

Và chúng ta có thể học hỏi được rất nhiều điều hữu ích để gia tăng lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu qua các sứ điệp của những linh hồn ưu tuyển này.

Sứ điệp của Thánh Tâm gửi qua Chị Bêninha có thể đọc được nơi cuốn Tình Dịu Dàng Chúa Giêsu; qua Chị Josefa Menendez nơi cuốn Tiếng Gọi Tình Yêu—Thông Ðiệp Gửi Thế Giới; và qua Thánh Maria Faustina Kowalska nơi cuốn Diary—Divine Mercy in My Soul.

Trong tất cả những sứ điệp này, cũng như trong những gì Chúa Giêsu mạc khải cho Thánh Margarita Alacoque, Chúa đã thiết tha kêu gọi con người đừng tiếp tục xúc phạm đến Thánh Tâm qua các tội ác của họ, đừng dửng dưng và vô ơn trước tình yêu thương xót vô biên của Thánh Tâm Chúa Giêsu nơi Thánh Thể, hãy tín nhiệm tuyệt đối nơi lòng thương vô biên của Người để hoán cải đời sống, vươn lên sự thánh thiện và tận hưởng ơn cứu độ.

Với những ai muốn trở nên bạn thiết của Thánh Tâm, Chúa kêu mời họ hãy quảng đại trong việc vui lòng đón nhận thật nhiều hy sinh đau khổ để hiệp nhất với các đau khổ của Chúa trong cuộc Thương Khó mà góp phần cứu rỗi các linh hồn. Chúa kêu gọi mọi người, nhất là những ai đã dâng mình cho Chúa, siêng năng sốt sắng tôn thờ Trái Tim Sống Ðộng của Người trong Bí Tích Thánh Thể để đền tạ Thánh Tâm.

Năm 1907, Cha Mateo Crawley-Boevey, SS.C.C. (1875-1960) đã cổ động việc gia tăng các giờ chầu Thánh Thể và khởi xướng Phong Trào Tông Ðồ Tôn Vương Thánh Tâm trong Gia Ðình như một phương thức canh tân đức tin và đời sống hôn nhân gia đình trong Giáo Hội và thế giới hôm nay.

Tất cả các vị giáo hoàng hiện đại—Ðức Piô XII (1939-1958), Chân Phước Gioan XIII (1958-1963), Ðức Phaolô VI (1963-1978) và Ðức Gioan-Phaolô II (1978-)--có thể nói được đều là các vị giáo hoàng của Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Cha Gerard Gagnon, C.Ss.R. (c. 1994) và Cha Giacôbê Ðào Hữu Thọ, C.Ss.R. (1917-1984) đã góp phần rất lớn vào việc cổ võ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu tại Việt Nam, qua các việc giảng dạy của các ngài cũng như việc các ngài thành lập và phát triển hoạt động của Hội Liên Minh Thánh Tâm. Cha Giacôbê còn mở 61 lớp Chí Tâm tại Dòng Chúa Cứu Thế Sàigòn để giúp mọi người khám phá tấm lòng của Chúa Giêsu và sống kết hợp với Thánh Tâm.

Một khi chúng ta đã hiểu biết bản chất, sự tuyệt đối cần thiết, những ích lợi lớn lao và lịch sử của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta được Trái Tim Chúa Giêsu mời gọi thiết tha để noi gương Mẹ Maria, cùng Mẹ, nhờ Mẹ và với Mẹ để trở nên tri kỷ, tông đồ và chiến sĩ của Thánh Tâm. Như vậy, chúng ta sẽ tiếp tục viết lên những trang tình sử tuyệt vời của chính mỗi người với Thánh Tâm trong lòng Hội Thánh.

 

***

 

 

 

17- TẤM LÒNG GIAVÊ

 TÌNH YÊU MUÔN THUỞ

 

Lm. Phạm Quốc Hưng, C.Ss.R.

Trái Tim Chúa Giêsu là biểu tượng và hiện thân của Tình Yêu Thiên Chúa dành cho con người chúng ta. Tình yêu ấy không phải chỉ bắt đầu từ khi Chúa Giêsu xuống thế làm người, vì Chúa yêu ta từ đời đời: “Ta đã yêu ngươi, một tình yêu muôn đời, bởi thế với ngươi, Ta đã giữ bền lòng ân nghĩa” (Jer. 31:3). Ngay trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã bày tỏ tình yêu ngút ngàn của Người dành cho nhân loại nói chung và Dân Người nói riêng, nơi các việc Người đã thực hiện nơi lịch sử Dân Chúa và qua sấm ngôn của các tổ phụ và ngôn sứ.

Nhưng chỉ nơi Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm Người, chúng ta mới đón nhận được trọn vẹn ân tình của Thiên Chúa, như Thánh Gioan viết: “Vì do từ sự sung mãn của Ngài mà ta hết thảy đã chịu lấy, ơn này thay ơn nọ. Vì Luật đã được ban nhờ Môsê, ơn nghĩa và sự thật chỉ nơi Chúa Giêsu Kitô mà có. Thiên Chúa, không ai thấy bao giờ; Con Một, Ðấng ở nơi cung lòng Cha, chính Ngài đã thông tri” (Jn 1:16-18).

Việc hiểu biết sâu xa Tấm Lòng của Giavê như đã được trình bày trong Cựu Ước sẽ giúp chúng ta thêm trân quý phúc trọng của chúng ta, các tín hữu Chúa Kitô, khi nhận biết rằng Tấm Lòng Thương Yêu của Giavê Thiên Chúa đã được trao tặng trọn vẹn cho mỗi người chúng ta nơi Thánh Tâm Chúa Giêsu. Ðó là điều chính Chúa Giêsu muốn chúng ta nhận biết khi Người nói: “Phần các ngươi, mắt các ngươi có phúc vì thấy, tai các ngươi có phúc vì nghe. Quả thật, Ta bảo các ngươi: nhiều vị tiên tri, nhiều người công chính đã mong thấy điều các ngươi thấy, mà đã không thấy; nghe điều các ngươi nghe, mà đã không nghe” (Mt 13:16).Chúa yêu thương trước  Vì yêu ta, Chúa đã dựng nên ta.

Chúa yêu ta hơn vạn vật vì Chúa đã dựng nên ta giống hình ảnh của Chúa (Gen 1:26-27); nghĩa là, Chúa ban cho ta có trí khôn và lòng muốn, có khả năng đón nhận và trao ban tình yêu, để ta bước vào liên hệ yêu thương với Người và chia sẻ chính sự sống và hạnh phúc sung mãn của Chúa.

Tổ tông loài người, Adong-Evà, đã lỡ dại sa ngã phạm tội và cắt đứt liên hệ yêu thương vơi Thiên Chúa.

Nhưng Chúa không “lỡ” khi dựng nên con người; Người chẳng lầm khi yêu thương chúng ta; vì Chúa biết rõ mọi việc ngay cả trước khi chúng xảy ra. Chính Người an bài hoặc cho phép mọi sự xảy ra để chứng tỏ:

- Tội lỗi con người dù lớn lao đến đâu cũng không vượt quá sự bao la của tình yêu Thiên Chúa.

- Tình yêu Thiên Chúa không dời đổi, bất chấp sự gia tăng tội lỗi nơi con người.

- Lòng thương xót của Thiên Chúa có dịp thi thố cách tuyệt vời nơi sự cứu chuộc và tha thứ tội lỗi cho con người.

- Tội lỗi là điều xấu xa mà ta phải “thà chết chẳng thà phạm tội,” nhưng việc nhận biết tội lỗi của mình để thống hối trong niềm tin cậy tuyệt đối nơi tình yêu Chúa lại là một hồng ân vĩ đại: “Với những ai yêu mến Thiên Chúa, thì Người đồng công cộng tác biến mọi sự nên lành” (Rom 8:28). Thánh Augustinô thêm “mọi sự” ở đây phải hiểu là cả “những tội đã lỡ phạm.”

Một tác giả cho rằng thật sai lầm khi chúng ta quá nhấn mạnh đến “tội nguyên thủy” về phía con người mà quên rằng việc Thiên Chúa tạo dựng con ngươi trước tiên và căn bản là một “ơn nguyên thủy.” Ơn trọng này là một quà tặng được trao ban cho con người từ tấm lòng yêu thương vô bờ của Thiên Chúa, Ðấng chính là Tình Yêu.

Vì vậy, chính Tình Yêu và Ân Sủng của Thiên Chúa, chứ không phải tội lỗi của con người, phải là trọng tâm và căn bản của đời sống và lịch sử nhân loại, là nền tảng cho mọi suy tư thần học, là lương thực nuôi dưỡng đời sống tâm linh, là ánh sáng chiếu soi tất cả các mầu nhiệm khác trong đức tin Công Giáo. Chính trong ánh sáng này, được bày tỏ rạng ngời trong mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô, mà trong Ðêm Vọng Phục Sinh Giáo Hội mới có thể gọi tội Ađam là “tội có phúc.”

Và Thánh Gioan đã tóm gọn căn bản của niềm tin Kitô giáo trong định nghĩa sau: “Tình yêu là thế này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã thương yêu chúng ta trước, và đã sai Con Một Người đến hy sinh, đền thay tội lỗi chúng ta” (1 Jn 4:7-10).

_________________________

 

 

18- Tình sử Giavê

 

Lịch sử ơn cứu độ được trình bày trong Thánh Kinh là trình thuật của việc Thiên Chúa không ngừng thi thố tình yêu vô biên tuyệt vời của Người dành cho nhân loại, biểu dương lòng trung tín, nhẫn nại và quảng đại vô bờ của Chúa. Ðó cũng là trình thuật vạch ra sự bất trung, vô ơn và dại dột của con người đối với Thiên Chúa. Ðồng thời, trình thuật ấy làm thành một sứ điệp tình yêu của Thiên Chúa mời gọi con người trở về với Người để được tha thứ, được cứu độ, được sự sống và hạnh phúc đích thực trong tình yêu của Người.

Ngay trong án phạt tội tổ đã có mầm cứu độ qua lời hứa “Dòng giống nó sẽ đạp nát đầu ngươi” (Gen 3:15). Khi giao ước yêu thương giữa Thiên Chúa và con người bị tổn thương bởi tội tổ, Thiên Chúa tiếp tục tái lập giao ước yêu thương và canh tân tình yêu của Người dành cho nhân loại qua Nôe, Abraham, Isaác, Giacóp, Môisen.

 

Cách Chúa tuyển chọn các tổ phụ và các ngôn sứ trong Cựu Ước cũng cho thấy tình yêu của Người dành cho ta là một món quà nhưng không: Người chọn Giacóp là em thay vì Êsau là anh để làm tổ phụ Dân Chúa; vị vua đầu tiên của Dân Chúa là Saolê được chọn từ chi tộc Bengiamin, chi tộc rốt cùng trong 12 chi tộc Israel; Ngôn sứ Samuel được Chúa sai đến xức dầu phong vương cho Ðavít, người em út trong gia đình Ysai!

Qua đó, Chúa muốn ta hiểu rằng Ơn Chúa dành cho ta không phải vì ta xứng đáng nhưng là vì Chúa quá yêu thương ta. Và chúng ta đã được thuộc về Chúa trong một giao ước tình yêu, một hôn ước, chứ không phải một khế ước buôn bán đổi chác hay một hợp đồng công xá, dựa trên việc tính toán, cân đo, đong đếm.

Có thể nói được rằng ngôn sứ Hôsê là người đã trình bày tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại bằng ngôn ngữ của liên hệ phu phụ giữa Giavê với dân Israel một cách tha thiết đậm đà hơn cả. Hôsê khởi đầu sứ vụ ngôn sứ trong thời Vua Jeroboam II ở vương quốc phía Bắc (783-743 BC), tiếp tục hoạt động trong các triều kế tiếp và có lẽ kết thúc trước năm 721 BC. Ông đã cưới một người vợ tên là Gômer, và người vợ này đã bỏ ông. Ông vẫn yêu quí và đã nhận về sau khi đã thử luyện.

 

Kinh nghiệm đau thương này của Hôsê đã trở thành một hình ảnh cho cách cư xử của Giavê đối với dân Người. Hôsê là người đầu tiên đã diễn tả liên hệ giữa Giavê và Israel trong ngôn ngữ của một cuộc hôn nhân. Sứ điệp của ông gây ảnh hưởng sâu đậm trong Cựu Ước và trong lời kêu gọi của các ngôn sứ sau này về một tôn giáo của tấm lòng, của con tim.

Các ngôn sứ Jeremiah, Ezekiel và Isaia tiếp tục dùng ngôn ngữ của tình yêu phu phụ để diễn tả liên hệ giữa Giavê và Israel. Các tác giả Tân Ước cũng dùng ngôn ngữ ấy để diễn tả liên hệ giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Trong truyền thống tu đức và thần bí của Giáo Hội, liên hệ phu phụ cũng được dùng để diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và mỗi linh hồn.

Trong sấm ngôn của Hôsê, Giavê như muốn nhắc lại tình sử của Người dành cho Israel:

 

”Thuở Israel còn là trẻ bé, Ta đã mến thương,

và từ Aicập, Ta đã gọi con Ta.

Người ta (cũng) đã gọi chúng. Thế là chúng đã lìa Ta.

Phần chúng, chúng đã tế cho các Baal,

chúng đã huân yên kính ngẫu tượng.

Chính Ta, Ta đã tập đi cho Ephraim.

Ta bồng bế chúng trên cánh tay Ta.

Nhưng chúng nào có biết là chúng đã được Ta săn sóc.

Ta lôi kéo chúng, với dây tình người, với thừng chão yêu thương.

Với chúng, Ta ở như những người nhấc con đỏ lên tận má mình.

Và cúi xuống trên nó, Ta mớm cho nó ăn” (Hs 11:1-4).

Trong tình sử ấy, bất chấp sự xấu xa bội phản của Israel, Giavê đã bước vào mối tình thâm sâu với Israel, đã đính hôn và kết hôn với Israel, để Israel mãi mãi thuộc về Giavê, và thuộc về một mình Người mà thôi:

”Cho nên, này Ta dụ dỗ nó, đem nó vào sa mạc,

và kề lòng Ta nói khó với nó” (Hs 2:16).

”Ta sẽ đính hôn với ngươi mãi mãi,

Ta sẽ đính hôn với ngươi bằng công chính,

Công minh, nhân nghĩa, xót thương.

Ta sẽ đính hôn với ngươi bằng đức trung tín,

Và ngươi sẽ biết Giavê” (Hs 2:21-22).

”Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ,

Ðấng xây dựng ngươi sẽ cùng ngươi kết nghĩa giao duyên,

Như tân lang hoan hỉ nơi một tân nương,

Người sẽ hoan hỉ nơi ngươi, Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62:5).

Về phần Israel, tất cả chỉ là phản bội, thất trung, là thờ ơ lãnh đạm, là dối trá điêu ngoa, lấy oán báo ân khi Israel chạy theo các tà thần ngoại lai để phạm đủ thứ tội ác làm đau lòng Giavê: “.chúng đã phạm đến Giao ước...chúng đã bội tín với Ta” (Hs 6:7). Chính sự phản bội và tội lỗi của Israel đã khiến họ lìa xa Thiên Chúa và gây ra những đau khổ cùng cực cho chính họ.

”Những công việc của chúng

không cho phép chúng trở lại với Thiên Chúa chúng thờ,

bởi giữa chúng thần đĩ điếm đã tung hoành,

nên chúng đã chẳng biết Giavê.

Tội kiêu ngạo của Israel đã vạch mặt nó,

Vì tội của nó Israel và Ephraim sẽ lăn nhào.

Và cả Giuđa cũng đã lăn nhào với chúng” (Hs 5:4-5).

”Khốn cho chúng, bởi chúng đã trốn thoát Ta!

Tan hoang cho chúng, bởi chúng đã phản nghịch Ta!

Phần Ta, Ta đã muốn chuộc chúng lại,

còn chúng, chúng đã nói dối nói trá chống lại Ta” (Hs 7:13).

Mặc dù Thiên Chúa đau buồn và nổi cơn ghen tức trước sự ngoại tình của Israel, vì quá yêu Israel và vì lòng tín trung của Người, Giavê không thể bỏ hẳn Israel, không thể đoạn giao với Israel. Người sẽ mãi mãi yêu thương, mãi mãi thứ tha:

”Dân Ta đèo queo lấy trò phản phúc lại Ta.

Người ta gọi chúng lên cao,

tuyệt nhiên chẳng một người nào rướn lên.

Làm sao Ta nỡ bỏ ngươi, hỡi Ephraim,

hay thí hẳn ngươi đi, hỡi Israel?

Lòng Ta đảo lộn trong Ta, và mối chạnh thương sôi réo cả lên.

Không, Ta sẽ không thi hành hỏa hào khí nộ.

Ta sẽ không hủy diệt Ephraim.

Vì Ta là Thiên Chúa chứ không phải phàm nhân.

Ở giữa ngươi, (Ta là) Ðấng Thánh. Ta sẽ không nổi tam bành” (Hs 11:7-9).

___________

Dù là Thiên Chúa toàn năng, Giavê như vẫn phải băn khoăn tìm kiếm cách thức để thi thố tận tuyệt tình yêu Người dành cho Israel. Và thực sự Người đã làm tất cả những gì có thể làm được để chinh phục tình yêu của Israel, bất chấp sự hờ hững, lạnh nhạt, bất trung của họ:

”Ta phải làm gì cho ngươi, hỡi Ephraim?

Ta phải làm gì cho ngươi, hỡi Giuđa?

Lòng tín nghĩa của ngươi như mây ban sáng,

Như màn sương sớm tan” (Hs 6:4).

”Nào đối với vườn nho của tôi,

có gì phải làm nữa mà tôi đã không làm?

Tại sao tôi trông nó sai trái, nó lại sinh nho dại?” (Is 5:4).

Và tình yêu của Thiên Chúa, chứ không phải sự báo oán của Người như dân gian lầm tưởng, chính là “lưới trời lồng lộng” tiếp tục bao phủ Israel, tiếp tục mời gọi họ trở về để được Người tha thứ mọi tội lỗi, tẩy sạch mọi vết nhơ và chữa lành mọi thương tích của họ. Và ngoài Giavê, không ai có thể chữa trị vết thương lòng của Israel, không ai đem lại cho họ ơn cứu độ, không ai có thể thoả mãn cơn khát yêu thương mà chính Chúa đã gieo vào lòng họ.

”Cho dù chúng đi đâu, Ta cũng sẽ căng lưới trên chúng.

Ta sẽ dập chúng xuống như chim trời.

Vừa nghe chúng họp đàn, Ta ví chúng lại” (Hs 7:12)

”Hãy trở lại, hỡi Israel, với Giavê Thiên Chúa của ngươi!

Vì chính bởi tội ngươi mà ngươi đã nhào” (Hs 14:2)

”Sự phản phúc của chúng, Ta sẽ chữa lành.

Ta sẽ hết lòng yêu thương nó.

Quả trên nó, cơn giận của Ta đã hối lại” (Hs 14:5).

Chúa Giêsu Kitô là giao ước mới

Việc Dân Chúa bất trung với giao ước đã ký kết với Giavê không làm cho Người thất vọng hay bỏ rơi họ. Nhưng Thiên Chúa vẫn tiếp tục thi thố đến cùng tình yêu Người dành cho họ. Người hứa sẽ ký kết với nhân loại qua dân Israel một giao ước mới:

”Này sẽ đến những ngày—sấm của Giavê—Ta kết với Nhà Israel và Nhà Giuđa, một Giao ước mới, không phải như Giao ước Ta đã kết với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay chúng để đem chúng ra khỏi đất Aicập. Chúng đã hủy bỏ giao ước của Ta mặc dù Ta là Chúa tể của chúng—sấm của Giavê. Vì này là Giao ước Ta sẽ kết với Israel sau những ngày ấy—sấm của Giavê—Ta sẽ đặt luật của Ta vào bên trong chúng và Ta sẽ viết trên tim lòng chúng; và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta” (Jer 31:31-33).

Giao ước này sẽ là giao ước vĩnh cửu, giao ước đời đời. Chính nơi giao ước này mà con người sẽ mãi mãi thuộc trọn về Thiên Chúa, mãi mãi là đối tượng của lòng thương xót vô biên của Người. Và cũng chính nơi giao ước này, Thiên Chúa vui mừng tự buộc mình làm phúc cho con người, trao ban tấm lòng của chính Người cho nhân loại, để họ được nên một với Người, để Người trở nên nguồn hạnh phúc sung mãn đời đời của họ:

”Chúng sẽ là dân Ta; còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng. Ta sẽ ban cho chúng cùng một tấm lòng, cùng một đường lối, để chúng kính sợ Ta mọi ngày, nên nguồn hạnh phúc cho chúng và con cái nối theo chúng. Ta sẽ ký với chúng một giao ước muôn đời, do đó Ta sẽ không ngừng theo dõi chúng để gây hạnh phúc cho chúng; Ta sẽ đặt sự kính sợ Ta nơi lòng chúng, để chúng không còn lìa bỏ Ta. Ta sẽ vui mừng mà gây hạnh phúc cho chúng và một cách chân thật, Ta sẽ đem hết lòng, hết sinh mạng Ta mà trồng chúng trong xứ này” (Jer. 32: 38-41).

Chúa Giêsu Kitô chính là Giao Ước mới ấy, Giao Ước tình yêu vĩnh cửu Thiên Chúa ký kết với con người như lời sấm của ngôn sứ Isaia:

”Chính Ta đã gọi ngươi phò đức nghĩa,

Ta nắm tay ngươi, Ta đã nắn ra ngươi,

và đặt ngươi làm giao ước của dân, làm ánh sáng các nước.

Ðể mở những mắt mù lòa, để đưa tù nhân ra khỏi nhà lao,

khỏi ngục thất, dân cư bóng tối” (Is Is 42:6-7).

Người còn là mức độ tận cùng của tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại: “Quả vì Thiên Chúa đã yêu mến thế gian như thế (đó) đến đỗi đã thí ban Người Con Một, ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đời” (Jn 3:16).

Vì vậy, tin hay không tin, chấp nhận hay từ chối Chúa Giêsu chính là chấp nhận hay từ chối bước vào Giao Ước Mới, Giao Ước Tình Yêu Muôn Thuở Ngút Ngàn của Thiên Chúa Giavê như đã được trình bày trong Thánh Kinh.

Chúa không lầm

Thiên tình sử giữa Giavê và Israel hay tương quan yêu thương thiết thân giữa Thiên Chúa với mỗi linh hồn luôn là một bản tình ca bao gồm lời tán dương lòng thương xót bao la ngút ngàn của Thiên Chúa và một lời thú nhận sự yếu hèn, tội lỗi và bất xứng của con người. Và tâm tình căn bản được gặp thấy nơi những ai từng cảm nghiệm ân tình Chúa bao giờ cũng là tâm tình tri ân và thống hối, vui mừng và hy vọng.

Bài thánh ca “Chúa Không Lầm” của Linh Mục Nhạc Sĩ Kim Long đã diễn tả cách tuyệt vời tấm lòng yêu thương bao la của Thiên Chúa như nền tảng của niềm vui và hy vọng của người tín hữu bất chấp sự mỏng dòn hay sa ngã, dễ phạm tội của kiếp người như sau:

PK 1: Chúa không lầm khi Ngài dựng nên con dù lời Ngài con không giữ tròn vì Chúa đã biết từ ngàn xưa: rằng thân con bởi tro bụi và được cưu mang trong tội lỗi.

ÐK: Nhưng lòng Chúa vẫn bao la, dù cho bao phen con yếu đuối thành tâm xin ăn năn thống hối là Ngài lại thứ tha.

PK 2: Chúa không lầm khi Ngài đành hy sinh để rồi nhìn con không đáp tình vì Chúa đã biết từ ngàn xưa: còn mang thân thể nặng nề là còn luôn mê mải trần thế.

PK 3: Chúa không lầm khi Ngài gọi con theo dù đời lạc trôi như cánh bèo vì Chúa đã biết từ ngàn xưa: một khi hơi thở chưa tàn là đời chưa qua khỏi sầu oán.

PK 4: Chúa không lầm khi Ngài dìu con lên dù rằng đời con bao thấp hèn vì Chúa đã biết từ ngàn xưa: nhiều khi con chẳng trung thành là vì con đâu phải thần thánh.

PK 5: Chúa không lầm khi Ngài dậy con yêu dù đường tình con oan trái nhiều vì Chúa đã biết từ ngàn xưa: từng giây rung cảm trong lòng là từng giây hơi thở rực nóng.

Vâng, Chúa không lầm khi Người dựng nên ta, khi Người cứu chuộc ta, khi Người gọi và chọn ta bước vào liên hệ yêu thương với Người nơi Chúa Giêsu Kitô. Cũng vậy, chúng ta sẽ không lầm khi phó dâng trọn cả con người và cuộc sống của ta cho Thánh Tâm Chúa Giêsu và chọn Người là tình yêu tuyệt đối và duy nhất của tâm hồn ta, là tất cả trong mọi sự của ta!

Ðó là Tin Mừng cho tất cả những ai nhận biết Tấm Lòng Thiên Chúa nơi Tình Yêu Tuyệt Ðối của Thánh Tâm Chúa Giêsu!

___________________

 

 

 

 

 

 

19- TÂM TƯ CHÚA KITÔ

Lm. Phạm Quốc Hưng, C.Ss.R.

 

Trái Tim Chúa Giêsu là hiện thân của Tình yêu Thiên Chúa dành cho con người. Ðó cũng là biểu tượng của trọn cả con người của Chúa Giêsu với trót cả thiên tính và nhân tính của Người. Vì thế, cũng chính nơi Trái Tim Chúa Giêsu con người tìm được phương thế để đón nhận và đáp trả cách trọn hảo tình yêu Thiên Chúa.

Thánh Phaolô đã chỉ ra cho chúng ta bí quyết sống trọn vẹn đức tin Kitô; nghĩa là, sống trọn vẹn giao ước tình yêu giữa Thiên Chúa và con người, nơi việc chúng ta phải sống như Chúa Kitô đã sống, phải trở nên giống Ngài, phải nên một với Ngài, phải có được tâm tư như đã có nơi Chúa Kitô. Nói khác đi, để trở nên một Kitô hữu đích thực, ta phải “mặc lấy Chúa Kitô,” phải có được nơi mình Trái Tim của chính Chúa Giêsu. Nhờ vậy, ta mới có được cách suy nghĩ, cảm xúc, phán đoán, chọn lựa, nói năng và hành động của chính Chúa Giêsu trong tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân, với chính mình và với vạn vật.

Vì vậy, Thánh Tâm Chúa Giêsu hay tâm tư Chúa Kitô phải là đối tượng tuyệt đối để chúng ta chiêm ngắm, mến yêu và hiệp nhất trong mọi nơi, mọi lúc.

 

Thánh ca: Tâm Tư Chúa Kitô (Philip 2:5-11)

Con người, cuộc đời, hoạt động và tâm tư Chúa Giêsu Kitô có thể nói là đã được tóm gọn trong đoạn thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Philip 2:5-11 như sau:5. Anh em hãy có nơi anh em tâm tư như đã có trong Ðức Kitô Giêsu:

6. Ngài, phận là phận của một vì Thiên Chúa, nhưng Ngài đã không nghĩ phải giằng cho được chức vị đồng hàng cùng Thiên Chúa.

7. Song Ngài đã hủy mình ra không, là lĩnh lấy thân phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người ta; đem thân đội lốt người phàm,

8. Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục cho đến chết, và là cái chết thập giá!

9. Bởi vậy, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài! và ban cho Ngài Danh hiệu vượt quá mọi danh hiệu,

10. Hầu trước Danh hiệu của Ðức Giêsu, mọi gối đều phải quì xuống bái lạy, chốn hoằng thiên, trên địa cầu, dưới gầm đất,

11. và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng: GIÊSU KITÔ LÀ CHÚA, mà làm vinh quang cho Thiên Chúa Cha.

 

Có thể nói đoạn Thánh Thư này chứa đựng toàn bộ khoa Kitô học. Thật vậy, đoạn thư này vừa xác nhận thiên tính Chúa Giêsu vừa xác nhận nhân tính của Người, vừa trình bày mầu nhiệm Nhập Thể Làm Người của Ðức Kitô vừa trình bày mầu nhiệm Thập Giá Cứu Chuộc của Người, vừa cho thấy tâm tình vâng phục của Chúa Cứu Thế đối với Chúa Cha vừa cho thấy tình yêu thẳm sâu của Người dành cho nhân loại, vừa vạch ra cái giá đau khổ Chúa Kitô phải chịu để thực thi thánh ý Chúa Cha vừa làm sáng tỏ vinh quang tột bậc Người đã được Chúa Cha ban tặng.

 

Tâm tư Chúa Kitô theo Thánh Claude de la Colombiere:

 

Theo Thánh Claude de la Colombiere, linh hướng của Thánh nữ Margarita Alacoque, những tâm tình hay nhân đức chính yếu cần được nhận biết, chiêm ngắm và noi theo nơi tâm tư Chúa Kitô là:

Trước tiên và trên hết là lòng yêu mến thiết tha của Người đối với Chúa Cha Hằng Hữu. Lòng yêu mến này được liên kết với sự tôn kính thẳm sâu và một sự khiêm nhường hết sức có thể.

Thứ đến là sự nhẫn nại vô cùng, một nỗi đau đớn và một niềm thống hối tột cùng vì mọi tội lỗi của nhân loại mà Người đã nhận lấy vào chính mình. Nơi Người, lòng tin cậy của một người con thảo được liên kết với sự hổ ngươi của một tội phạm nặng nề.

Sau nữa là một sự cảm thương rất thực của Người đối với các khổ sở của con người chúng ta, một tình thương bao la dành cho ta dù ta có là gì đi nữa, một sự an tĩnh không đổi dời của linh hồn dựa trên sự đầu phục thánh ý Chúa cách hoàn hảo đến nỗi không gì làm xáo trộn được.

_____________________

 

 

 

20- Tìm hiểu Thánh Ca “Tâm Tư Chúa Kitô”

 

http://www.ttmhcg.com/baopic/s183sungkinh.jpg

Ðiều cần phải ghi nhận ở đây là chiều kích hàng dọc, nghĩa là tương quan đời đời đối với Chúa Cha nơi Chúa Kitô hay bản vị thần linh của Người, giữ vị thế căn bản và ưu việt trong mọi sinh hoạt của Ðức Kitô. Tất cả mọi hoạt động hay tâm tình của Chúa Kitô dành cho con người đều bắt nguồn và dựa trên tương quan của Người dành cho Chúa Cha. Có lẽ đó là lý do lời nguyện đầu tiên trong Kinh Cầu Trái Tim Chúa Giêsu là lời nguyện: “Trái Tim Chúa Giêsu Con Ðức Chúa Cha Hằng Có Ðời Ðời.”

Câu 5: Tâm tư Chúa Kitô phải là mẫu mực và căn nguyên cho đời sống mỗi tín hữu. Ðiều này phải được hiểu là Kitô giáo không phải được xây dựng trên một hệ thống tín lý hay luân lý, cũng chẳng phải được đặt nền tảng trên một Cuốn Sách dù là Sách Thánh như một số giáo phái chủ trương, nhưng được dựa trên một bản vị, một Con Người là Thiên Chúa Nhập Thể, trên chính Chúa Giêsu Kitô, trên Tình Yêu của Thánh Tâm Người.

Câu 6: Xác định bản tính và bản vị thần linh của Chúa Giêsu. Người không phải tranh giành địa vị Thiên Chúa vì tự bản chất Người luôn là Thiên Chúa. Khác với các thần dữ và tổ tiên loài người là những kẻ đòi tiếm quyền Thiên Chúa. Nơi Ðức Kitô, tuyệt đối không có hình bóng của sự kiêu ngạo và ganh tị.

Câu 7: KENOSIS hay việc “hủy mình ra không” là một chủ đề lớn trong Kitô học. Việc hủy mình này không phải chỉ được hiểu trong ý nghĩa Cuộc Thương Khó và Cái Chết của Ðức Kitô, nhưng về căn bản phải được hiểu là chính biến cố Nhập Thể nơi Người. Vì tự bản chất, con người chỉ là hư vô.

Khi làm người, Ðức Kitô đã mang lấy chính sự hư vô ấy của ta và chia sẻ trọn vẹn mọi sự đớn hèn kém phát sinh tự bản chất hư vô ấy của con người để trở nên Thượng Tế và Hiến Lễ Chuộc Tội cho nhân loại: “Quả thế, Thượng Tế ta có không phải là người không thể cảm thông với nỗi yếu hèn của ta, song là Ðấng đã dãi dầu thử thách, muôn sự đều tương tợ, trừ phi là tội” (Heb 4:15). Ðây chính là một bằng chứng hùng hồn của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta: tình yêu hiệp nhất. Thiên Chúa đã nên một với ta ngay cả trong việc mang lấy nơi mình cái gốc hư vô của ta.

Nhưng Chúa Kitô là người cách hoàn hảo hơn bất cứ ai cũng chính vì sự “hủy mình ra không” cách hoàn hảo của Người. Khi hủy mình ra không, Chúa Kitô đã có thể đón nhận trọn vẹn ân nghĩa của Chúa Cha và trở nên tràn đầy ơn cứu độ. Người đã chỉ cho ta thấy tất cả sự cao trọng của con người không hệ tại sự tự tôn phong của họ nhưng hệ ở ân nghĩa của Chúa ban cho họ. Nói khác khi, con người chỉ tìm được giá trị đích thực của mình trong liên hệ yêu thương với Thiên Chúa mà thôi. Ðồng thời, Chúa Kitô cũng cho ta thấy nguyên tắc mất để được, chết để sống đã được thực hiện cách đầy đủ nơi cuộc sống của chính Người.

 

Trong tập sách giáo lý dùng cho các khóa học về Thánh Tâm Chúa Giêsu, Cha Giacôbê Ðào Hữu Thọ, CSsR, đã đưa ra nhận xét sau về sự độc đáo của tâm tư Chúa Kitô:

”Con người chỉ có một đường tu đức thánh thiện, là chấp nhận vô điều kiện những gì Thiên Chúa muốn ban cho mình, như Ðức Giêsu Kitô đã làm...

”Ðạo hiếu của Ngài tuyệt đối độc hữu. Ngài độc quyền sở hữu Một Tấm Lòng, một tâm tình hiếu thảo tột độ và vô biên. Ngôi Con từ đời đời bắt nguồn tự Cha, đời đời hướng về Cha. Ngôi Con đó, một khi Nhập Thể, Ngài truyền lòng hiếu đời đời của Ngài vào trong nhân tính Ngài mặc. Cho nên tâm tình hiếu thảo đời đời của Ngài diễn qua con người phàm nơi Ngài. Vậy nên, Tâm Tư hay Tấm Lòng của Ðức Giêsu Kitô, tất nhiên phải là Tâm Tư hay Tấm Lòng Một Chiều: ‘chiều Cha’. Bỏ ngỏ cho Cha là thế...

”Ðức Giêsu Kitô đã đầu phục Thiên Chúa Cha một cách tuyệt diệu như thế đó! Tuyệt tuyệt diệu! Chỉ có một Thiên Chúa Ngôi Lời Nhập Thể mới thấu triệt tột mức và đồng thời trong hiển thức, trong sự tự do hoàn hảo, đã chấp nhận được cái ‘chân vô’ của một thụ tạo, trước cái ‘chân hữu’ của Thiên Chúa, và để cho ‘chân hữu’ ấy ngập lụt mình...

”Tấm Lòng Ðức Giêsu Kitô thật độc đáo.

”Tấm Lòng Ðức Giêsu Kitô là tấm lòng Bỏ Ngỏ tuyệt đối.

”Tấm Lòng Ðức Giêsu Kitô là tấm lòng ý thức được trọn vẹn cái ‘CHÂN VÔ’ của mình và mở toang hoang ra đón nhận cái ‘CHÂN HỮU’ của Thiên Chúa.

”Tấm Lòng Ðức Giêsu Kitô là tấm lòng Người Con hiếu thảo vô biên của Cha Hằng Có.

”Trên trời dưới đất chỉ có Một Tấm Lòng nầy. Ðời đời cũng chỉ có Một Tấm Lòng này. Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện, toàn minh cũng chỉ tạo dựng nên được Một Tấm Lòng này...Vì Ðức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, Chết-Sống Lại, chỉ có Một mà thôi, trong kế hoạch tình yêu của Thiên Chúa. Và Ðức Giêsu Kitô là thực tại cánh chung đại cuộc tạo thành, thực tại viên mãn chấm dứt đại cuộc này...”

Sự từ bỏ hay “hủy mình ra không” vì thế đã trở thành đòi hỏi căn bản cho bất cứ ai muốn bước theo Chúa Kitô: “Nếu ai muốn đi sau Ta thì hãy chối bỏ chính mình, hãy vác lấy khổ giá mình mỗi ngày và hãy theo Ta!” (Lc 9:23).

___________________

 

 

21- Chỉ ra đức khiêm nhường và vâng phục

là hai nhân đức nền tảng nơi Ðức Kitô.

Câu 8:

Khiêm nhường đích thực ở đây là nhìn nhận căn gốc hư vô của bản tính là thụ tạo của mình và quy hướng mọi sự tốt lành về Thiên Chúa như Nguồn Mạch mọi sự thiện hảo nơi mình: “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi, Con không thể làm điều gì tự mình, nhưng mọi sự đều vì đã trông thấy Cha làm, thì Con cũng làm như thế nữa” (Jn 5:19) .”.và tự Ta, Ta không làm gì; nhưng Cha đã dạy Ta làm sao, Ta nói vậy” (Jn 8:28).

Sự khiêm nhường như thế sẽ dẫn đến thái độ vâng phục thánh ý Thiên Chúa cách hoàn hảo. Sự vâng phục này là cốt lõi của việc biểu lộ tình yêu của con người dành cho Thiên Chúa. Tất cả sứ mạng của Chúa Kitô được gói trọn trong câu này: “Bởi đó lúc vào trần gian Ngài nói: Hi sinh cùng lễ vật Người đã chẳng màng, nhưng Người đã nắn lên thân xác cho con, Các lễ toàn thiêu cùng tạ tội, Người đã chẳng đoái. Bấy giờ, con nói: Này con đến,--trong cuốn sách đã viết về con—để thi hành ý muốn Người, lạy Thiên Chúa” (Heb 10:5-7).

Thánh Tôma Aquinô: “Vâng phục là dấu đích thực của khiêm nhường.” Cả hai nhân đức này được biểu lộ cách tuyệt hảo nơi Chúa Kitô Chịu Ðóng Ðinh Thập Giá. Bằng khiêm nhường và vâng phục, Ðức Kitô đã cứu chuộc nhân loại sa ngã vì tội kiêu ngạo và bất phục. Ðồng thời, chính trên Thánh Giá Người đã thể hiện một tình yêu thẳm cho Chúa Cha và một tình yêu tận tuyệt đối với con người: “Không có lòng mến nào lớn hơn là thí mạng sống mình vì bạn hữu” (Jn 15:13).

Chúa Giêsu Kitô không phải chỉ là mẫu gương tuyệt hảo của đức khiêm nhường và vâng phục, nhưng Người chính là Hiện Thân của Ðức Khiêm Nhường và Vâng Phục. Mọi nhân đức, mọi sự thánh thiện, cũng như đức khiêm nhường và vâng phục đích thực nơi mỗi người phải được đo lường trong tương quan với Chúa Kitô. Càng đầy Chúa Kitô nơi mình, sự khiêm nhường và vâng phục Thiên Chúa hay sự thánh thiện càng gia tăng. Như trong Kinh Vinh Danh, Giáo Hội tuyên tín: “Chỉ có Chúa là Ðấng Thánh.” Vì vậy, không có sự thánh thiện ngoài Chúa Kitô. Ðó là lý do tại sao Thánh Gioan Tiền Hô tuyên bố: “Ngài phải tiến, còn tôi phải suy giảm” (Jn 3:30).

Câu 9-11: Khi Chúa Kitô đã hoàn tất sứ vụ của Người bằng con đường khiêm nhường và vâng phục, mến yêu và tự hiến của Thập Giá, Thiên Chúa đã siêu tôn Ðức Kitô khi tặng ban cho Người Danh Hiệu của chính Thiên Chúa, Ðấng là Chúa Tể Muôn Loài Muôn Vật, và bắt muôn người muôn vật phải phục tùng Người. Chúa Kitô đã, đang và sẽ mãi mãi là Vua Vũ Trụ. Người còn muốn làm Vua Lòng của mỗi người chúng ta qua việc chúng ta dành cho Người tình yêu tuyệt đối và sâu thẳm nhất của tâm hồn chúng ta.

Trong Kinh Cầu Trái Tim Chúa Giêsu, Hội Thánh xác định: “Trái Tim Chúa Giêsu là Vua lòng mọi người và là chốn phải hướng về thay thảy.” Chúa Giêsu muốn chúng ta cùng chia sẻ vinh quang tuyệt vời của chính Người qua việc noi gương khiêm nhượng, vâng phục và bỏ mình tự hiến theo con đường Thánh Giá của Người để chiến thắng ma quỷ, thế gian và xác thịt: “Vì phàm kẻ nào nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống, và kẻ hạ mình xuống sẽ được nhắc lên” (Lc 14:11) và “Ai thắng, Ta sẽ cho ngự với Ta trên ngai của Ta; cũng như Ta đã thắng và Ta đã ngự với Cha Ta trên ngai của Người” (Rev 4:21).

 

Kết luận:

Việc sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu cách chân thực phải dẫn ta đến việc có được nơi mình tâm tư như đã có nơi chính Chúa Giêsu, được kết hợp mật thiết với Trái Tim Người. Ðó mới là sự thánh thiện đích thực. Sự thánh thiện này không dựa trên tài năng, đức độ, công nghiệp của bản thân ta, nhưng dựa trên mức độ ta nhìn nhận căn gốc hư vô của mình và mở lòng đón nhận tất cả như hồng ân Chúa ban, để cho Chúa hoàn toàn làm chủ và hướng dẫn con người và cuộc sống của mình. Nhờ vậy, Thiên Chúa sẽ thực hiện nơi ta những điều kỳ diệu vượt quá điều ta có thể mơ ước và cầu xin, đúng theo Thánh ý và chương trình yêu thương Người dành sẵn cho ta từ đời đời, như Người đã thực hiện nơi Ðức Giêsu Kitô. Tâm hồn ta từ đó sẽ cảm nhận sự tự do, niềm vui và bình an của những người con cái Chúa, của những người thực sự thuộc về Chúa Kitô, thuộc về Thánh Tâm Chí Thánh của Người.

 

_________________

                                        

 

 

22- THÁNH GIÁ

ÐƯỜNG VÀO THÁNH TÂM

 

Lm. Phạm Quốc Hưng, C.Ss.R.

Trong cuốn Cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu Kitô, Thánh Anphong Liguori có trích lời nhà hiền triết Cicero bàn về đặc tính của tình yêu như sau: “Có hai điều khiến chúng ta nhận biết một người đang yêu; một là làm những điều tốt đẹp cho người mình yêu, hai là chịu đau khổ vì người mình yêu; và điều sau này là dấu chỉ lớn nhất của tình yêu chân thực.”

Cả hai dấu chỉ của tình yêu chân thực trên đã được thể hiện một cách trọn hảo nơi Thánh Tâm Chúa Giêsu, tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại nói chung và mỗi người chúng ta nói riêng, khi chúng ta chiêm ngắm mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc của Người.

Chính Chúa Giêsu cũng xác định điều này khi Người nói: “Quả vì Thiên Chúa đã yêu thương thế gian như thế (đó) đến đỗi thí ban Người Con Một, ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đời” (Jn 3:16) và “Không có lòng mến nào lớn hơn là thí mạng sống mình vì bạn hữu” (Jn 15:13).

Vì Chúa Giêsu đã chọn Thánh Giá là phương thức để “thí mạng mình vì bạn hữu” và vì Giáo Hội dạy chúng ta “thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ,” như chúng ta vẫn đọc khi ngắm Các Chặng Ðàng Thánh Giá, nên việc suy tôn Thánh Giá là một điều không thể thiếu được trong việc sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Ðiều này đã được Ðức Thánh Cha Piô XII khẳng định trong Thông Ðiệp Về Lòng Sùng Kính Thánh Tâm như sau: .”..lòng sùng kính nồng nhiệt đối với Thánh Tâm Chúa không chút nghi ngờ sẽ khích lệ và cổ cõ lòng sùng kính Thánh Giá...”

 

Thánh Giá trong kế đồ cứu chuộc của Thiên Chúa

 

Thánh Giá, biểu tượng của Cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu, không phải là một tai nạn ngẫu nhiên trong cuộc đời nhân thế của Chúa Giêsu, nhưng đã được định sẵn trong chương trình cứu chuộc từ đời đời của Thiên Chúa. Ðiều này đã được báo trước nơi các sấm ngôn trong Cựu Ước.

Thực vậy, các Phúc Âm luôn giới thiệu Chúa Giêsu như Người Tôi Tớ Ðau Khổ của Thiên Chúa theo lời sấm của Ngôn Sứ Isaia:

”Tôi đã giơ lưng cho người đánh đập, và chìa má cho kẻ nhổ râu. Tôi đã giấu mặt tránh nhục nhằn và khạc nhổ. Ðức Chúa sẽ hộ vực tôi, khiến tôi không bị nhục nhằn; khiến tôi mặt mày trơ trơ như đá cuội, và tôi biết là tôi sẽ không phải thẹn thuồng” (Is 50: 6-7).

Ðồng thời, các thánh sử cũng cho thấy những lời sấm trong Cựu Ước về một Ðấng Cứu Thế Chịu Ðau Khổ đã nên trọn nơi cuộc Tử Nạn và Thương Khó của Chúa Giêsu:

”Ðóng đinh Ngài rồi, họ rút thăm và chia nhau áo xống Ngài, ngõ hầu nên trọn điều tiên tri đã nói: Chúng đã chia nhau áo xống tôi, và áo chùng của tôi chúng đã bỏ thăm” (Mt 27:35).

”Ðúng giờ thứ ba, thì họ đã đóng đinh Ngài. Tấm biển kê bản án Ngài đề là: Vua dân Do Thái. Cùng với Ngài, họ cũng đóng đinh thập giá hai tên cướp, một tên bên hữu, một tên bên tả Ngài, và đã nên trọn lời Sách Thánh rằng: Ngài bị liệt hàng cùng kẻ ác nhân” (Mc 15:25-28).

”Ðến bên Ðức Giêsu, họ thấy Ngài đã chết, thì không đập bể ống chân Ngài, nhưng một người lính lấy đòng đâm cạnh sườn Ngài, và lập tức có máu và nước chảy ra. Người trông thấy đã làm chứng—và chứng của người ấy là chứng xác thực, và người biết là đã nói thực—ngõ hầu cả anh em nữa cũng tin. Các điều ấy xảy ra là để Kinh Thánh được nên trọn: Không một xương nào của Người sẽ bị giập. Lại còn lời Kinh Thánh khác nói: Chúng sẽ trông lên Người chúng đã đâm” (Jn 19:33-37).

Sau khi sống lại và hiện ra với hai môn đệ trên đường đi Emmau, chính Chúa Giêsu cũng xác nhận rằng Người đã đón nhận mọi đau khổ, nhục nhã và cái chết tất tưởi trên thập giá để tất cả lời Kinh Thánh chứa đựng chương trình và thánh ý Chúa Cha được nên trọn nơi Ngài: “‘Hỡi những kẻ ngu độn và trí lòng chậm tin vào mọi điều các tiên tri đã nói! Thế thì Ðức Kitô lại không phải chịu khổ nạn như thế đã, rồi mới vào vinh quang của Ngài sao?’ Và khởi đi từ Môsê và hết thảy các tiên tri, Ngài dẫn giải cho họ các điều đã viết về Ngài trong toàn bộ Kinh Thánh” (Lc 24:25-27).

Và Người đã lập lại điều đó khi hiện ra với các tông đồ tại Giêrusalem: “‘Những lời này, Ta đã nói cùng các ngươi, khi còn ở giữa các ngươi, là phải nên trọn mọi điều đã viết về Ta trong luật Môsê và các tiên tri và Thánh Vịnh.’ Bấy giờ Ngài mở trí cho họ hiểu Kinh Thánh. Rồi Ngài nói với họ: ‘Ðã viết như thế: Ðức Kitô phải chịu khổ nạn và ngày thứ ba thì sống lại từ cõi chết; và nhân danh Ngài, phải được rao giảng cho mọi dân tộc việc hối cải để được tha thứ tội lỗi—khởi từ Giêrusalem. Về các điều ấy, các ngươi là chứng nhân” (Lc 24:44-48).

__________________

 

Thánh Giá trong tâm tư Chúa Kitô

 

Chúa Giêsu luôn nhìn nhận sự hiện diện không thể tránh được của Thánh Giá trong ý định yêu thương và chương trình cứu độ Thiên Chúa. Tất cả sứ mạng và cuộc đời của Người không nhắm vào một mục đích nào khác hơn là thực hiện thánh ý Chúa Cha như Thánh Phaolô đã viết: “Bởi đó lúc vào trần gian Ngài nói: Hi sinh cùng lễ vật Người đã chẳng màng, nhưng Người đã nắn lên thân xác cho con. Các lễ toàn thiêu cùng tạ tội, Người đã chẳng đoái. Bấy giờ, con nói: Này con đến,--như trong cuốn sách đã viết về con—để thi hành ý muốn của Người, lạy Thiên Chúa” (Heb 10:5-7).

Và Người khao khát đón nhận Thánh Giá—Cuộc Thương Khó và Tử Nạn—như “chén cứu độ” để bày tỏ sự đầu phục thánh ý Chúa Cha một cách tuyệt đối. Ngài nói: “Có thanh tẩy Ta phải chịu, và Ta những bồn chồn chờ đến lúc hoàn tất” (Lc 12:50) và “Lạy Cha! nếu Cha muốn, xin cất chén này đi khỏi con! Song đừng cho ý của con, mà là ý của Cha được thành sự!” (Lc 22:42).

Hơn nữa, Chúa Giêsu còn muốn cho các môn đệ biết rằng con người, sứ mạng và cả cuộc đời của Người bao giờ cũng gắn liền với Thánh Giá. Tất cả những quan niệm về một Ðức Kitô tách biệt khỏi Thánh Giá đều là những quan điểm sai lầm. Tất cả những hình ảnh về một Ðức Kitô ngoài Thánh Giá đều là những hình ảnh bị bóp méo và lệch lạc. Tất cả những ý định khước từ Thánh Giá đều đi ngược lại thánh ý Chúa Cha và phải được xem như đến từ quỷ dữ. Ðiều này được thấy rõ hơn cả khi Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Người, sau khi Thánh Phêrô tuyên xưng Người là Ðức Kitô. Và Thánh Phêrô đã bị Chúa Giêsu trách mắng khi ông tỏ ý can ngăn Người đừng lên Giêrusalem (Mt 16:21-23).

Một điều đáng lưu ý là Chúa Giêsu không bao giờ nói đến thực tại Thánh Giá mà không nói đến Phục Sinh. Ðau khổ và nhục nhã của Thánh Giá chỉ có thể được đón nhận và trân quý trong ánh sáng của vinh quang Phục Sinh: “Từ bấy giờ, Ðức Giêsu bắt đầu tỏ cho môn đồ hay: Ngài phải đi Giêrusalem và chịu nhiều đau khổ do hàng niên trưởng và các thượng tế cùng ký lục, và bị giết đi, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16:21).

Người còn cho thấy Thánh Giá mà chính là phương thế Người dùng để nâng con người từ hố sâu tội lỗi lên cùng Thiên Chúa: “Và Ta, một khi Ta được giương cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lại với Ta” (Jn 12:32).

Chúa Giêsu còn đặt việc chấp nhận Thánh Giá làm điều kiện thiết yếu để trở thành môn đệ của Người. Ðồng thời, mầu nhiệm Thánh Giá—qua khổ giá để đến vinh quang, chết để sống, mất để được—còn được Chúa Giêsu vạch ra như một nguyên tắc, một định luật căn bản của Tin Mừng: “Nếu ai muốn đi sau Ta, thì hãy chối bỏ chính mình, hãy vác lấy khổ giá của mình và hãy theo Ta. Vì kẻ muốn cứu lấy sự sống mình thì sẽ mất; còn kẻ nào mất sự sống mình vì Ta, thì sẽ tìm được lại” (Mt 16:24-25).

 

Thánh Giá nơi đời sống các tông đồ

Ngay trong bài giảng đầu tiên trong Lễ Ngũ Tuần, Thánh Phêrô đã thay mặt các tông đồ để rao giảng Tin mừng Chúa Giêsu Phục Sinh. Cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Người bao giờ cũng được nhắc đến như một thực tại không thể tách rời khỏi Tin Mừng Phục Sinh:

”Các ông, người Israel, xin nghe các lời này: Giêsu Nazaret, người được Thiên Chúa ủy nhiệm đến với các ông bằng những việc quyền năng, những điềm thiêng cùng dấu lạ, tức là những việc Thiên Chúa đã dùng Ngài để thi hành giữa các ông như các ông biết,--thể theo ý định đã vạch sẵn và sự dự tri của Thiên Chúa mà bị phó nộp, thì các ông đã thủ tiêu Ngài đi, và dùng tay vô đạo đóng đinh thập giá. Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại, đã gỡ Ngài khỏi các nỗi đau khổ sự chết, bởi chưng sự chết vô phương cầm hãm được Ngài dưới quyền nó” (Acts 2:22-24).

”Vậy xin toàn thể nhà Israel hãy biết chắc là: Thiên Chúa đã đặt làm Chúa, và làm Kitô, Ðức Giêsu mà các người đã đóng đinh kia” (Acts 2:36).

Cũng vậy, Thánh Phaolô—Tông Ðồ Dân Ngoại—coi Chúa Giêsu Chịu Ðóng Ðinh là đối tượng duy nhất trí lòng ông và là chủ đề duy nhất của tất cả những lời rao giảng:

”Quả tôi đã quyết định là nơi anh em, tôi không muốn biết gì ngoài Ðức Kitô Giêsu, và là (Ðức Giêsu Kitô) bị đóng đinh thập giá” (1 Cor. 2:2).

”Vì chưng trong khi Do Thái đòi có dấu lạ, và Hy Lạp tìm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Vị Kitô đã bị đóng đinh Thập Giá, cớ vấp phạm cho Do Thái, sự điên rồ đối với dân ngoại, nhưng đối với những ai được kêu gọi dù là Do Thái hay Hy Lạp, thì lại là chính Ðức Kitô, quyền năng của Thiên Chúa, và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cor 1:23-24).

Hơn nữa, Thánh Giá Chúa Kitô đã khơi dạy nơi Thánh Tông Ðồ tình yêu nồng cháy đối với Người và chọn Người là lẽ sống cho mình cũng như lẽ sống cho tất cả những ai nhận biết Người: “Vì lòng mến của Ðức Kitô thúc bách chúng tôi, bởi đã được xác tín rằng: Một Ðấng đã chết vì mọi người, vậy thì mọi người đều đã chết! Và Ngài đã chết vì mọi người, để ai sống thì đừng sống cho chính mình nữa, nhưng là cho Ðấng đã chết và sống lại vì họ” (2 Cor 5:14-15).

Cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu được Thánh Phêrô coi như mẫu mực để mỗi tín hữu phỏng theo trong cuộc đời của họ: “Quả là một ân sủng, nếu vì lương tâm đối với Thiên Chúa, mà phải lụy vào thân, bất công chịu khổ...Quả chính vì thế mà anh em đã được kêu gọi, bởi chưng Ðức Kitô cũng đã chịu nạn chịu chết vì anh em, trối lại cho anh em một gương mẫu, ngõ hầu anh em dõi theo vết chân Ngài” (1 Pet 2:19,21).

Thánh nhân còn kêu gọi các tín hữu hãy vui mừng tùy theo mức độ họ được tham dự vào mầu nhiệm Thánh Giá của Chúa Giêsu: “Nhưng càng được chung phần thống khổ của Ðức Kitô chừng nào, anh em hãy vui mừng! Ngõ hầu khi vinh quang của Ngài mạc khải ra, anh em được vui mừng hớn hở. Nếu anh em phải chịu sỉ vả vì Danh Ðức Kitô, thì phúc cho anh em, vì Thần Khí vinh quang, Thần Khí của Thiên Chúa, sẽ đậu lại trên anh em” (1 Pet 4:13-14).

Ðó cũng là niềm xác tín của Thánh Phaolô khi ngài viết: .”..nếu ta chết làm một với Ðức Kitô, thì ta tin rằng: ta cũng sẽ cùng sống với Ngài” (Rom 6:8). Hơn nữa, Thánh Tông Ðồ còn coi Thánh Giá là phương thế giúp ngài kết hợp mật thiết với Chúa Kitô và chia sẻ sự sống của chính Người. Thánh nhân viết: .”..tôi đã cùng bị đóng đinh thập giá với Ðức Kitô. Tôi sống, nhưng không phải tôi, mà là chính Ðức Kitô sống trong tôi” (Gal 2:19-20).

Vì vậy, Vị Tông Ðồ Dân Ngoại coi việc chịu đau khổ vì Chúa Kitô hay tham dự vào mầu nhiệm Thánh Giá là một ân điển lớn lao đáng mọi tín hữu phải khao khát hơn mọi sự: “Nhưng những điều kể được là lợi lộc cho tôi đó, tôi đã coi là thua lỗ bất lợi vì Ðức Kitô. Mà chẳng những thế, tôi còn coi mọi sự là thua lỗ bất lợi cả, vì cái lợi tuyệt vời là được biết Ðức Kitô Giêsu, Chúa tôi. Vì Ngài, tôi đành thua lỗ mọi sự, và coi là phân bón cả, để lợi được Ðức Kitô, và được thuộc về Ngài, không có sự công chính của riêng tôi, sự công chính nại vào lề luật, song sự công chính nhờ lòng tin vào Ðức Kitô, sự công chính do tự Thiên Chúa ban xuống cho lòng tin; để được biết về Ngài và quyền năng sống lại của Ngài, cùng được thông phần vào các sự thống khổ của Ngài: được đồng hình đồng dạng với sự chết của Ngài, để làm sao đạt đến ơn phục sinh từ cõi chết” (Phil 3:7-11).

______________________

 

 

 

23- Tượng Chịu Nạn - Tự Truyện Ðời Tôi

 

Trong chương đầu cuốn tự truyện Treasure in Clay (“Kho Báu trong Bình Sành”) của ngài, Ðức Tổng Giám Mục Fulton J. Sheen (1895-1979), vị giám mục giảng thuyết thánh thiện lừng danh nhất tại Hoa Kỳ trong thế kỷ 20, nhận xét rằng khi viết về cuộc đời của một người có ba lối nhìn vào tự truyện của người ấy:

1. như chính đương sự nhìn

2. như những người khác thấy

3. như Chúa biết

Vào cuối đời, Ðức cha đã viết tự truyện đời ngài trong liên hệ với Chúa Giêsu

Chịu Ðóng Ðinh Thánh Giá. Ngài gọi Tượng Chịu Nạn là tự truyện đích thực của chính ngài. Ngài viết:

”Carlyle đã sai khi nói rằng không có cuộc đời của người nào được ghi nhận một cách trung thực. Có cuộc đời tôi! Mực được dùng là máu. Giấy là da. Bút là lưỡi đòng. Hơn tám mươi trang làm thành cuốn sách, mỗi trang cho một năm của đời tôi. Dù tôi cầm cuốn sách ấy lên mỗi ngày, nó không bao giờ đọc giống nhau. Tôi càng đưa mắt để khỏi nhìn cuốn sách ấy, tôi càng cảm thấy cần viết tự truyện của chính mình để mọi người thấy những gì tôi muốn họ thấy. Nhưng càng nhìn kỹ vào nó, tôi càng thấy rằng tất cả những gì giá trị trong tự truyện của tôi đều đã được đón nhận như quà tặng từ Trời Cao. Vậy sao tôi lại vênh vang vì nó?

”Cuốn Tự Truyện cũ kỹ ấy đã tựa như mặt trời. Tôi càng bước xa nó, những bóng đen trải ra trước mắt tôi càng đậm hơn và dài hơn: những nuối tiếc, hối hận và sợ hãi. Nhưng khi tôi bước lại gần nó, những bóng đen rơi lại sau lưng tôi, bớt ghê sợ hơn nhưng vẫn nhắc tôi những điều tôi còn thiếu sót. Nhưng khi tôi cầm Cuốn Sách vào tay tôi, không còn bóng đen nào cả dù ở trước mặt hay sau lưng, chỉ còn niềm vui siêu nhiên khi được tắm gội trong ánh sáng. Ðiều đó cũng giống như bước thẳng dưới bóng mặt trời, không có ảo ảnh để gọi mời, không có hình bóng để bước theo.

”Cuốn Tự Truyện đó là Tượng Chịu Nạn—câu truyện bên trong của đời tôi không ở trong cách bước đi trên sân khấu thời gian, nhưng trong cách nó đã được ghi nhận, thu băng và viết xuống thế nào trong Sách Hằng Sống. Ðó không phải là tự truyện tôi kể cho bạn, nhưng là Tự Truyện tôi đọc cho chính mình. Nơi mão gai, tôi đọc thấy sự kiêu ngạo của tôi. Nơi Ðôi Bàn Tay bị đâm thâu, tôi đọc thấy sự giành giật những đồ chơi trần thế. Nơi Ðôi Chân bị chọc thủng, tôi đọc thấy những lần tôi lìa xa sự chăm sóc của Chúa Chiên Lành. Nơi Trái Tim bị thương tích, tôi đọc thấy những tình yêu tôi đã từng phung phí. Và nơi Thân Xác tả tơi của Ngài đang bị treo như những tấm giẻ đỏ thẫm, tôi đọc thấy những ước muốn dâm đãng của mình. Hầu như mỗi lần tôi mở một trang trong Cuốn Sách ấy, trái tim tôi bật khóc vì những gì tình yêu vị kỷ đã phạm đến đức ái thần linh, những gì cái “Tôi” đã làm cho “Ngài”, những gì người bạn tự nhận đã làm cho Người Yêu.

”Nhưng cũng có những giây phút trong cuốn Tự Truyện ấy khi trái tim tôi nhảy mừng vì được mời vào Bữa Tiệc Ly; khi tôi đau đớn vì một trong những người thuộc về tôi đã lìa xa Người và làm phỏng môi Người bằng một nụ hôn phản bội; khi tôi cố gắng loạng choạng vác đỡ giá gỗ của Người lên Núi Sọ; khi tôi bước đến gần Mẹ Maria thêm ít bước để giúp kéo lưỡi đòng đã đâm thâu khỏi tim Mẹ; khi tôi hy vọng có những lần trong cuộc đời tôi là một môn đệ như “người môn đệ được Chúa yêu”; khi tôi vui mừng vì mang được những Mai-đệ-liên khác đến Thánh Giá để yêu Chúa bù cho những thiếu sót trong tình yêu của chúng ta; khi tôi gắng bắt chước viên bách quản đem chút nước lạnh thoa dịu những bờ môi đang cháy khát; khi như Phêrô tôi chạy đến ngôi mộ trống và bên bờ biển trái tim tôi như tan vỡ ngàn lần khi Người đã không ngừng hỏi tôi: “Con có yêu Thầy không?.” Ðây là những giây phút tươi sáng trong tự truyện ở đây như một loại bản thứ và kém trung thực hơn cuốn Tự Truyện đích thực đã được viết xuống từ hai ngàn năm trước.

”Những gì được viết xuống trong bản thứ này không phải là toàn bộ sự thật—những Vết Thương mới là toàn bộ sự thật. Cuộc đời tôi, như tôi thấy, được buộc ngang vào Tượng Chịu Nạn. Chỉ có hai chúng tôi—Chúa và tôi—đọc nó. Và khi năm tháng dần trôi, chúng tôi càng dành giờ nhiều hơn để cùng đọc chung với nhau. Những gì chứa đựng trong đó sẽ được trình chiếu khắp thế giới trong Ngày Phán Xét...”

Phải chăng đây chính là lối nhìn vào cuộc sống và viết tự truyện mà Chúa Giêsu muốn có nơi mỗi Kitô hữu?

 

Mãnh Lực của Thánh Giá

Tác giả sách Gương Chúa Giêsu đã trình bày mãnh lực, công hiệu, sự cần thiết và cao trọng của Thánh Giá—biểu tượng của tình yêu dành cho Chúa Kitô được thể hiện qua việc vui lòng đón nhận và thánh hóa những hy sinh, đau khổ, gian truân, trái ý trong bổn phận và cuộc sống hàng ngày—trong đời sống tâm linh lời tâm huyết hùng hồn sau:

”Phải có Thánh Giá mới vào được Nước Trời; thế sao bạn ngại vác?

”Thánh Giá là phần rỗi, Thánh Giá là sinh mệnh. Thánh Giá là thuẫn che khỏi tay thù.

”Thánh Giá là nguồn êm dịu trên trời, là sức mạnh của tâm hồn, vui mừng của lý trí.

”Nhân đức hoàn hảo và thánh thiện tột bậc cũng do ở Thánh Giá.

”Không có phần rỗi linh hồn, không có hy vọng sống đời đời mà không do ở Thánh Giá.

”Hãy vác Thánh Giá và đi theo Chúa Giêsu, bạn sẽ được sống đời đời.

”Chúa đã vác Thánh Giá và đi trước bạn, đã chết trên Thánh Giá vì bạn, để bạn cũng mang lấy Thánh Giá và ao ước chết trên Thánh Giá.

”Vì ‘có chết với Chúa, bạn sẽ sống lại với Chúa’ (Rom 6:8).

”Nếu bạn đã đồng khổ, tất cũng sẽ đồng vinh với Chúa.

”Bạn xem, mọi cái phải giải quyết trong Thánh Giá, và chỉ có chết đi mới giải quyết được mọi cái.

”Và không còn đường nào đưa đến sống và bình an thật cho tâm hồn, ngoài đường Thánh Giá và hãm mình liên lỉ.

”Dầu đi đâu, dầu tìm được mọi thỏa thích trên dưới, bạn vẫn không gặp được đường nào cao trọng và vững chắc hơn đường Thánh Giá...

”Không ai cảm thông được khổ nạn Chúa Kitô thấm thía bằng người đã chịu đôi chút khổ giống như Chúa...

”Bạn phải thành tâm chịu đôi chút vì Chúa Kitô trong khi bao người khác đã chịu những nặng nhọc vì trần tục.

”Bạn hãy tin chắc đời sống của bạn là một cái chết liên lỉ. Mà càng chết cho mình càng bắt đầu sống cho Chúa.

”Bạn không đáng hiểu những mầu nhiệm trên trời, nếu bạn không sẵn sàng chịu đựng những chướng ngại vì Chúa Kitô.

”Trên đời không có gì đẹp lòng Chúa, không có gì cứu rỗi được bạn bằng vui chịu vì Chúa Kitô.”

Rồi tác giả nhủ khuyên và kết luận:

”Và nếu được chọn, bạn hãy chọn chịu khổ vì Chúa Kitô hơn là được ơn Ngài an ủi, vì có thế bạn mới nên giống Chúa Kitô và hệt với các thánh hơn...

”Giả sử có phương pháp nào tốt hảo và thuận lợi cho phần rỗi người ta hơn phương pháp đau khổ, hẳn Chúa Kitô đã nói và làm gương dạy ta.

”Vì Chúa đã công khai khuyên giục các môn đệ đang theo Chúa và tất cả những ai muốn theo Chúa phải vác Thánh Giá. Ngài nói: ‘Ai muốn theo Ta người ấy phải bỏ mình, vác Thánh Giá mình mà theo’ (Mt 16:24).

”Vậy đã đọc và xét trước sau, ta có thể kết luận: ‘Ta phải chịu nhiều đau khổ mới vào được nước Ðức Chúa Trời’ (Acts 14:21).” (Q. II, Ch. XII).

______________________________

 

 

 

24- Lò Nuôi Lửa Mến

và Nhiệt Huyết Thừa Sai

 

Trong cuốn Dẫn Ðường Mến Chúa, Thánh Anphong Liguori viết: “Người yêu mến Chúa Giêsu chí thiết hơn, muốn cho lòng mến ra quảng đại anh hùng, không gì hữu ích bằng suy gẫm Cuộc Thương Khó. Thánh Phanxicô gọi Núi Canvê là núi của những người mến Chúa. Bao nhiêu người yêu mến Chúa thật lòng thường lẩn quẩn trên núi ấy, thường hô hấp cái thanh khí êm ngọt của lòng mến Chúa trên núi ấy. Ðấng trên núi ấy mà ngắm xem Ðấng vì thương đã chịu chết cho ta, tài nào không động lòng mến Người chí thiết. Các thương tích Chúa chịu hình như hằng bắn tên lửa vào lòng kẻ cứng cỏi liên miên. Phúc cho kẻ cả đời đứng trên Núi Canvê.”

Thánh nhân nhấn mạnh rằng khi suy ngắm Cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu, chúng ta không nên quá chú tâm đến việc Chúa đã chịu đau đớn chừng nào, nhưng phải cảm nhận Chúa yêu ta biết bao nơi những nỗi đớn đau ấy. Chính tình yêu là điều Chúa muốn chúng ta nhận biết, trân quý và tận tình đáp trả nơi tất cả những gì Người đã làm cho ta hay đã phải chịu đựng vì ta. Ngài cho rằng, chỉ cần đổ một giọt Máu Thánh Chúa đã có thể cứu ta. Nhưng điều đủ cho lẽ công bình thì không đủ đối với tình yêu! Chính tình yêu vô hạn của Chúa khiến Người đổ ra đến giọt máu cuối cùng trên Thánh Giá.

Một trong những người đã cảm nhận sâu xa tình yêu Thiên Chúa nơi mầu nhiệm Thánh Giá là Thánh Phanxicô Xaviê, Bổn Mạng Thời Danh của các nhà truyền giáo. Tâm tình của ngài dành cho Chúa Giêsu Chịu Ðóng Ðinh được thể hiện một cách thật cảm động nơi những lời nguyện sau:

”Ôi! Chúa ơi! Con yêu Chúa nồng nàn thấm thía. Con yêu Chúa không phải con sợ đêm tối ghê gớm của hình phạt, hay ngọn lửa khủng khiếp mà Chúa sẽ ném con xuống nếu con rời bỏ Chúa. Con yêu Chúa không phải vì Chúa hứa cho con ánh sáng trên trời của Chúa, khúc nhạc ca của các thiên thần, hay sự vui thích thỏa thuê dưới cánh tay Chúa.

”Lạy Chúa, con yêu Chúa vì Chúa đã giang tay trên cây thập giá, vì Chúa đã ấp trái tim trần gian của con vào Thánh Tâm Chúa. Vì than ôi! Khi bị đóng đanh đau đớn, Chúa đã nghiêng đầu xuống con, và khuôn mặt thánh máu me như một bàn thờ êm ái, nóng hổi, đã vì tội lỗi con mà trang điểm khủng khiếp nhường kia!

”Lạy Chúa, con yêu Chúa vì Chúa không ngừng bước trên đường sầu não, vì Chúa không kêu ca, chịu lấy suốt một đêm trường những lời sỉ nhục và báng bổ của bọn áp giải đáng ghét, vì bọn đao phủ tàn ác, bọn gây thù oán căm hờn đã theo Chúa, ôi gớm ghiếc! tới lời nói cuối cùng của Chúa...

”Ôi! Chúa đã thương yêu con quá bội.

”Ôi! lạy Chúa, xin Chúa làm cho con nên hạt giống của Chúa! Xin Chúa, vâng, xin Chúa làm cho con trở nên mùa màng của Chúa, trong khi Chúa cày cuốc đất hồn con với những nỗi đau thương của Chúa!

”Lạy Chúa, con yêu Chúa! Con yêu Chúa không phải vì Chúa đã cứu con, nhưng vì Chúa đã yêu con tới máu, tới chết.

”Vậy Chúa đã yêu con nhường kia, giờ đây, con cũng yêu Chúa như thế.

”Con xin dâng Chúa đời con và hồn con.

”Con yêu Chúa, con yêu Chúa lắm.

”Chúa là Vua của con, là Chúa của con, là tất cả, là thiên đàng vĩnh cửu của con.”

 

Chính vì chăm chú suy ngắm mầu nhiệm Thánh Giá mà Ðức Cha Fulton J. Sheen đã tìm được động cơ và nhiệt tâm rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô bằng mọi phương tiện truyền thông của thế kỷ 20: trường sở, tòa giảng, sách vở, báo chí, truyền thanh, truyền hình, băng cassette. Ngài thường kể lại mẩu truyện sau:

”Mỗi khi có sự thinh lặng quanh mình, bất kể ngày hay đêm, tôi bị giật mình bởi một tiếng kêu khóc. Tiếng ấy phát ra từ thập giá. Lần đầu tôi nghe thấy, tôi đã ra ngoài tìm kiếm và đã gặp một người đang quằn quại đớn đau trên khổ giá. Tôi nói: ‘Con sẽ đưa Ngài xuống’. Ngài nói: ‘Ta không thể xuống được cho tới khi mọi người nam phụ lão ấu cùng nhau đến để mang Ta xuống.’ ‘Con phải làm sao?’ Tôi nói: ‘Con không chịu nổi tiếng khóc của Ngài.’ Và Người nói: ‘Hãy ra đi vào thế giới và nói với mọi người con gặp là có một người ở trên thập giá.”

Tình yêu Thánh Giá đã được biến thành nhiệt huyết thừa sai.

Chọn Lựa

Trong một buổi thuyết giảng dành cho giới trẻ, Ðức Cha Fulton J. Sheen kết thúc bằng những lời sau:

”Ðường đời của các bạn có muôn vạn nẻo. Nhưng ở cuối đường đời của chúng ta, mỗi người chắc chắn sẽ gặp một trong hai khuôn mặt: khuôn mặt dịu hiền khả ái của Chúa Giêsu hoặc khuôn mặt gớm ghiếc ghê sợ của Satan. Và cả hai đều nói: Bạn thuộc về ta!”

Thánh Giá chính là Con Ðường Duy Nhất dẫn ta đến gặp gỡ Chúa Kitô và bước vào Thánh Tâm là Nguồn Tình Yêu Vô Tận của Người.

 

_____________________________

 

 

 

 

 

 

 

25- THƯƠNG XÓT

 ÐẶC ÐIỂM CỦA THÁNH TÂM

Lm. Phạm Quốc Hưng, C.Ss.R.

 

Lòng Thương Xót của Thiên Chúa là ý định tốt lành của Chúa nhằm cất đi những nỗi thống khổ, nhất là tội lỗi là căn nguyên mọi sự dữ, nơi các tạo vật của Người.

Trong Thánh Kinh, Lòng Thương Xót là một thuộc tính của Thiên Chúa được nói đến nhiều hơn mọi thuộc tính khác của Người. Và sự kiện “Thiên Chúa thương xót vô cùng” là một điều Mẹ Hội Thánh buộc các tín hữu phải tin (de fide).

Toàn pho Thánh Kinh trình bày lịch sử ơn cứu độ như một quá trình liên tục của việc Thiên Chúa thi thố Lòng Thương Xót của Người dành cho mọi tạo vật, cách riêng là nhân loại và Dân Thiên Chúa.

 

Lòng Thương Xót Chúa trong Cựu Ước

 

Tác giả sách Khôn Ngoan trình bày Lòng Thương Xót Chúa như dấu chỉ của quyền năng vô biên và sự nhẫn nại khoan dung vô bờ của Người:

”Quả thế, sẵn mọi thời quyền Người ra uy sức mạnh,

và nào ai cự lại được cánh tay Người?

Vì toàn thể vũ trụ trước mặt Người chỉ như ti hào đĩa cân,

như hạt sương sớm rơi trên mặt đất.

Nhưng Người thương xót mọi người,

vì Người toàn năng phép tắc,

Người làm lơ đi trước mặt người phàm, chờ chúng hối cải.

Quả thế, những gì có trong vạn vật, Người đều yêu mến,

Người không nhờm tởm sự gì Người đã làm ra,

vì Người nắn nên gì, Người không ghét bỏ.

Vả lại, có gì tồn tại được, nếu Người không muốn?

Làm sao nó được bảo tồn,

điều Người đã không gọi (đến tên)?

Với mọi vật, Người xử khoan dung, vì chúng là của Người,

lạy Chúa Tể hiếu sinh” (Sir 12:21-26).

Khi Thiên Chúa hiện ra với Môsê trước khi ký kết giao ước với Dân Do Thái, Người đã tỏ mình là Thiên Chúa vừa vô cùng nhân từ và cũng vừa hết sức công minh như sau :

”Giavê! Giavê! Thiên Chúa chạnh thương, huệ ái, bao dung và đầy nhân nghĩa, tín thành. Giữ nghĩa cho đến ngàn đời, chịu đựng lỗi lầm, quá phạm, tội khiên, nhưng không coi tội như thể vô can. Ðấng trị tội cha trên con cháu ba bốn đời” (Ex 34:6-7).

Thánh Vương Ðavít đã cảm nghiệm sâu xa Lòng Thương Xót Chúa dành cho ngài nên đã ca tụng Lòng Thương Xót của Chúa, vừa cao vời khôn ví như trời cao đất thấp, vừa thân mật gần kề như tình cha nghĩa mẹ:

”Giavê trắc ẩn và từ bi,

khoan dung và giàu ân nghĩa.

Người không hạch tội luôn,

Người không cưu hờn mãi mãi,

Người không xử với ta xứng tội của ta,

Người không trả cho ta xứng lỗi ta làm.

Vì như trời cao hơn đất thế nào,

thì ơn Người cũng cao vời trên những ai kính sợ Người.

Ðông Ðoài cách nhau bao nhiêu,

thì Người cũng cất lỗi phạm của ta xa chừng ấy.

Như cha xót thương con mình thế nào,

thì Giavê cũng xót thương những ai kính sợ Người như vậy.

Người biết hình hài ta sao.

Người nhớ lắm: Ta là bụi đất” (Ps 103:8-14)

Trong Thánh Vịnh “Kinh Cầu Tạ Ơn” 136, Lòng Thương Xót Chúa hay “ơn Người” được Thánh Vịnh Gia không ngừng lập đi lập lại như là căn nguyên của mọi việc Giavê Thiên Chúa đã thực hiện nơi công trình tác tạo vũ trụ và cứu độ nhân loại. Lòng Thương Xót Chúa, vì vậy, chính là lý do khiến tác giả và toàn dân phải hết lòng hân hoan chúc tụng, ngợi khen, cảm tạ và tôn thờ Giavê Thiên Chúa với điệp khúc: “Vì ơn Người miên man vạn đại” hay “vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.

___________________

 

 

 

 

                 

                                                             

 

26- Chúa Giêsu

Hiện Thân của Lòng Thương Xót Chúa

Lòng Thương Xót Chúa đã được biểu dương cách tuyệt hảo và tận cùng nơi chính con người, lời giảng và cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô mà cao điểm là cuộc Thương Khó và Tử Nạn Thập Giá của Người.

Chúa Giêsu Kitô chính là sự Nhập Thể và Hiện Thân của Lòng Thương Xót Chúa.

Từ ngữ “chạnh lòng thương” diễn tả cảm xúc sâu thẳm nhất của một tâm hồn trước những thống khổ của tha nhân, ngoài một số lần được dùng trong các dụ ngôn, được các tác giả Phúc Âm dành riêng để biểu lộ tâm hồn đầy nhân ái của Chúa Giêsu trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Người. Ðiều này như muốn cho thấy Thương Xót chính là đặc điểm của Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Thật vậy, các tác giả sách Phúc Âm đã trình bày việc rao giảng Tin Mừng của

Chúa Giêsu như bắt nguồn từ Trái Tim Mục Tử đầy thương xót của Ngừời trước sự khao khát chân lý của dân chúng, sự trông chờ một Ðấng Cứu Thế của họ:

”Thấy dân chúng, Ngài chạnh lòng thương họ, vì họ bơ phờ vất vưởng, như chiên không người chăn giữ” (Mt 9:36).

”Vừa ra, Ngài đã thấy dân chúng đông đảo, và Ngài chạnh lòng thương xót họ, vì họ như cừu chiên không có người chăn giữ, và Ngài lên tiếng giảng dạy cho họ nhiều điều” (Mc 6:34).

Cũng vậy, vì cảm thương sự đói khát cơm bánh của đám đông theo Người, Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho họ ăn. Và đây cũng là cơ hội báo trước Người sẽ ban cho họ chính Thịt Máu Người làm Bánh Bởi Trời nuôi họ: “Ta xót thương vì dân chúng, bởi đã ba ngày rồi họ lưu lại với Ta, và lại không có gì ăn! Ðể họ nhịn đói mà lui về thì Ta không muốn, kẻo họ xỉu mất dọc đường” (Mt 16: 32).

Những đau yếu bệnh tật của con nguời cũng làm rung động tấm lòng cảm thương của Chúa Giêsu và đã khiến Người ra tay cứu chữa họ:

”Vừa ra, Ngài đã thấy dân chúng đông đảo và Ngài động lòng thương xót họ và chữa lành các kẻ yếu liệt trong họ” (Mt 14:14)

Nhưng có lẽ điều làm rung động Trái Tim Thương Xót Chúa Giêsu một cách mãnh liệt hơn cả khi Người phải chứng kiến sự chết nơi con người, hệ quả cuối cùng của tội lỗi. Lòng Thương Xót Chúa một lần nữa khiến Người làm cho con trai bà góa thành Naim và Lazarô sống lại. Sự kiện này báo trước sự sống lại từ cõi chết của chính Người và biểu lộ quyền năng của Người trên thần chết.

”Thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói với bà; ‘Ðừng khóc nữa.’ Tiến lại, Ngài đụng đến quan tài, và các kẻ khiêng đứng lại. Rồi Ngài nói: ‘Thanh niên! Ta bảo ngươi: hãy chỗi dậy’” (Lc 7:13-14).

”Khi Ðức Giêsu thấy bà ấy khóc than, và những người Do Thái đến với bà cũng khóc than, thì Ngài lấy làm bực dọc tâm thần và xao xuyến cả mình.Ðức Giêsu đã khóc” (Jn 11: 33, 35).

Lòng Thương Xót Vô Biên còn được Chúa Giêsu trình bày như nét đặc thù của Thiên Chúa mà mọi người phải ghi nhớ qua dụ ngôn tình phụ tử, con chiên lạc và đồng bạc bị đánh mất (Lc 15). Ðó cũng là điều mà Chúa Giêsu kêu gọi mọi người phải nỗ lực noi theo—Với Chúa Giêsu, trở nên trọn lành nghĩa là trở nên một người có trái tim biết xót thương như Trái Tim Xót Thương của chính Thiên Chúa:

”Vậy các ngươi hãy nên trọn lành, như Cha các ngươi trên trời là Ðấng trọn lành” (Mt 5:48)

”Các ngươi hãy biết xót thương, như Cha các ngươi là Ðấng thương xót” (Lc 6:36).

Chúa Giêsu còn hứa phúc thật cho những người biết xót thương: “Phúc cho những kẻ biết thương xót, vì họ sẽ được thương xót” (Mt 5:7). Cũng vậy, Người còn cảnh cáo hình phạt cho những ai không biết tỏ lòng thương xót với tha nhân qua dụ ngôn về người bầy tôi ác nghiệt (Mt 18:23-35).

Rất nhiều lần trong Phúc Âm Chúa Giêsu đã nói rõ rằng sứ mạng của Người chính là biểu dương Lòng Thương Xót của Thiên Chúa qua việc kêu gọi những người tội lỗi hối cải, tha thứ cho những người thống hối và chữa lành cho những kẻ đau bệnh. Vì vậy, Người được bao quanh bởi những người tội lỗi và thu thuế, những kẻ nghèo hèn, bị bỏ rơi và khinh chê trong xã hội:

”Vì Con Người đến để tìm cứu sự đã hư đi” (Lc 19:10). “Có cần đến lương y, hẳn không phải là người lành mạnh, mà là người đau ốm. Ta không đến kêu gọi những người công chính, mà là những kẻ tội lỗi hối cải” (Lc 5:31-32). “Các người thu thuế và tội lỗi hết thảy thường hay lui tới bên Ngài để nghe Ngài. Và biệt phái kêu trách. Họ nói: ‘Ông ấy tiếp đón quân tội lỗi và cùng ăn với chúng’” (Lc 15:1-2).

__________________

 

 

27- Thánh Tâm:

 Trường dạy Lòng Thương Xót

 

Chúa Giêsu đã mời gọi mọi người đến với Trái Tim Thương Xót của Người để được bổ sức, để sống theo luật yêu thương của Người, để học với Người tâm tình hiền lành và khiêm nhường, để được hạnh phúc bình an cho tâm hồn:

”Hãy đến với Ta, hết thảy những kẻ lao đao và vác nặng, và Ta sẽ cho nghỉ ngơi lại sức. Hãy mang lấy ách của Ta vào mình, hãy thụ giáo với Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng, và các ngươi sẽ tìm thấy sự nghỉ ngơi cho tâm hồn. Vì chưng ách của Ta thì êm ái, và gánh Ta lại nhẹ nhàng” (Mt 11:28-30).

Chúa mời gọi mọi người vào Trường Thánh Tâm để học với Thày Giêsu một môn học duy nhất là Tình Yêu Tuyệt Ðối của Thiên Chúa, để biết Chúa, yêu Chúa và thuộc trọn về Chúa và yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương ta. Ứng sinh là tất cả nhân loại, những người “lao đao và vác nặng” vì tội lỗi của chính mình.

Những tín hữu đích thực của Chúa Kitô phải là những người nhận biết rằng họ tuyệt đối cần đến Lòng Thương Xót Chúa. Họ không ngừng tuyên xưng:

- Chúng tôi yếu đuối nên cần Thánh Tâm là Sức Mạnh nâng đỡ.

- Chúng tôi bệnh tật và thương tích nên cần Thánh Tâm là Thầy Thuốc và Linh Dược chữa lành,

- Chúng tôi luôn bị ma quỷ tìm cách hãm hại nên cần Thánh Tâm Ðầy Thần Khí trừ quỷ.

- Chúng tôi u mê nên cần Thánh Tâm Nguồn Ánh Sáng và là chính Ðức Khôn Ngoan Nhập Thể chiếu soi dạy dỗ.

- Chúng tôi đói khát nên cần Thánh Tâm là Bánh Hằng Sống và Mạch Nước Trường Sinh cho được no thỏa.

- Chúng tôi cô quạnh trên đường đời nên cần Thánh Tâm là Nguồn Vui an ủi.

- Chúng tôi nhơ nhớp nên cần Thánh Tâm là Mạch Nước Tinh Tuyền thanh tẩy.

- Chúng tôi đầy tội lỗi nên cần Thánh Tâm là Suối Nguồn Thương Xót tha thứ.

- Chúng tôi phải chết vì tội nên cần Thánh Tâm là Sự Sống và là Sự Sống Lại cho phục sinh.

Tất cả chúng ta đều khao khát sự sống sung mãn và vĩnh hằng, sự thật toàn diện, tình yêu tuyệt đối. Và chỉ có Thánh Tâm Chúa Giêsu mới có thể thỏa mãn nỗi khao khát miên trường ấy nơi ta.

Chân Phước Piô Năm Dấu Thánh, một người bạn chí thiết của Thánh Tâm Chúa Giêsu, đã coi nỗi khao khát được Chúa Giêsu ở lại trong tâm hồn và cuộc đời của ngài hay khát vọng được nên một với Thánh Tâm và ở lại trong Thánh Tâm như nguyện vọng duy nhất của ngài. Ngài đã cầu nguyện với Chúa:

”Lạy Chúa, xin ở lại với con. Con chỉ cầu mong một điều, đó là tìm thấy Chúa, thấy Thánh Tâm Chúa, thấy ơn nghĩa Chúa, thấy Thần Khí Chúa. Con kính mến Chúa và không xin một phần thưởng nào khác ngoài ơn được kính mến Chúa nhiều hơn, kính mến Chúa một cách vững bền và thật lòng, kính mến Chúa hết lòng ở đời này để tiếp tục kính mến Chúa một cách trọn vẹn cho đến muôn đời. Amen.”

Càng tội lỗi, yếu đuối và nhơ nhớp, chúng ta càng cần đến với Thánh Tâm Chúa Giêsu để được thứ tha, nâng đỡ và thanh tẩy. Hơn nữa, những tội nhân khốn khổ nhất chính là những người mà Thánh Tâm Chúa Giêsu quan tâm và khao khát ban tặng họ Lòng Thương Xót của Người hơn cả.

Ðây là một sự thực đầy vui mừng và hy vọng cho tất cả chúng ta, những con người yếu hèn tội lỗi. Ðây cũng là sứ điệp Thánh Tâm Chúa Giêsu muốn cho mọi người đón nhận qua Nữ Tu Dòng Thánh Tâm người Pháp Josefa Menendez (1889-1923) như sau:

”Ta là Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa của tình yêu! Cha là Cha, nhưng là Cha đầy lòng từ bi và không bao giờ giận dữ. Trái Tim Ta vô cùng thánh thiện, nhưng cũng rất mực khôn ngoan. Ta biết loài người yếu đuối và bệnh hoạn, nên Ta hết lòng thương xót các tội nhân khốn khổ.

”Ta thương yêu những ai sau khi sa ngã lần đầu biết đứng dậy, đến xin Ta tha lỗi.. Ta còn thương yêu họ nhiều hơn nữa khi họ đến xin lỗi Ta vì lần thứ hai sa ngã. Và giả như điều ấy lại tái diễn, Ta sẽ không chỉ một triệu lần nhưng triệu triệu lần nhắc lại rằng Ta vẫn yêu thương và tha cho họ, Ta sẽ lấy Máu mình rửa sạch tội cuối cùng của họ y như đã rửa sạch tội đầu tiên của họ.

”Ta sẽ chẳng bao giờ mệt mỏi chán ngán về các tội nhân ăn năn hoán cải, cũng chẳng hết hy vọng họ quay về. Họ càng khốn nạn bao nhiêu thì Ta càng sẵn lòng đón tiếp họ bấy nhiêu.”

Lời nguyện “Trái Tim Chúa Giêsu hay nhịn hay thương vô cùng” trong Kinh Cầu Trái Tim phải chăng là một lời nguyện đem lại nhiều an ủi hơn cả cho những tâm hồn yếu đuối tội lỗi?

Vì vậy, sự chối bỏ thực tại tội lỗi của mình bằng thái độ cố chấp trong tội hay sự bất tín nhiệm nơi Lòng Thương Xót Chúa với thái độ thất vọng bởi tội lỗi của mình chính làdại dột khước từ Lòng Thương Xót Chúa.

Sự nghi ngờ hay bất tín nhiệm nơi Lòng Thương Xót Chúa làm đau lòng Thánh Tâm Chúa Giêsu hơn chính tội chúng ta đã phạm nữa.

Lòng Thương Xót Chúa luôn luôn là một quà tặng nhưng không của Tình yêu Vô Biên của Người. Vì thế, chúng ta không thể cậy tài, cậy đức, cậy công khi đến với Thánh Tâm Chúa Giêsu! Cũng vậy, tháí độ vô ơn, kiêu ngạo, tự mãn hay khoe khoang việc thiện luôn là những thái độ xúc phạm đến Thánh Tâm Chúa hơn cả.

________________________

 

 

28- Ðệ tam thiên niên kỷ:

 Thời đại của Lòng Thương Xót Chúa

 

Lòng Thương Xót Chúa luôn là trung tâm của sứ điệp Tin Mừng của Hội Thánh trong suốt dòng lịch sử của Giáo Hội. Nhưng hơn bao giờ, hiện nay khi nhân loại ngày càng lún sâu vào vũng lầy tội ác, Hội Thánh nhận thấy phải nỗ lực gấp bội trong việc rao giảng Lòng Thương Xót Chúa. Vị Tông Ðồ được Thánh Tâm Chúa Giêsu ưu tuyển để cổ võ Lòng Thương Xót Chúa cho nhân loại chính là Nữ Tu Faustina Kowalska Dòng Ðức Mẹ Thương Xót người Balan (1905-1938).

Ngày Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh 30/04/2000, tại Công Trường Thánh Phêrô, Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã tôn phong hiển thánh cho Chị và thiết lập Lễ Kính Lòng Thương Xót vào Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh hàng năm, như chính Thánh Tâm Chúa Giêsu đã yêu cầu Thánh Faustina. Ðây có thể gọi là khởi điểm của một thời đại mới trong Giáo Hội: Thời đại của Lòng Thương Xót Chúa.

Việc sùng kính Lòng Thương Xót được truyền bá qua Thánh Faustina được gắn liền với việc phổ biến Tuần Cửu Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa từ Thứ Sáu Tuần Thánh cho đến hết Thứ Bảy trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh, để nài xin Chúa ban ơn cho các giới người khác nhau trên thế giới, và Chuỗi Thương Xót.

Theo lời Chúa Giêsu ngỏ với Chị Faustina, Chúa sẽ ban rất nhiều ơn, nhất là ơn hối cải, cho những ai siêng năng sốt sắng đọc Chuỗi Thương Xót. Chuỗi này có thể đọc bất cứ lúc nào và ở mọi nơi. Nhưng Chuỗi Thương Xót được đọc tốt nhất là trước Nhà Tạm có Thánh Thể Chúa và vào lúc 3 giờ chiều, giờ của Lòng Thương Xót Chúa, khi Chúa chịu chết trên Thánh Giá và Trái Tim Chúa bị đâm thâu để tuôn trào máu và nước làm thành suối nguồn ơn cứu độ.

Chuỗi Thương Xót được thực hiện như sau với chuỗi hạt thường được dùng cho Chuỗi Mân Côi.

- Dấu Thánh Giá

- Kinh Lạy Cha

- Kinh Kính Mừng

- Kinh Tin Kính

- Ở mỗi hạt lớn đọc: “Lạy Cha Hằng Hữu, con xin dâng lên Cha Mình Thánh, Máu Thánh, Linh Hồn và Thiên Tính của Chúa Giêsu Kitô, Con Yêu Dấu Cha, Chúa chúng con, để đền bù tội lỗi chúng con và tội lỗi toàn thế giới”.

- Ở mỗi hạt nhỏ (10) đọc: “Vì Cuộc Thương Khó đau buồn của Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con và toàn thế giới”.

- Sau đủ 50 hạt, kết thúc Chuỗi Thương Xót bằng việc đọc 3 lần lời nguyện: “Lạy Thiên Chúa Chí Thánh, Toàn Năng, Hằng Hữu, xin thương xót chúng con và toàn thế giới”.

Cũng theo Chị Faustina, để lãnh nhận dồi dào Lòng Thương Xót Chúa, chúng ta cần thực hiện 3 điều:

1- Khẩn nài Lòng Thương Xót Chúa: qua việc thiết tha cầu nguyện (cách riêng lần Chuỗi Thương Xót) và sống khiêm nhường sám hối, đền tạ.

2- Thực hành Lòng Thương Xót Chúa: bằng cách thực thi bác ái, cụ thể là thực hiện Mười Bốn Mối Thương Người và rao giảng Lòng Thương Xót Chúa.

3- Tín thác vào Lòng Thương Xót Chúa: qua việc gạt bỏ mọi nghi nan bối rối về quá khứ lỗi lầm sau khi đã ăn năn thú tội, nỗ lực vươn lên sống thánh và không nản lòng dù có thể còn sa đi ngã lại trong nhiều lỗi lầm.

Tin ở Lòng Thương Xót Chúa

 

Vì Thương Xót là đặc điểm nổi bật của Thánh Tâm Chúa Giêsu, nên đời sống đức tin Công Giáo và lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu đích thực bao giờ cũng đồng nghĩa với việc tin ở Tình Yêu Chúa, tin ở Lòng Thương Xót Chúa.

Trái Tim Chúa Giêsu đã bị đâm thâu trên Thánh Giá để trút đổ tất cả kho tàng của Lòng Thương Xót Chúa và Nguồn Ơn Cứu Ðộ xuống trên loài người chúng ta. Ðó là bằng chứng hùng hồn nhất buộc ta phải tin nơi Tình Yêu Thiên Chúa dành cho ta.

Hãy tín nhiệm tuyệt đối nơi Lòng Thương Xót Chúa!

Hãy đặt nền tảng cuộc đời trên Lòng Thương Xót Chúa!

Hãy trở nên sứ giả và khí cụ của Lòng Thương Xót Chúa cho tha nhân!

__________________________

 

 

 

29- THÁNH THỂ

 

QUÀ TẶNG TUYỆT VỜI CỦA THÁNH TÂM

 

 

Lm. Phạm Quốc Hưng, C.Ss.R.

Chúa Giêsu và Bí Tích Thánh Thể                     

 

Trong Bữa Tiệc Ly tối Thứ Năm Tuần Thánh, Chúa Giêsu đã lập Bí Tích Thánh Thể và Chức Linh Mục như một cách để biểu lộ tình yêu tột cùng Người dành cho các môn đệ: “Trước lễ Vượt Qua, Ðức Giêsu biết rằng đã đến giờ Ngài qua khỏi thế gian này để đến cùng Cha—đã mến yêu các kẻ thuộc về Ngài còn trong thế gian—thì Ngài đã yêu mến họ đến cùng” (Jn 13:1).

 

Bí Tích Thánh Thể chính là trót cả con người của Chúa Giêsu với trọn vẹn bản tính nhân loại gồm Máu Thịt và Linh Hồn của Người và trọn vẹn bản tính Thiên Chúa siêu việt của Người. Ðó là Quà Tặng Tự Thân, Quà Tặng Tuyệt Vời nhất mà Chúa Giêsu có thể trao ban cho nhân loại. Món quà này còn Chứng Từ Cụ Thể, là Kỷ Niệm Sống Ðộng của Giao Ước Yêu Thương Chúa Giêsu muốn để lại cho chúng ta:

 

”Vì chưng, chính tôi đã chịu lấy nơi Chúa điều tôi truyền lại cho anh em. Là: Chúa Giêsu trong đêm Ngài bị nộp, Ngài đã cầm lấy Bánh, và tạ ơn xong, Ngài đã bẻ ra và nói: Này là Mình Ta, vì các ngươi, hãy làm sự này mà nhớ đến Ta. Cũng vậy về Chén, sau khi đã dùng bữa tối xong, Ngài nói: Chén này là Giao ước mới trong Máu Ta, các ngươi hãy làm sự này mỗi khi uống, mà nhớ đến Ta” (1 Cor 11:23-25).

 

Hơn nữa, Chúa Giêsu còn coi việc hiệp thông với Người nơi Thánh Thể như một điều kiện cần thiết để được sự sống đời đời và được hiệp nhất với Người:

 

”Bánh hằng sống bởi Trời xuống, chính là Ta!

Ai ăn bánh này, thì sẽ được sống đời đời.

Và bánh Ta sẽ ban, ấy là thịt mình Ta vì sự sống thế gian”.

(Jn 6:51).

 

”Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi:

nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài,

các ngươi không có sự sống nơi mình các ngươi.

Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời,

và Ta sẽ cho nó sống lại trong ngày sau hết.

Vì thịt Ta thật là của ăn,

và máu Ta thật là của uống.

Kẻ ăn thịt Ta và uống máu Ta

thì lưu lại trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy.

Cũng như Cha, Ðấng hằng sống, đã sai Ta, và Ta sống nhờ Cha,

thì kẻ ăn Ta cũng vậy, nó sẽ sống nhờ Ta”.

(Jn 6:53-57).

 

Sự cao trọng tuyệt vời của Bí Tích Thánh Thể đã được Cha Thánh Anphong Liguori diễn tả cách mạch lạc và hùng hồn trong sách Dẫn Ðàng Mến Chúa như sau:

 

”Công Ðồng Triđentinô dạy: trong phép Thánh Thể Chúa yêu ta tận tình, không có cách nào yêu dấu ta hơn được nữa. Thánh Tôma gọi phép Thánh Thể là phép yêu mến, là tang chứng tình yêu. Là phép bí tích tình yêu vì tình yêu thúc giục Chúa lập phép ấy. Là tang chứng sự yêu vì Chúa muốn cho ta tin chắc rằng: Chúa yêu ta thật tình vì đã có tang tích tỏ tường. Hình như Chúa phán rằng: Ớ chúng con, khi nào chúng con còn hồ nghi không biết Cha có thương chúng con thật chăng, thì chúng con hãy suy, Cha đã phó trót mình Cha cho chúng con trong phép Thánh Thể. Ðã có sẵn của cầm quý hóa dường ấy trong tay chúng con lẽ gì mà còn hồ nghi không biết Cha có mến chúng con hay không?

 

”Cha Thánh Bênađô gọi phép Thánh Thể là nơi chứa mọi sự yêu mến, mọi ơn lành Chúa làm cho ta xưa nay: vì phép Thánh Thể mà Chúa dựng nên ta, vì phép Thánh Thể mà Chúa cứu chuộc ta, vì phép Thánh Thể mà Chúa cứu chuộc ta, vì phép Thánh Thể mà Chúa sắm Nước Thiên Ðàng cho ta. Phép Thánh Thể không phải chỉ là một dấu yêu thương mà thôi, nhưng còn là của cầm Chúa đoan ước trước cùng ta rằng sẽ có ngày Chúa đưa ta về Thiên Ðàng, còn bây giờ hãy chịu lấy phép Thánh Thể đã.”

____________________

 

 

 

30- Thánh Thể:

mức độ thân mật tận cùng của Thánh Tâm

 

 

Ðức Cha Fulton J Sheen kể ra ba mức độ của sự thân mật trong liên hệ yêu thương dựa trên ba giác quan: nghe, thấy và đụng đến. Ba mức độ ấy cũng tương ứng với ba phương tiện truyền thông: truyền thanh, truyền hình và tiếp xúc cá nhân.

 

Chúa cũng đến với loài người chúng ta qua ba giai đoạn ấy:

 

1. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa nói với ta qua các tổ phụ và các ngôn sứ.

2. Chỉ với những người môn đệ thiết nghĩa, Chúa Giêsu mới cho được hiệp thông trọn vẹn với Người nơi Thánh Thể.

3. Có lẽ đó cũng là lý do khiến Thánh Gioan Tông Ðồ, Vị Tông Ðồ của Thánh Tâm Chúa Giêsu, xác quyết ngay trong đầu lá thư thứ nhất của người:

 

”Ðiều từ thuở ban đầu đã có,

Ðiều chúng tôi đã từng nghe,

Ðiều chúng tôi đã từng thấy tận mắt,

Ðiều chúng tôi đã cung chiêm, và tay chúng tôi đã rờ đến, về Lời sự sống,

--và sự sống đã tỏ hiện, chúng tôi đã từng thấy và chúng tôi làm chứng cùng loan báo cho anh em sự sống đời đời--

Ðiều chúng tôi đã từng thấy và đã từng nghe, thì chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, ngõ hầu anh em được thông hiệp với chúng tôi!

Nhưng sự hiệp thông của ta là thông hiệp với Cha và với Con của Người, Ðức Giêsu Kitô.

Các điều này chúng tôi viết ra, ngõ hầu sự vui mừng của chúng tôi được nên trọn”

(1 Jn 1:1-4).

 

Tâm tình của các thánh đối với Bí Tích Thánh Thể

 

Tất cả các thánh đều đặt Chúa Giêsu Thánh Thể làm trung tâm, nguồn sống thần linh, nguồn tình yêu, nguồn hạnh phúc của các ngài trong cuộc sống trần gian.

 

Thánh Gioan Kim Khẩu viết: “Khi Chúa ban mình Ngài cho con trong phép Thánh Thể, Ngài cũng ban cho con mọi sự Ngài có, không giữ lại cho Ngài điều gì.”

 

Thánh Bonaventura ngỡ ngàng thưa: “Ôi ! Chúa rất sang trọng cả trời đất chẳng chứa hết mà bây giờ phải giam cầm trong phép Thánh Thể.”

 

Thánh Phanxicô Salêsiô nói: “Chúa Giêsu không thể làm được việc gì khác hơn nữa để tỏ lòng yêu thương ta cho bằng đã hủy mình ra không, trở nên của ăn nuôi sống ta, và kết hiệp mật thiết với ta.”

 

Chân Phước Henry Suso nói: “Chính trong Bí Tích Thánh Thể, Chúa nhậm lời ta cầu xin hơn các lần khác bội phần.”

 

Một lần kia, Chúa Giêsu cho Thánh Margarita Maria thấy Trái Tim cực trọng của Ngài. Trái Tim có vòng gai cuốn quanh, có lửa bên trong, xung quanh có hào quang chói lọi, phía trên có Thánh Giá. Chúa cho thánh nữ biết Trái Tim Chúa hằng ngự trong phép Thánh Thể. Chúa còn nói: “Ta hằng yêu thương loài người. Ta chẳng tiếc gì đối với họ, dù Ta có hao tổn vì họ. Thế nhưng loài người vô tâm bội bạc. Chúng lơ là với Ta trong Bí Tích Thánh Thể, lại còn phạm sự thánh nữa. Lại còn điều này làm Ta đau đớn hơn là những kẻ đã dâng mình cho Ta cũng đối xử với Ta như vậy.”

 

Thánh Anphong Liguori trong cuốn Viếng Thánh Thể và Ðức Mẹ của ngài đã gợi lại nơi các tín hữu cảm thức ngỡ ngàng trước thực tại thần linh của Chúa Giêsu hiện diện thực trong Bí Tích Thánh Thể với những lời sau: “Hỡi Dân Chúa, hãy chúc tụng Người! Ðấng Thánh đang ở giữa các bạn thật vĩ đại dường bao! Hãy tưởng tượng xem! Thiên Chúa hằng hữu đang sống trên thế giới chúng ta, trong các nhà thờ của chúng ta, ở gần nhà chúng ta! Linh hồn ta phải vui chừng nào, hy vọng chừng nào, yêu thương chừng nào khi nhận ra sự kiện kinh hoàng này!”

 

Và thánh nhân tha thiết nài xin Chúa Giêsu Thánh Thể: “Xin Chúa hãy khiến chỉ tìm kiến một vui thú: vui thú làm đẹp lòng Chúa. Xin Chúa hãy khiến con chỉ mong mỏi một niềm vui: niềm vui thăm viếng Chúa. Xin Chúa hãy khiến con khao khát một vui thỏa: vui thỏa được rước Mình Thánh Chúa. Biết bao người theo đuổi những sự chóng qua! Nhưng con chỉ khao khát tình yêu Chúa mà thôi, và hôm nay con đến đây để nài xin Chúa ban cho con tình yêu ấy. Xin Chúa cho con biết quên mình để luôn đặt Chúa trong tâm trí con.”

 

Rồi mượn lời mượn lời một tu sĩ thánh thiện, Thánh Anphong khuyên chúng ta: “Mọi sự tốt lành tôi được đều đến từ Bí Tích Thánh Thể. Tôi đã dâng hiến toàn thân cho Chúa Giêsu trong nhà tạm. Tôi thấy được vô số ân sủng không được dùng đến nơi bí tích thần linh này vì các linh hồn đã không chịu đến xin cho họ. Tôi thấy được Chúa ước muốn thiết tha nuôi dưỡng các linh hồn chừng nào nơi đây. Ôi, Bánh Thánh kỳ diệu trong đó quyền năng Chúa được bày tỏ rõ ràng! Ðó là hiện thân của mọi sự Người đã làm cho chúng ta. Ta không phải ghen với các thánh trên thiên đàng. Thiên Chúa mà các ngài đang tận hưởng cũng đang sống với chúng ta, và với tang chứng tình yêu kỳ lạ hơn nữa! Hãy hết sức thuyết phục mọi linh hồn tôn sùng Bí Tích Thánh thể. Tôi nói thế vì bánh thần linh này làm tâm hồn tôi nở rộng với tình yêu. Tôi không thể ngừng nói về nó. Tôi cố làm mọi sự có thể cho Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể.”

______________________

 

31- Thánh Thể

Trong Lòng Sùng Kính Thánh Tâm

 

Trong lời tựa của tác phẩm Lòng Sùng Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, Cha Jean Croiset, SJ, linh hướng của Thánh Nữ Magarita Maria Alacoque, đã coi việc tôn thờ Bí Tích Thánh Thể như trung tâm của việc sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu khi ngài nhận định như sau:

”Bởi lẽ bản chất của lòng sùng kính này hệ tại tình yêu hoàn hảo dành cho Chúa Giêsu, cách riêng trong Bí Tích Thánh Thể, tình yêu hoàn hảo này làm thành chủ đề của cuốn sách này. Chúng tôi sẽ dành phần lớn trong sách này bàn về việc viếng Bí Tích Thánh Thể, về Hy Tế Cao Cả của Thánh Lễ và về việc Hiệp Lễ. Vì trong tất cả các việc đạo đức, chính những việc này giúp chúng ta đến gần Chúa Giêsu Kitô hơn cả và thích hợp hơn cả để tôn vinh Thánh Tâm Người, cũng đốt lên trong tâm hồn chúng ta tình yêu nồng nàn dành cho Người.”

Cũng vậy, trong Thông Ðiệp Về Lòng Sùng Kính Thánh Tâm của Ðức Thánh Cha Piô XII, Giáo Hội một lần nữa chỉ ra tương quan mật thiết giữa lòng sùng kính Thánh Tâm và Bí Tích Thánh Thể như sau: “.lòng sùng kính nồng nhiệt đối với Thánh Tâm Chúa không chút nghi ngờ sẽ khích lệ và cổ võ lòng sùng kính Thánh Giá và tình yêu đối với Bí Tích Cực Trọng Thánh Thể.”

 

Ðức Thánh Cha Phaolô VI nói rằng Thánh Thể là “món quà tuyệt vời của Thánh Tâm Chúa Giêsu.” Ngài thêm: “Nguồn gốc và căn nguyên của Phụng Vụ Thánh được tìm thấy nơi đó (Thánh Tâm), vì Trái Tim Chúa Giêsu là đền thánh của Thiên Chúa từ đó của lễ đền tạ được dâng lên tới Chúa Cha Hằng Hữu.”

Sự liên kết thiết yếu giữa lòng sùng kính Thánh Tâm và lòng sùng kính Thánh Thể được Mẹ Louis Margarita Claret de la Touche trình bày như sau:

”Lòng sùng kính Thánh Tâm và lòng sùng kính Thánh Thể là hai lòng sùng kính chị em với nhau. Chúng liên kết hết sức mật thiết với nhau, bổ túc cho nhau cách hoàn hảo, cần đến nhau như thể thật thiết yếu. Lòng sùng kính Thánh Tâm và lòng sùng kính Thánh Thể chẳng những không nghi kỵ nhau, mà còn giúp làm gia tăng lẫn nhau, vì chúng bổ túc và làm hoàn hảo lẫn nhau.

”Thánh Tâm, Thánh Thể, Tình Yêu là một và là cùng một thứ! Trong Nhà Tạm chúng ta gặp Bánh Thánh; trong Trái Tim, Tình Yêu, Tình Yêu Vô Tận, Ðức Ái Thần Linh, Thiên Chúa và Căn Nguyên Sự Sống, sống động và linh hoạt. Nhưng còn nữa: phép lạ khôn tả của Thánh Thể chỉ có thể cắt nghĩa bằng tình yêu; bởi tình yêu Thiên Chúa, vâng, chỉ bằng tình yêu của Chúa Giêsu, Thiên Chúa và Con Người. Giờ đây tình yêu của Chúa Giêsu là tình yêu của Trái Tim Người: đó là chính Trái Tim Người, để tóm gọn trong một chữ. Vậy nên, Bí Tích Thánh Thể được giải thích chỉ bằng Thánh Tâm.”

Vì vậy, tất cả những ai thực sự sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu đều nhận thấy phải đặt Thánh Lễ và Bí Tích Thánh Thể là Trung Tâm của đời sống hàng ngày.

Trong Hiến Chế về Phụng Vụ của Công Ðồng Vaticanô II, Giáo Hội đã xác định điều này như sau: “Phụng Vụ là tột đỉnh mà hoạt động của Giáo Hội qui hướng về, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực của Giáo Hội” (số 10).

Ðây cũng là điều đã Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II khẳng định khi ngài nói với các linh mục: “Việc phục vụ tốt nhất mà bạn là một linh mục có thể cống hiến cho Hội Thánh là đặt Hy Lễ Thánh Thể làm trung tâm đời sống của bạn và trung tâm đời sống của những người bạn phục vụ.” Người còn nói: “Trong Bánh Thánh nhỏ bé đó chứa đựng câu trả lời cho tất cả mọi vấn nạn trên thế giới.”

Cha Paul O’Sullivan, OP viết: “Thánh Lễ là sự lạ lùng cao trọng nhất trên trần gian. Không có gì dưới đất sánh bằng Thánh Lễ, và chẳng có gì trên trời cao trọng hơn Thánh Lễ” vì “những ơn sủng, phước lành và ân huệ được ban xuống cho những người tham dự Hy Lễ Thánh Thiện này vượt quá mọi hiểu biết của con người.” Và Cha đưa ra nhận xét độc đáo sau: “Sự lạ lùng kế đến là sự lãnh đạm mê muội của người Công Giáo đối với Thánh Lễ.”

Trong cuốn Hãy Ðến Với Ta Trong Bí Tích Thánh Thể của Ðức Cha Josefino S. Ramirez và Linh Mục Vincente Martin Lucia, lòng sùng kính Thánh Tâm được cắt nghĩa như sau:

”Tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu không phải là tôn sùng một pho tượng hay một bức ảnh, nhưng là tôn sùng Bí Tích Cực Thánh. Bí Tích Cực Thánh chính là Thánh Tâm Chúa Giêsu đang sống, đang ngự giữa chúng ta và kêu mời mỗi chúng ta đến với Ngài. Sứ điệp của Thánh Tâm là: Bí Tích Thánh Thể không phải là một đồ vật, nhưng là một Ngôi Vị, là chính bản thân Chúa Cứu Thế. Trái Tim Thần Linh của Ngài luôn bừng cháy một tình yêu riêng và sâu thẳm dành cho mỗi người chúng ta trong bí tích này.

 

”Thờ lạy Thánh Thể là:

”1. Ý thức Chúa Giêsu hiện diện thực trong Bí Tích Thánh Thể

”2. Quí trọng Sự Hiện Diện của Ngài giữa chúng ta trong Bí Tích Thánh Thể.

”3. Lời xác nhận tình yêu riêng của Ngài dành cho chúng ta trong Bí Tích Thánh Thể.

”4. Nhìn nhận ta hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài, Ðấng là cây nho và chúng ta là ngành nho, với một thái độ tập trung toàn bộ đời sống của chúng ta về Ngài và thánh ý Ngài.”

Các thánh cùng đưa ra nhiều lẽ khích lệ ta phải năng rước lễ và viếng Chúa Giêsu Thánh Thể.

Thánh Gioan Kim Khẩu nói: “Thánh Thể là lò lửa đỏ rực, nên từ bàn thánh trở về, lẽ ra ta phải được cháy lửa kính mến Chúa, để ma quỷ không dám quấy nhiễu ta nữa.”

Thánh Phanxicô Salêsiô nói: “Nếu có ai hỏi con vì sao con rước lễ nhiều như vậy, con hãy trả lời thế này: Có hai hạng người phải năng rước lễ: một là hạng người trọn lành. Họ rước lễ để giữ mình trong bậc trọn lành. Hai là hạng người không trọn lành. Họ rước lễ để đưa mình tới bậc trọn lành.”

Thánh Bonaventura nói: “Mỗi người phải trông cậy lòng Chúa nhân từ mà năng rước lễ. Vì ai cảm thấy mình bệnh nặng thì càng phải tìm đến bác sĩ mới mong được khỏi bệnh.”

Thánh Catarina Siêna có lần thấy Mình Thánh Chúa trong tay linh mục rực sáng lên như lò lửa. Ngài tự hỏi tại sao lửa nóng ấy không đốt cháy người ta khi họ rước vào, nên ngài khuyên: “Nếu con biết trong người nguội lạnh thì hãy lo đến gần lò sưởi.”

Người ta nhận thấy nơi lòng sùng kính Thánh Tâm một linh đạo thiết thực, giúp họ sống tinh thần Phúc Âm giữa các Thánh Lễ và giúp họ chuẩn bị tham dự Thánh Lễ sắp tới một cách sốt sắng hơn.

_______________________

 

 

 

Hai mẩu truyện đáng nhớ

 

Sự cao quý trỗi vượt của việc dự lễ và hiệp lễ một cách xứng đáng trong đời sống tâm linh đã được minh họa cách tuyệt vời trong mẩu truyện sau từ sách Tháng Trái Tim:

Xưa có một người đạo đức lắm, ngày đêm luôn than thở những lời sốt sắng tự đáy lòng: “Lạy Chúa, con ước ao rằng: trên rừng có bao nhiêu lá, bầu trời bao nhiêu sao, sa mạc bao nhiêu hạt cát, trùng dương bao nhiêu giọt nước thì con cũng được bấy nhiêu miệng lưỡi để ca ngợi Chúa, và cũng được bấy nhiêu con tim để yêu mến Chúa. Hỡi loài côn trùng hãy luôn luôn ca ngợi Chúa thay cho loài người tệ bạc với Chúa.” Một lần, sau khi than thở như vậy, người ấy liền nghe Chúa Giêsu đáp: “Con ơi! Nếu một linh hồn sạch tội dâng một lễ cho sốt sắng thì làm một việc kính mến, ca ngợi và làm sáng danh Cha hơn những việc con ước ao đêm ngày bội phần.”

Chúa Giêsu không nói quá! Dù chúng ta có hàng triệu miệng lưỡi để ca ngợi Chúa, thì những miệng lưỡi ấy vẫn là những miệng lưỡi của phàm nhân tội lỗi. Dù chúng ta có hàng triệu con tim để yêu mến Chúa, thì những con tim ấy vẫn là những con tim của nhân loại yếu hèn. Nhưng khi dâng lễ, chúng ta được kết hợp với Chúa Giêsu để ca ngợi Thiên Chúa bằng miệng lưỡi Chúa Giêsu và yêu mến Thiên Chúa bằng chính Thánh Tâm Người. Việc phụng sự Thiên Chúa trong Thánh Lễ vượt trỗi là thế!

Nhưng hiệu quả của việc tham dự Thánh Lễ nơi mỗi tâm hồn tùy thuộc ở lòng tin của mỗi người:

Thánh Faustina của Phép Thánh Thể thuật rằng một hôm khi rước lễ, ngài thấy Bánh Thánh mà linh mục sẽ trao cho ngài rước vào lòng trở nên sống động. Sau khi rước lễ ngài hỏi Chúa: “Tại sao chỉ có một Bánh Thánh sống động, trong khi Chúa cùng ngự thật trong mọi hình bánh?” Chúa Giêsu trả lời: “Con nói đúng, Cha ngự thật trong mọi hình bánh, nhưng không phải mỗi linh hồn rước Cha đều có một đức tin như đức tin của con, con à; vậy nên Cha không thể hoạt động nơi linh hồn của họ như Cha làm nơi linh hồn con.”

 

Ngày Thánh Thể

 

Ngày Thánh Thể, phương thức sống đức tin của Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam, cũng là một cách cụ thể hóa lòng sùng kính Thánh Tâm.

Ngày Thánh Thể được hiểu là một ngày sống của những người yêu mến Thánh Tâm Thánh Thể Chúa Giêsu. Trong đó, Chúa Giêsu Thánh Thể được đặt làm Trung Tâm, làm Mặt Trời, để soi sáng và sưởi ấm đời ta. Ngày bắt đầu bằng việc dâng ngày cho Thánh Tâm Chúa Giêsu và kết thúc bằng việc dâng đêm. Cao điểm hay giờ ngọ của Ngày Thánh Thể là việc tham dự Thánh Lễ và Rước Lễ. Những giờ khắc của Ngày Thánh Thể được đánh dấu bằng các lời nguyện tắt, những việc xét mình và thống hối, những việc hy sinh hay bác ái, những lần viếng Thánh Thể hay rước lễ thiêng liêng, những lần đọc Thánh Kinh hay sách thiêng liêng, những kinh nguyện, lần chuỗi Mân Côi..v.v..

Sống Ngày Thánh Thể chính là sống hiệp nhất với Thánh Tâm Chúa Giêsu, sống niềm tin, và cũng là sống thánh vậy!

Giêsu ơi, đưa con vào Trái Tim Ngài!

Ấp ủ con trong tình yêu nồng cháy.

Hãy lấy Máu Ngài mà giải khát con.

Bằng chính Thịt Ngài cho con no thỏa.

Bởi con đói lả vì khát khao Ngài.

Chỉ một mình Ngài làm thỏa lòng con.

 

_________________________

 

 

 

32- THÁNH KINH:

 

TÌNH THƯ CỦA THÁNH TÂM

 

Lm. Phạm Quốc Hưng, C.Ss.R.

 

Lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu đích thực phải nhắm đến việc giúp người ta hiểu biết sâu xa, yêu mến thiết tha và kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu để nhờ Người, với Người và trong Người mà thông dự vào sự sống huyền nhiệm của Chúa Ba Ngôi. Một trong những phương thế tuyệt diệu chính Thiên Chúa đã thương ban cho Hội Thánh để giúp ta có được tình yêu thiết thân với Chúa Giêsu như thế chính là Thánh Kinh.

Thánh Kinh được hiểu như một bộ sách được viết lại dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần để bày tỏ cho ta biết Thiên Chúa là ai, Người yêu thương ta thế nào và ta phải làm gì để đáp lại tình yêu ấy. Vì toàn bộ Thánh Kinh đều hướng về Chúa Giêsu, nên có thể nói Thánh Kinh là một pho tình sử hay tình thư của Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Tầm quan trọng của Thánh Kinh trong việc giúp người Kitô hữu hiểu biết yêu mến và kết hợp với Chúa Giêsu được diễn tả thật chính xác nơi lời Thánh Jerome: “Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô.”

 

Chúa Giêsu và Thánh Kinh

Trong Hiến Chế về Mạc Khải của Công Ðồng Vaticanô II, Giáo Hội tuyên bố Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Nơi Người, Thiên Chúa bày tỏ đầy đủ tất cả những gì con người cần biết để đạt đến ơn cứu độ là sự sống đời đời:

”Sau khi phán dạy nhiều lần, nhiều cách qua các tiên tri, ‘nay là thời cuối cùng, Thiên Chúa đã nói với chúng ta qua Chúa Con’ (Heb. 1:1-2). Thực vậy, Ngài đã sai Con Ngài là Ngôi Lời vĩnh cửu, Ðấng sáng soi mọi người, đến sống giữa loài người và nói cho họ nghe những điều kín nhiệm nơi Thiên Chúa (Jn 1:1-18). Bởi vậy, Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể là ‘người đã được sai đến với loài người’, ‘nói tiếng nói của Thiên Chúa’ (Jn 3:34) và hoàn thành công trình cứu rỗi của Chúa Cha đã giao phó cho Người thực hiện (Jn 5:36; 17:4). Vì thế, chính Người là Ðấng mà ai thấy tức là thấy Chúa Cha (Jn 14:9), đã đến bổ túc và hoàn tất mạc khải, bằng tất cả sự hiện diện và tỏ mình qua lời nói cũng như việc làm, dấu chỉ và phép lạ, nhất là qua cái chết và sự sống lại vinh quang từ kẻ chết, sau cùng bằng việc phái Thần Chân Lý đến, bằng chứng tích của Thiên Chúa, Người xác nhận Thiên Chúa hằng ở với chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi bóng tối tội lỗi và sự chết, rồi phục sinh chúng ta để được sống đời đời” (# 4).

Trong suốt cuộc sống ở trần gian, Chúa Giêsu đã nhìn nhận Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa chứa đựng ý định của Thiên Chúa. Người luôn bày tỏ lòng kính trọng đối với Thánh Kinh và cho mọi người thấy rằng Người đến trần gian để thực hiện và hoàn tất thánh ý và chương trình cứu độ của Thiên Chúa, như đã được ghi nhận trong Thánh Kinh.

Tác giả Thư gửi Tín hữu Do Thái không ngần ngại đặt vào miệng Chúa Giêsu lời Thánh Vịnh 40:7-9 để nói lên sứ mạng cứu thế của Người nơi hy tế Thánh Giá trên đồi Can-vê:

”Bởi đó, lúc vào trần gian Ngài nói: ‘Hi sinh cùng lễ vật Người đã chẳng màng, nhưng Người đã nắn nên thân xác cho con. Các lễ toàn thiêu cùng tạ tội Người đã chẳng đoái. Bấy giờ, con nói: Này con đến, trong cuốn sách đã viết về con, để thi hành ý muốn Người; lạy Thiên Chúa’” (Heb. 10:5-7).

Khi bắt đầu sứ mạng rao giảng Tin Mừng công khai, Chúa Giêsu đã vào hội đường tại Nazareth vào ngày hưu lễ. Người mở sách tiên tri Isaia và gặp ngay đoạn viết: “Thần khí Chúa ở trên tôi, bởi Người đã xức dầu cho tôi, Người đã sai tôi đem tin mừng cho người nghèo khó, ban bố ân xá cho kẻ tù đầy, cho người đui mù được thấy, cho kẻ áp bức được giải oan, loan báo năm hồng ân của Chúa.” Và Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm đoạn sách này nơi tai các ngươi” (Lc 4:14-22).

Cũng vậy, sau khi sống lại và hiện ra với hai môn đệ trên đường về Emmau, Chúa Giêsu đã giải thích cho các ông hiểu các đoạn Thánh Kinh nói về Người để các ông đón nhận Tin Mừng Phục Sinh và nhận biết Người chính là Ðấng Cứu Thế. Người tuyên bố: “Những lời này, Ta đã nói cùng các ngươi, khi còn ở giữa các ngươi, là phải nên trọn mọi điều đã viết về Ta trong luật Môsê và các tiên tri và Thánh Vịnh” (Lc 24:44).

Các tác giả sách Phúc Âm nhiều lần trưng dẫn các đoạn văn trong Cựu Ước để cho thấy Chúa Giêsu đã thực sự hoàn tất những điều ấy nơi con người và cuộc sống với mọi hoạt động của Người.

Cuộc sống của Chúa Giêsu còn được các thánh sử trình bày như được ướp đậm hương vị của Thánh Kinh. Người đã tỏ ra rất quen thuộc và thấu triệt các trình thuật trong Cựu Ước, hiểu rõ các đoạn sách tiên tri nói về Ngài, và chính Ngài thường dùng các Thánh Vịnh để cầu nguyện. Người đã dùng lời Thánh Kinh để chiến thắng sự cám dỗ của ma quỷ trước khi bắt đầu sứ mạng rao giảng công khai (Mt 4:1-11).

Và trong cuộc đời truyền giáo công khai, Chúa Giêsu đã nhiều lần trưng dẫn Cựu Ước trong các cuộc tranh luận với các biệt phái và luật sĩ (như tích vua David vào đền thờ ăn bánh dành riêng cho tư tế Mt 2:23-28; tích Chúa hiện ra với Môsê nơi bụi gai bốc cháy Mc12:18-27), hoặc để nói về chính Người (tích tiên tri Giona trong bụng cá và nữ hoàng phương nam đến gặp vua Salomon Lc 11:29:32). Các môn đệ cũng không quên những lần cùng Thầy Chí Thánh cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (Mt 26:30-31; Mc 14:26-27).

Một sự kiện cho thấy Chúa Giêsu thực sự là trung tâm của Thánh Kinh và làm cho Thánh Kinh trở nên sống động nơi các môn đệ của Người làbiến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor. Khi ấy, Môsê và Êlia, hai cột trụ của toàn bộ Thánh Kinh Cựu Ước—tiêu biểu cho toàn lề luật và mọi sấm ngôn, đã xuất hiện và đàm đạo với Chúa Giêsu (Lc 9:28-36).

Như thế, những con người của Thánh Kinh hay những con người thuộc về Thiên Chúa đích thực phải là những con người hướng về Chúa Giêsu và hiệp thông với Người. Cũng vậy, những ai muốn bước vào liên hệ yêu thương thiết thân với Chúa Giêsu phải trở nên giống Người trong việc yêu mến và tôn kính, đọc suy và thực thi Lời Chúa trong Thánh Kinh.

 

Các Tông đồ và Thánh Kinh

Theo gương Chúa Giêsu Kitô, các tông đồ cũng là những người yêu mến, tôn kính và am hiểu Thánh Kinh (Cựu Ước). Trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho mọi người nhận biết ơn cứu độ, các ông đã không ngừng trưng dẫn các đoạn văn trong Cựu Ước để chứng thực Chúa Giêsu chính là Ðấng Mêsia.

Sách Tông Ðồ Công Vụ ghi nhận diễn từ của Thánh Phêrô ngày Lễ Ngũ Tuần (2:14-41) và ở sân Ðền Thờ (3:11-26), diễn từ của Thánh Têphanô trước Công Nghị Do Thái (7:1-53), lời giải thích sấm ngôn Isaia của Thánh Philip dành cho viên hoạn quan quyền thế của Kanđađê (8:26-40), lời thuyết giáo của Thánh Phaolô trong hội đường tại Antiôkia xứ Pisiđia (13:18-51) và diễn từ của Thánh Giacôbê (15:13-21).

Tất cả những diễn từ trên đều là những lời rao giảng Tin Mừng giúp mọi người nhận biết Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa đã làm người để cứu chuộc nhân loại. Và các chứng nhân Tin Mừng đã dùng Thánh Kinh để làm chứng rằng Chúa Giêsu Kitô chính là Ðấng Cứu Thế mà Thiên Chúa đã hứa ban cho nhân loại qua các tổ phụ và ngôn sứ.

Trong các thư gửi các tín hữu tiên khởi, các tông đồ cũng rất nhiều lần trưng dẫn Thánh Kinh để giúp các tín hữu gia tăng niềm tin nơi Chúa Giêsu. Hơn nữa, các ngài cũng mời gọi các tín hữu tôn kính, mến yêu, đọc nghe, suy niệm và thực thi Lời Chúa được trình bày trong Cựu Ước và nơi lời rao giảng của các tông đồ để được thuộc trọn về Chúa Giêsu Kitô.

Thánh Phêrô đã khuyên các tín hữu đón nhận lời tiên tri trong Thánh Kinh như đèn sáng trong thế giới tối tăm và khẳng định tính cách thần thiêng của Thánh Kinh như sau: “Và (như vậy) ta có được lời tiên tri thêm bội phần chắc chắn. Thật là điều phải lẽ việc anh em lưu tâm vào đó, như nhắm chiếc đèn rạng chốn u minh, chờ lúc Ngày bừng sáng và Sao mai mọc lên trong lòng anh em. Ðiều này trước tiên, anh em hãy biết là: Mọi điều tiên tri trong Kinh Thánh không phải là điều tư riêng mình giải được. Quả thế lời tiên tri không hề do ý người phàm nào đem đến; song le có những người do tự Thiên Chúa và được Thánh Thần thúc đẩy đã tuyên ra” (2Pet 1:19-21).

Nhìn nhận Thánh Kinh chính là Lời Thiên Chúa được ghi lại nơi sách các tiên tri, Thánh Phaolô xác định sức mạnh của Lời Chúa như sau: “Quả thế, Lời Thiên Chúa sống động và linh hoạt, sắc bén hơn mọi thứ gươm hai lưỡi, và đâm phập vào tận ranh giới hồn phách, gân cốt và tủy não, cùng biện minh ra được tình và ý tưởng của lòng dạ. Trước mặt Người không một tạo vật nào lại là u uẩn; phải, trước mắt Người, mọi sự đều bị lột trần, thất điên bát đảo, với Người, ta phải trả lẽ!” (Heb 4:12-13).

Thánh nhân còn trưng dẫn gương đức tin của những nhân vật Thánh Kinh như Abraham, Isaac, Giacóp, Ghêđêon, Ðavit, Samuel, để mời gọi các tín hữu tiên khởi thêm phấn khởi sống niềm tin của họ nơi Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô. Ngài viết: “Ấy vậy có cả đám mây nhân chứng lớn lao dường ấy quanh ta, thì cả ta nữa, ta liệng đi quả tạ mọi thứ và tội lỗi bịn rịn, nắm lấy kiên nhẫn, ta hãy chận tuyến chờ ta, đăm nhìn lên Ðấng khơi nguồn và cũng là viên thành đức tin, Ðức Giêsu, Ðấng, thay vì vui sướng chờ Ngài, thì đã kiên chịu khổ hình thập giá, không quản thẹn thùng xấu hổ, và đã lên ngự bên hữu ngai của Thiên Chúa” (Heb 12:1-2).

Và với tất cả tâm tình thiết tha của một người cha dành cho con yêu dấu của mình, Thánh Phaolô đã căn dặn Thánh Timôthê, người con thiêng liêng chí thiết của ngài, phải mến mộ việc đọc suy, thực hiện và rao giảng Thánh Kinh vì đó là phương thế tuyệt diệu và tối cần để giúp người môn đệ Chúa Kitô chu toàn ơn gọi và sứ mạng của mình.

Ngài viết: “Còn anh, cứ vững trong những điều đã học và đã quyết tin, bởi biết đã học với những người nào; và từ bé anh đã biết Thánh Thư, là phương có thể dạy khôn anh, hòng trông được cứu nhờ bởi tin vào Ðức Giêsu Kitô. Kinh Thánh nhất nhất đã được thần hứng, và có ích để dạy dỗ, để biện bác, để tu chỉnh, để giáo huấn trong sự công chính, ngõ hầu người của Thiên Chúa được hoàn bị sẵn sàng cho mọi công việc lành thánh. Trước mặt Thiên Chúa, và Ðức Giêsu Kitô, Ðấng sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết, vì cuộc Hiển linh và vương quyền của Ngài, tôi khẩn thiết yêu cầu: Hãy rao giảng Lời, hãy ứng phó lúc thuận lúc nghịch, hãy biện bác, hãy khiển trách, hãy khuyên lơn, hết tình đại lượng và dụng tâm dạy dỗ” (2Tim 3:14-4:2).

Chắc chắn, những lời căn dặn khẩn thiết trên đã, đang và sẽ mãi mãi là những lời mà các tín hữu của Chúa Kitô qua mọi thời đại hằng ghi tâm khắc cốt và nỗ lực thực hiện để trở nên những con người Thánh Kinh, những người của Thiên Chúa và những Kitô hữu đích thực.

 

Các giáo phụ và Thánh Kinh

Nếu các tông đồ và môn đệ đầu tiên của Chúa Kitô là những người đã được Chúa đặt làm nền tảng và cột trụ của ngôi nhà Hội Thánh, thì các giáo phụ được coi như những khung chính của ngôi nhà ấy. Trung thành noi gương các tông đồ, các giáo phụ cũng là những con người tôn kính, mến yêu và say mê Thánh Kinh.

Lịch sử cho thấy các giáo phụ tự bản chất và chính yếu là những nhà chú giải Thánh Kinh. Ðối với các ngài, Thánh Kinh là đối tượng của sự tôn kính vô điều kiện, là nền tảng của đức tin, là chủ đề giảng dạy liên tục, là chất bổ nuôi dưỡng lòng sùng mộ và là linh hồn của thần học. Các ngài luôn xác tín nguồn gốc thần linh của Thánh Kinh, sự bất khả ngộ của Lời Chúa, thẩm quyền phổ quát của Thánh Kinh, sự phong phú vô ngần của nguồn mạch Thánh Kinh đối với đời sống tâm linh vàsự phát triển đức tin.

Các giáo phụ bắt đầu xây dựng và phát triển nền thần học Kitô giáo dựa trên việc chú giải Thánh Kinh trong lòng Hội Thánh, đặc biệt trong đời sống phụng vụ của Hội Thánh và đáp ứng các nhu cầu của Dân Chúa. Các ngài luôn tôn kính và trung thành với Sách Thánh với cùng một niềm tôn kính và trung thành dành cho Thánh Truyền. Các ngài không tự cho mình là các bậc thày nhưng là những tôi tớ phục vụ Thánh Kinh, vì các ngài đã đón nhận Thánh Kinh từ Hội Thánh, luôn đọc và giải thích Thánh Kinh trong Hội Thánh theo qui định của đức tin đã được trình bày và minh họa bởi Thánh Truyền và các bậc có thẩm quyền trong Hội Thánh.

Thánh Irênê là một người say yêu Thánh Kinh đã khẳng định rằng bất cứ ai muốn biết chân lý phải nhìn vào Thánh Truyền của các Tông đồ. Thánh nhân còn thêm rằng, ngay cả nếu các Tông Ðồ không để lại Thánh Kinh cho chúng ta, nguyên Thánh Truyền cũng đủ để hướng dẫn chúng ta đạt đến ơn cứu độ. Cũng vậy, Thánh Augustinô xác định: “Tôi sẽ không tin vào các sách Phúc Âm nếu thẩm quyền Hội Thánh Công Giáo không dạy tôi tin như thế.”

Thánh Augustinô còn cho chúng ta nhận thấy thái độ khiêm nhường của các giáo phụ khi tiếp cận Thánh Kinh khi ngài viết: “Nếu tôi gặp thấy trong những sách này điều gì xem ra nghịch với sự thật, tôi sẽ không ngần ngại kết luận rằng bản văn ấy sai lỗi, hay người dịch không trình bày đúng ý bản văn, hoặc chính tôi không hiểu.”

Như vậy, các giáo phụ đã sống và làm gương cho các tín hữu Chúa Kitô trong việc tôn kính, say yêu, đọc suy và thực hiện Lời Chúa trong Thánh Kinh với sự mến yêu và vâng phục triệt để sự hướng dẫn thẩm quyền Hội Thánh. Các ngài đã dạy cho chúng ta biết rằng Thánh Kinh được viết bởi những người tin, viết cho những người tin và viết để xây dựng, củng cố và phát triển đức tin, nên chúng ta phải đọc Thánh Kinh với tinh thần đức tin, đức tin của các tông đồ, đức tin trong sự vâng phục và hiệp thông với Hội Thánh.

____________________

 

 

 

33. THÁNH CÔNG ĐỒNG VATICANO II VÀ THÁNH KINH

 

Trong Hiến Chế về Mạc Khải, Thánh Công Ðồng Vaticanô II xác định lòng tôn kính của Hội Thánh đối với Thánh Kinh, vạch ra những lợi ích lớn lao và tầm quan trọng của Thánh Kinh trong đời sống Giáo Hội, khuyến khích và hướng dẫn các tín hữu đọc Thánh Kinh. Ðặc biệt, Công Ðồng muốn mọi người nhận biết tương quan mật thiết giữa Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn Quyền của Hội Thánh trong việc chuyển thông Lời Chúa cho nhân loại.

 

Thánh Công Ðồng dạy:

”Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tin hữu. Cùng với Thánh Truyền, Thánh Kinh đã và đang được Giáo Hội xem như là quy luật tối cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh ứng và đã được ghi chép một lần cho muôn đời, Thánh Kinh phân phát cách bất di bất dịch lời của chính Chúa và làm vang dội tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua các Ngôn Sứ cùng các Tông Ðồ. Bởi vậy, mọi lời giảng dạy trong Giáo Hội cũng như chính đạo thánh Chúa Kitô phải được Thánh Kinh nuôi dưỡng và hướng dẫn. Thực thế, trong các Sách Thánh, Chúa Cha trên trời bằng tất cả lòng trìu mến đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ. Lời Chúa còn có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội” (# 21).

”Thánh Công Ðồng cũng tha thiết và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu, cách riêng các tu sĩ, hãy năng đọc Thánh Kinh để học biết ‘khoa học siêu việt của Chúa Giêsu Kitô’ (Phil 3:8). Vì ‘không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô’. Vậy ước gì họ hăng hái tiếp xúc với chính bản văn Thánh Kinh nhờ Phụng Vụ dồi dào Lời Thiên Chúa, hoặc nhờ sốt sắng đọc Thánh Kinh, hay nhờ những tổ chức học hỏi thích hợp, hoặc bất cứ phương thế nào mà ngày nay đã được các Chủ Chăn trong Giáo Hội chấp thuận và ân cần phổ biến khắp nơi. Nhưng mọi người cũng nên nhớ rằng kinh nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người vì ‘chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh’” (# 25).

”Bởi vậy Thánh Truyền và Thánh Kinh liên kết, phối hiệp mật thiết với nhau vì cả hai phát xuất từ một nguồn mạch là Thiên Chúa. Có thể nói là cả hai kết hợp nên một và cùng hướng về một mục đích. Thực vậy, Thánh Kinh là lời Chúa nói, vì được ghi chép lại dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần; còn lời Chúa, mà Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần ủy thác cho các Tông Ðồ, thì Thánh Truyền lưu lại toàn vẹn cho những kẻ kế vị các ngài, để nhờ Thần Chân Lý soi sáng, họ trung thành gìn giữ, trình bày và phổ biến qua lời rao giảng. Do đó, Hội Thánh không chỉ nhờ Thánh Kinh mà biết cách xác thực các lời mạc khải. Chính vì thế mà cả Thánh Kinh lẫn Thánh Truyền đều phải được đón nhận và tôn kính bằng một tâm tình quý mến và kính trọng như nhau” (# 9).

”Nhiệm vụ chú giải đích thực lời Chúa đã được viết ra hay lưu truyền chỉ được ủy thác cho Quyền Giáo Huấn sống động của Giáo Hội, và Giáo Hội thi hành quyền đó nhân danh Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên, Quyền Giáo Huấn này không vượt trên lời Chúa nhưng để phục vụ lời Chúa, chỉ dạy những gì đã được truyền lại, vì thừa lệnh Chúa và với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Giáo Hội thành tâm lắng nghe, gìn giữ cách thánh thiện và trung thành trình bày lời Chúa. Ðồng thời, từ kho tàng duy nhất ấy, Giáo Hội rút ra mọi chân lý mà dạy phải tin là do Thiên Chúa mạc khải.

”Bởi thế, hiển nhiên là Thánh Truyền, Thánh Kinh và Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội, theo ý định vô cùng khôn ngoan của Thiên Chúa, liên kết và phối hợp với nhau đến nỗi không một thực thể nào trong ba có thể đứng vững một mình được. Và dưới tác động của một Chúa Thánh Thần duy nhất, cả ba, theo phương cách riêng, cùng góp phần hữu hiệu vào việc cứu rỗi các linh hồn” (# 10).

Ðức Hồng Y Joseph Ratzinger đưa ra một nhận xét thích đáng về tương quan giữa đức tin của Giáo Hội và việc hiểu Thánh Kinh như sau: “Các tín điều của Hội Thánh chính là những giải thích Thánh Kinh chính thức của Giáo Hội.” Vì vậy, người tín hữu chân chính phải khước từ bất cứ lối giải thích Thánh Kinh nào khiến họ nghi vấn hay chối bỏ các tín điều Giáo Hội dạy phải tin.

 

Thánh Kinh và lòng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu

Trước hết, những người sùng kính Thánh Tâm phải luôn xác tín rằng Thánh Kinh thực sự chứa đựng chính Lời Hằng Sống của Thiên Chúa và phải được xem như một pho tình sử hay một tình thư của Thánh Tâm Chúa Giêsu gửi cho mỗi linh hồn để mời gọi họ bước vào mối tình thâm giao với Chúa. Vì vậy, muốn thực hiện lòng sùng kính chân chính dành cho Thánh Tâm Chúa Giêsu người ta phải có lòng yêu mến và hâm mộ việc đọc suy và thực thi Lời Chúa trong Thánh Kinh.

Những con người của Thánh Kinh, những con người của Thiên Chúa luôn là những người hâm mộ và say yêu Lời Chúa. Tác giả Thánh Vịnh gọi “lời Chúa là đèn soi lối con đi.” Tiên tri Jeremia viết: “Gặp được Lời Chúa, con nuốt chửng vào và Lời Chúa trở thành hoan lạc cho lòng con” (Jer 15:16).

Hơn nữa, chính Chúa Giêsu đã đặt việc nghe và giữ Lời Chúa làm tiêu chuẩn cho lòng yêu mến đích thực dành cho Người và là điều kiện để sống hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi: “Ai mến Ta, thì sẽ giữ lời Ta, và Cha Ta sẽ yêu mến nó, và Chúng Ta sẽ đến với nó, và sẽ đặt chỗ ở nơi mình nó. Ai không mến Ta, thì không giữ các lời Ta. Mà lời các ngươi nghe đây không phải là của Ta, nhưng là của Cha, Ðấng đã sai Ta” (Jn 14:23-24).

Các thánh và các tác giả cổ võ lòng sùng kính Thánh Tâm trong lịch sử Giáo Hội luôn dùng Thánh Kinh làm chất liệu và nền tảng cho việc suy ngắm về tình yêu tuyệt đối và siêu việt của Thánh Tâm Chúa Giêsu dành cho Thiên Chúa Cha và nhân loại.

Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II cũng đã dùng Thánh Kinh làm chất liệu để suy gẫm về từng lời cầu trong Kinh Cầu Trái Tim Chúa Giêsu trong một loạt bài giảng sau Kinh Truyền Tin trong những năm 1985, 1986 và 1989. Như vậy, Ðức Thánh Cha đã làm gương về lòng mến mộ việc suy gẫm Thánh Kinh cho những ai muốn thực hiện lòng sùng kính Thánh Tâm.

Ngày 01/07/1984, Ðức Thánh Cha nói về Kinh Cầu Trái Tim Chúa Giêsu như sau: “Trong suốt Tháng Sáu, Hội Thánh đặt trước mắt chúng ta các mầu nhiệm của Trái Tim Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm Người. Những mầu nhiệm này được diễn tả một cách thấu triệt nơi Kinh Cầu Thánh Tâm, một kinh nguyện có thể hát, có thể đọc và trên hết phải được suy gẫm.”

_________________________

 

 

 

34- Thánh Kinh:

nguồn gợi hứng cho Kinh Cầu Thánh Tâm

 

Tác giả Timothy T. O’Donnell đưa ra nhận định rằng Kinh Cầu Trái Tim Chúa Giêsu mà chúng ta thường đọc hiện nay, được Ðức Lêô XIII phê chuẩn ngày 02/04/1899, là một Kinh Cầu phong phú nhất về nguồn gốc Thánh Kinh của các lời cầu. Tác giả đã trưng dẫn các mạch văn Thánh Kinh làm căn bản cho các lời cầu trong Kinh Cầu Thánh Tâm, như để mọi người thấy rằng Thánh Kinh chính là phương tiện tối cần giúp người ta am hiểu, mến yêu và kết hợp mật thiết với Thánh Tâm Chúa Giêsu.

 

 

Xin Chúa thương xót chúng con.            Xin Chúa thương xót chúng con.

Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.    Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Xin Chúa thương xót chúng con.            Xin Chúa thương xót chúng con.

Chúa Kitô nghe cho chúng con.              Chúa Kitô nhậm lời chúng con.

Ðức Chúa Cha ngự trên trời là Ðức Chúa Trời thật.

Thương xót chúng con (Thưa sau mỗi câu).

Ðức Chúa Con chuộc tội cứu thế là Ðức Chúa Trời thật.

Ðức Chúa Thánh Thần là Ðức Chúa Trời thật.

Ba Ngôi cũng là một Ðức Chúa Trời.

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu Con Ðức Chúa Cha hằng có đời đời (Mt 16,16; 6,9).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần đã dựng nên trong lòng Rất Thánh Ðức Mẹ Ðồng Trinh (Mt 1,20; Lc 1,26).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu hợp làm một cùng Ngôi Thứ Hai cho trọn (Ga 1,14).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu oai vọng vô cùng (Mt 25,31; Mt 16,27; 26,64); Tv 71,19; Cl 1,15 Dt 1,3).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là đền thánh Chúa Trời (Ga 2,19-21; Ga 4,23).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là toà Ðấng cực cao cực trọng (Dt 9,11-12; Ga 1,14; 2 Pr 1,13-14).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là đền đài Chúa Trời cùng là cửa Thiên Ðàng (Gen 28:17; Ga 1,51).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là lò lửa mến hằng cháy (Ep 3,19; Cn 27,21, Kn 3,6).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu gồm sự công chính và sự thương yêu (Dt 1,19; Rm 3,26, 5,5).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu đầy sự nhân lành cùng sự yêu dấu (Mt 19,17).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là vực đầy mọi nhân đức (Hc 1,2; Dt 1,9).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu rất đáng ngợi khen mọi đàng (Dt 1,6; Kh 5,9).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là Vua lòng mọi người và là chốn phải hướng về thay thảy (Dt 2,8 Ed 11,19; Gr 32,39).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là kho mọi sự khôn ngoan thông thái (Cl 2,3).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là nơi trót tính Ðức Chúa Trời ngự (Cl 2,9).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là chốn Ðức Chúa Cha lấy làm ưng ý mọi đàng (Mt 3,17; 17,5 ).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là mạch đầy dẫy hằng chảy ơn lành cho mọi người chúng con (Ga 1,16).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu các thánh trên trời khao khát (St 49,26; Tv 120,1).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu hay nhịn hay thương vô cùng (2 Tx 3,5 ,Xh 34,6).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu hay ở rộng rãi cùng những kẻ nguyện xin (Rm 10,12).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là cội rễ cho chúng con được nên lành nên thánh (Is 12,3; Tv 35,10; Ga 7,38; 1 Cr 10,4; Kh 7,17, 21,6; 22,1).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là của lễ đền tội chúng con (1 Ga 2,2; Rm 3,25).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu đã phải xấu hổ nhuốc nha bội phần (Ac 3,30; Tv 21).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu đã phải tan nát vì tội chúng con (Is 53,5).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu đã vâng lời cho đến chết (Phil 2:8; Heb 5:8).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu đã phải lưỡi đòng thâu qua (Ga 19:34; Dc 2,14).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là nguồn mọi sự an ủi (Mt 11,28; Lc 2,25; 1 Cr 1,3 ).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu là sự sống cùng là sống lại chúng con (Ga 11,25; 1 Ga 1,2).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu ban cho chúng con được bằng an và làm lành cùng Ðức Chúa Trời (Cl 1,20; Lc 2,14; Ga 20,19).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu dâng mình chịu phạt cho kẻ có tội (Tv 128,3; Mt 26,28).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu hay cứu chữa kẻ trông cậy (Rom 10:13).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu hay làm cho kẻ mong sinh thì được cậy trông (1 Tx 4,13; Cl 1,5.27).

Trái Tim Ðức Chúa Giêsu hay làm cho các thánh được vui mừng (Kh 21:23).

Chúa Kitô chuộc tội cứu thế.    Tha tội chúng con.

Chúa Kitô chuộc tội cứu thế.    Nghe cho chúng con.

Chúa Kitô chuộc tội cứu thế.    Thương xót chúng con.

Lạy Ðức Chúa Giêsu rất hiền lành và khiêm nhường trong lòng.

Xin uốn lòng chúng con nên giống Trái Tim Chúa.

Chúng con lạy ơn Ðức Chúa Trời phép tắc vô cùng hằng có đời đời, chúng con xin Chúa trông đến Trái Tim Con rất yêu dấu Chúa, cùng những lời ngợi khen, và những việc lành Người dâng thay cho kẻ có tội, mà nguôi cơn giận mà tha thứ cho những kẻ ăn năn kêu van. Vì Ðức Giêsu Kitô Con Chúa, là Ðấng hằng sống hằng trị làm một cùng Chúa và Ðức Chúa Thánh Thần đời đời chẳng cùng. Amen.

 

****

 

35- Cách thức

 đọc Thánh Kinh

-------

Ðể việc đọc Thánh Kinh đem lại lợi ích đích thực cho đời sống tâm linh, tác giả sách Gương Chúa Giêsu khuyên ta phải có tinh thần khiêm nhượng, đơn sơ và tin tưởng:

”Phải tìm chân lý chứ đừng tìm lợi khẩu trong Thánh Kinh. Ðọc Thánh Kinh phải đọc với chính tinh thần của tác giả. Phải tìm lợi ích thiêng liêng hơn là tìm lời lẽ văn hoa chải chuốt. Ta phải chuộng đọc cả những cuốn đạo đức đơn sơ, cũng như những cuốn cao sâu mầu nhiệm.

”Ðừng bận tâm đến thân thế, học lực của tác giả: hãy đọc vì lòng mến chân lý thuần túy. Cũng không cần tra vấn câu nọ, câu kia, của tác giả nào, một hãy để ý xem tác giả đã nói những gì.

”Người đời qua đi, nhưng đức tín trung của Chúa sẽ muôn đời tồn tại. Chúa nói với ta bằng nhiều cách khác nhau và bằng những người cũng khác nhau. Thường tính tò mò rất có hại cho ta trong lúc đọc Thánh Kinh. Nó làm cho ta muốn hiểu thấu và bình luận những cái đáng lý chỉ nên bỏ qua.

”Nếu muốn được ích khi đọc Thánh Kinh, bạn hãy đọc cho khiêm tốn, đơn thành và tin tưởng, mà đừng bao giờ đọc để mong được tiếng thông giỏi.

”Hãy bàn hỏi những người đã sống thánh thiện và im lặng nghe họ trả lời. Cũng đừng coi thường câu nói của những người cao niên: không phải vô tình mà họ mở miệng nói ra đâu” (Q.I, Ch. # 5)

Tác giả còn vạch ra sự vô ích của lối học hỏi Thánh Kinh không nhắm đến đức mến Chúa yêu người. Ðồng thời, tác giả coi việc phải thực hành Lời Chúa qua việc chuyên cần suy ngắm đời sống của Chúa Giêsu và cố gắng sống theo gương Người như điều kiện tối cần để có thể được ích lợi đích thực khi đọc Thánh Kinh. Tác giả viết:

”Thuộc lòng toàn pho Thánh Kinh và danh ngôn các triết gia, mà không có đức ái và ân nghĩa Chúa: tất cả cái đó có ăn thua gì: ‘Phù hoa nối tiếp phù hoa. Của đời hết thảy chỉ là phù hoa’ (Eccl. 1:2), trừ kính ái và phụng thờ một Chúa.

”Lời Chúa Giêsu: ‘Ai theo Ta, người ấy không đi trong đường tối’ (Jn 8:12). Lời ấy, Chúa dùng để khuyên ta bắt chước tính hạnh và hành vi Chúa, nếu ta muốn được sáng thật và thoát ly mọi tối tăm trong tâm hồn. Bài học chính của ta sẽ là suy gẫm về tính hạnh Chúa Giêsu vậy.

”Sở dĩ nhiều người nghe giảng Phúc Âm luôn mà vẫn không xúc động, là vì họ không có tinh thần Chúa Kitô. Muốn hiểu tỏ và nếm thử thi vị của lời Chúa, cần phải tập sống đời sống của Chúa” (Q I, Ch # 1).

”Con sợ sẽ phải chết mà không làm được gì, nếu con chỉ nghe lời Chúa bằng tai mà lòng trí không hâm mộ. Nếu con nghe lời Chúa mà không thực hành, biết mà không mến, tin mà không giữ, thì tất cả những cái đó chỉ nên án phạt cho con thôi!

”Lạy Chúa! Chúa hãy nói vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe.vì Chúa có những lời hằng sống (Jn 6:69). Chúa hãy nói, không những cho hồn con được an ủi và đền tạ đời sống của con, mà nhất là vì danh dự, tiếng thơm và vinh hiển muôn đời của Chúa” (Q. III, Ch. # 2).

Trước thái độ lãnh đạm thờ ơ đối với Lời Chúa và chạy theo thói đời của nhiều tín hữu, tác giả sách Gương Chúa Giêsu đã cảm thông và trình bày tâm tình thiết tha mời gọi của Thánh Tâm Chúa Giêsu như sau:

”Con ơi! Hãy nghe lời Cha, những lời đầy êm dịu, những lời thắng vượt ngàn lần khoa học của tất cả mọi triết nhân và các nhà thông thái trên đời. ‘Lời Cha là tinh thần và sống’ (Jn 6:64). Không nên tìm thỏa mãn trong đó, nhưng phải nín lặng mà nghe và nhận lấy với một tinh thần khiêm tốn hết sức và thành thực ái mộ.

”Con đã thưa: Lạy Chúa! hạnh phúc người được Chúa ra tay giáo huấn và dạy vẽ lề luật Chúa, để xoa dịu những ngày đêm tối và để người đó khỏi cô quạnh trên trái đất.

”Chính Cha, Cha đã dạy các tiên tri ngay từ thuở đầu, và ngày nay Cha cũng không thôi nói với hết mọi người. Nhưhg nhiều người bưng tai giả điếc không muốn nghe. Thậm chí có người thích nghe thế tục hơn nghe Thiên Chúa. Họ thích thỏa mãn nhục dục hơn đẹp lòng Thiên Chúa.

”Ðời chỉ hứa những cái tạm bợ và ít giá trị, mà người ta mê man phụng sự nó. Còn Cha, Cha hứa những của cao quý và bất hủ mà lòng người vẫn lãnh đạm thờ ơ!

”Ai là người chuyên cần phụng sự và vâng ý Cha trong mọi cái, cũng như người ta chuyên cần phụng sự đời và những người quyền quí ở trong đời? (Q. III, Ch. # 3).

Ðể nhấn mạnh mục đích tôn giáo và siêu nhiên của Thánh Kinh, một tác giả khác nhận xét: “Thánh Kinh không viết về cách vận chuyển của các tầng trời, nhưng viết về cách sống để lên Trời.”

Cũng vậy, nhằm giúp ta xét mình và cải thiện đời sống qua việc đọc và suy niệm Thánh Kinh, một học giả Thánh Kinh khuyên: “Ta thường có thái độ chất vấn các đọan Lời Chúa trong Thánh Kinh, tương tự như Philatô và những thượng tế và biệt phái chất vấn Chúa Giêsu. Vì vậy, Lời Chúa đã không biến đổi được ta. Ðúng ra, ta phải để cho Lời Chúa chất vấn ta, thanh tẩy ta, và biến đổi con người và cuộc đời của ta. Ta hay dừng lại ở một ít đoạn văn khó hiểu mà không dám nhìn nhận rằng ta đã không thực tâm và trung thành thực hiện rất nhiều đoạn văn chúng ta đã hiểu.”

Ghi nhớ gương sống đức tin của các nhân vật được nêu lên trong Thánh Kinh, đối thoại với họ, đặt mình vào thế đứng của họ, chọn noi gương họ và xin họ chuyển cầu cùng Chúa cho ta cũng là một cách thức giúp ta đọc Thánh Kinh một cách sống động hơn.

Mỗi người cũng nên chọn một vài câu Thánh Kinh làm châm ngôn cho cuộc sống của mình. Tìm ra những câu Thánh Kinh am hợp cho các biến cố, sự vật hay nhân vật trong cuộc sống hàng ngày cũng là một phương thế làm cho Thánh Kinh trở nên linh hoạt và thiết thân trong đời sống thường ngày.

Cũng vậy, đời sống của một người thành thực sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu cũng phải làm thành một Lời Chúa cho tha nhân, một lời yêu thương, chia sẻ và phục vụ, như đời sống của chính Chúa Giêsu.

Xin ơn lắng nghe Lời Chúa

Một khi hiểu rõ giá trị cao quý tuyệt vời và lợi ích vô cùng lớn lao của Lời Chúa, người ta sẽ luôn tha thiết nài xin Thánh Tâm Chúa Giêsu ban cho được ơn say mê yêu mến, đọc suy, thực thi và rao truyền Lời Chúa trong mọi ngày sống ở trần gian, để tìm được ý nghĩa đích thực ở đời này và hạnh phúc vô cùng đời sau.

Tâm tình này đã được diễn tả cách tài tình nơi bài thánh ca “Lắng Nghe Tiếng Chúa” của Linh Mục Nhạc Sĩ Nguyễn Duy:

 

PK 1: Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con trong đêm tối. Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con lúc lẻ loi. Xin cho con cất tiếng lên trả lời và vâng theo ý Chúa. Xin cho con biết thân thưa: Lạy Ngài, Ngài muốn con làm chi?

ÐK: Lời Ngài là sức sống của con. Lời Ngài là ánh sáng đời con. Lời Ngài làm chứa chan hy vọng, là đường để con hằng dõi bước. Lời Ngài đượm chất ngát niềm vui, trọn vẹn ngàn tiếng hát đầy vơi. Lời Ngài đổi mới cho cuộc đời. Lời Ngài hạnh phúc cho trần ai.

PK 2: Xin cho con biết lắng nghe Lời Ngài truyền rao cho thế giới. Xin cho con biết lắng nghe Lời Ngài dạy con suốt đời con. Xin cho con biết lắng nghe ngàn đời, và truyền rao chân lý. Xin cho con biết lắng nghe ngàn đời, tình mến không nhạt phai.

PK 3: Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con trong cuộc sống. Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con lúc khổ đau. Xin cho con cất tiếng lên trả lời và vâng theo ý Chúa. Xin cho con con biết thực hành ngàn đời lời Chúa đã truyền ban.

***

 

 

36- THẦN KHÍ

SỨC MẠNH CỦA THÁNH TÂM

 

Lm. Phạm Quốc Hưng, CSsR.

 

Thần Khí tác tạo

 

Việc sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu không nhằm mục đích nào khác hơn là giúp người tín hữu gia tăng sự hiểu biết, yêu mến và kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu cũng như giúp họ biến đổi tâm hồn để có được “tâm tư như đã có nơi Ðức Kitô” (Phil 2:5). Và điều này không thể thực hiện được nếu không có sự hiện diện của Thần Khí. Chính Chúa đã tuyên bố điều này trong sách ngôn sứ Êzêkiel:

”Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi quả tim bằng thịt. Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành” (36:26-27).

Quả tim bằng thịt đầy tràn Thần Khí mà Thiên Chúa hứa ban tặng ở đây chính là Thánh Tâm Chúa Giêsu như ngôn sứ Isaia đã viết:

”Một chồi sẽ xuất hiện từ gốc Isai, và từ rễ nó, lộc sẽ mọc lên. Trên ngài Thần Khí Giavê sẽ đậu xuống, Thần Khí khôn ngoan và trí tuệ, Thần Khí mưu lược và anh dũng, Thần Khí hiểu biết và kính sợ Giavê” (Is 11:1-2).

Và chính Thần Khí đã tác tạo Thánh Tâm Chúa Giêsu trong biến cố Truyền Tin theo lời Thiên Thần Gabriel nói với Ðức Maria: “Thánh Thần sẽ đến trên người, và quyền năng Ðấng Tối Cao trên người rợp bóng; bởi thế mà trẻ sắp sinh sẽ được gọi là thánh, là Con Thiên Chúa!” (Lc 1:35).

Kinh Cầu Trái Tim Chúa Giêsu nhắc lại sự kiện này trong lời cầu: “Trái Tim Ðức Chúa Giêsu bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần đã dựng nên trong lòng Ðức Mẹ Ðồng Trinh” liền sau lời cầu đầu tiên ghi nhận chức vị là Con Thiên Chúa của Chúa Giêsu: “Trái Tim Ðức Chúa Giêsu Con Ðức Chúa Cha hằng có đời đời.”

Như trong việc tạo thành, “Thần Khí là là trên mặt nước” (Gen 1:2) để tác tạo vạn vật, trong việc nhập thể và cứu chuộc của Chúa Giêsu cũng như trong việc hướng dẫn Hội Thánh và thánh hóa các linh hồn, Thần Khí tiếp tục hiện diện để hoàn tất thánh ý và chương trình yêu thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Vì vậy, mọi tín hữu Chúa Kitô và tất cả những ai có lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu phải chú tâm đặc biệt đến việc sùng kính Chúa Thánh Thần để được Người biến đổi nên giống Chúa Kitô.

__________________________

 

 

 

37- Thần Khí

trong sứ vụ và cuộc đời của Chúa Giêsu

 

Ngay lúc khởi đầu sứ vụ truyền giáo của Chúa Giêsu trong biến cố chịu phép rửa của Thánh Gioan, Thần Khí đã ngự xuống trên Người để xác nhận Người là Ðấng Thiên Sai và là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa:

”Chịu Thanh Tẩy xong, Ðức Giêsu liền lên khỏi nước; và này: trời mở ra, và Ngài thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim câu mà đến trên Ngài. Và này có tiếng từ trời phán: Ngài là Con chí ái Ta, kẻ Ta đã sủng mộ” (Mt 3:16-17).

”Và Gioan đã đoan chứng rằng: ‘Tôi đã trông thấy Thần Khí như chim câu đáp xuống tự trời và đã lưu lại trên Ngài, nhưng Ðấng đã sai tôi đến thanh tẩy bằng nước, chính Người đã nói với tôi: Ngươi thấy Thần Khí đáp xuống và lưu lại trên ai, thì chính Ngài là Ðấng thanh tẩy trong Thánh Thần. Và tôi đã được xem thấy, và xin đoan chứng: Chính Ngài là Ðấng Thiên Chúa chọn” (Jn 1:32-34).

Chính Chúa Giêsu cũng xác nhận rằng Người đón nhận và thi hành sứ mạng của Người qua việc đón nhận Thần Khí. Phúc Âm Thánh Luca thuật về sự kiện này như sau:

”Ngài đến Nazaret, nơi Ngài đã được dưỡng dục, và theo lệ thường của Ngài, thì ngày Hưu lễ, Ngài vào hội đường. Ngài đứng dạy giảng sách. Người ta trao cho Ngài sách tiên tri Isaia; Ngài mở cuốn sách và gặp đoạn có viết rằng: Thần Khí Chúa ở trên tôi, bởi Người đã xức dầu cho tôi, Người đã sai tôi đi đem tin mừng cho người nghèo khó, ban bố ân xá cho kẻ tù đày, cho người đui mù được thấy, cho kẻ bị áp bức được giải oan; loan báo năm hồng ân của Chúa.

”Gấp sách lại, Ngài trả cho người cán sự, đoạn ngồi xuống. Trong hội đường, mắt mọi người đăm đăm nhìn Ngài. Và Ngài lên tiếng nói cùng họ: ‘Hôm nay đã ứng nghiệm đoạn Sách này nơi tai các ngươi” (Lc 4:16-21).

Chẳng những Thần Khí ngự xuống trên Chúa Giêsu khi Người chịu phép rửa ở sông Giođan và sai Người đi loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, Thần Khí còn hướng dẫn mọi sinh hoạt của cuộc đời Chúa Giêsu. Việc chứa đầy Thần Khí trong người và luôn sống theo sự hướng dẫn của Thần Khí là một đặc điểm căn bản của con người Chúa Giêsu. Các tác giả Phúc Âm đã ghi nhận điều ấy nhiều lần:

”Bấy giờ Ðức Giêsu được Thần Khí dẫn vào sa mạc để chịu ma quỉ cám dỗ” (Mt 4:1).

”Ðức Giêsu trở về Galilê, trong quyền năng của Thần Khí và tiếng tăm Ngài lan ra khắp cả vùng xung quanh” (Lc 4:14).

”Ngay bấy giờ, Ngài hân hoan trong Thánh Thần mà nói: ‘Lạy Cha là Chúa trời đất Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu các điều ấy với hạng khôn ngoan thông thái, mà đã mạc khải cho những kẻ bé mọn. Vâng lạy Cha, vì đó là quyết ý của Cha!” (Lc 10:21).

Tất cả mọi lời cầu nguyện của Chúa Giêsu đều là những lời cầu nguyện trong Thần Khí. Người còn nói rằng chỉ trong Thần Khí và nhờ Thần Khí, con người mới có thể dâng lên Thiên Chúa việc thờ phượng xứng hợp: “Thiên Chúa là Thần Khí, nên những kẻ thờ phượng cũng phải thờ phượng trong Thần Khí và sự thật” (Jn 4:24).

Hơn nữa, khi dạy về cầu nguyện, Chúa Giêsu còn cho thấy chính Thần Khí là món quà cao quý nhất mà Chúa Cha sẽ tặng ban cho những người thành tín: “Vậy nếu các ngươi, tuy là ác, còn biết lấy của lành làm quà cho con, thì huống hồ là Cha các ngươi, tự trời, Người sẽ ban Thánh Thần cho những ai xin Người” (Lc 11:13).

Thần Khí chính là sức mạnh của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu, nhờ Thần Khí mà Người đã thực hiện mọi phép lạ. Và mọi phép lạ của Chúa Giêsu đều là những biểu lộ của tình thương Thiên Chúa dành cho nhân loại. Tội nghịch đến Chúa Thánh Thần không gì khác hơn là sự khước từ sức mạnh của tình thương Thiên Chúa, khước từ sự tha thứ của Thiên Chúa và cũng là khước từ chính ơn cứu độ:

”Ví bằng Ta nhờ Thần Khí mà trừ quỉ, thì quả là Nước Thiên Chúa đã đến trên các ngươi” (Mt 12:28).

”Bởi đó Ta bảo các ngươi: mọi tội lỗi và lộng ngôn sẽ tha được cho người ta, còn lộng ngôn đến Thần Khí sẽ không tha được. Và ai nói nghịch đến Con Người, điều đó sẽ tha được cho người ấy; còn ai nói nghịch đến Thánh Thần, điều ấy sẽ không tha được cho người ấy, thời này cũng như thời sẽ đến” (Mt 12:31-32).

Chúa Giêsu còn hứa ban tặng Thần Khí như nguồn sống thần linh cho những ai tin vào Người, như một tặng ân bao gồm mọi ân sủng. Và tặng ân này chỉ được trao ban như hoa trái của cuộc Tử Nạn, Phục Sinh và Thăng Thiên vinh hiển của Chúa Giêsu:

”Vào ngày cuối cuộc lễ, một đại lễ, Ðức Giêsu đứng dậy mà hô lên rằng: ‘Ai khát thì hãy đến với Ta và hãy uống kẻ tin vào Ta’ như lời Kinh Thánh đã nói: Tự lòng ngài có những sông tuôn chảy nước sinh sống. Ðiều ấy, Ngài nói về Thần Khí các kẻ tin vào Ngài sẽ lĩnh lấy, vì Thần Khí chưa có, bởi Ðức Giêsu chưa được tôn vinh” (Jn 7:37-39).

Theo các thánh Giáo Phụ, giây phút Trái Tim Chúa Giêsu bị đâm thâu để cho nước và máu chảy ra khơi nguồn các bí tích trong Hội Thánh, đó chính là lúc Hội Thánh được sinh ra với Chúa Thánh Thần được tặng ban như linh hồn hay căn nguyên sự sống thần linh của Hội Thánh. Chính vì vậy, lòng sùng kính Thánh Tâm luôn được liên kết mật thiết với lòng sùng kính Chúa Thánh Thần:

”Ðến bên Ðức Giêsu, họ thấy Ngài đã chết, thì không đập bể ống chân Ngài, nhưng một người lính lấy đòng đâm cạnh sườn Ngài, và lập tức có máu và nước chảy ra” (Jn 19:34).

________________

 

 

Trước khi từ biệt các môn đệ để đón nhận cuộc Thương Khó và Tử Nạn, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ về Chúa Thánh Thần như một Ngôi Vị là Ðấng đến từ Chúa Cha và Chúa Con, để bầu chữa, ủi an, dạy dỗ, hướng dẫn và trợ giúp các môn đệ:

”Và Ta sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các ngươi một Ðấng bầu Chữa khác, để Ngài ở với các ngươi luôn mãi. Thần Khí sự thật, thế gian không thể lãnh nhận, vì nó không thấy cũng không biết Ngài, còn các ngươi biết Ngài, vì Ngài lưu lại nơi các ngươi và ở trong các ngươi. Ta sẽ không bỏ các ngươi mồ côi, Ta sẽ đến với các ngươi” (Jn 14:16-18).

Thần Khí còn là Ðấng giúp các môn đệ thấu hiểu mọi sự, nhất là những việc làm và lời giảng dạy của Chúa Giêsu. Nhờ vậy, các môn đệ sẽ có thể trình bày Tin Mừng Chúa Kitô một cách trung thực và trọn vẹn:

”Nhưng Ðấng Bầu Chữa, Thánh Thần Cha sẽ sai đến nhân danh Ta, chính Ngài sẽ dạy các ngươi mọi sự, và sẽ nhắc cho các ngươi nhớ lại mọi điều Ta đã nói với các ngươi” (Jn 14:26).

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đệ và giao phó cho họ tiếp tục sứ mạng cứu thế của Người. Như chính Chúa Giêsu đã đón nhận Thần Khí như quyền năng để thi hành sứ vụ của Người, Chúa Giêsu cũng ban tặng họ cùng một Thần Khí để giúp họ thực hiện sứ vụ Người ủy thác:

”Một lần nữa Ngài nói với họ: ‘Bình an cho các ngươi! Cũng như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các ngươi’. Nói thế rồi, Ngài thổi hơi trên họ và nói với họ: ‘hãy chịu lấy Thánh Thần. Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ” (Jn 20:21-23).

Và Phép Rửa mà Chúa Giêsu dạy các môn đệ thực hiện cho những ai tin nhận Người để kết hợp họ với Người trong Nhiệm Thể Người là Hội Thánh phải là phép rửa trong Chúa Thánh Thần, nhân danh Thánh Thần như một Ngôi Vị không thể tách biệt khỏi Chúa Cha và Chúa Con:

”Vậy các ngươi hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, thanh tẩy chúng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy chúng giữ hết mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi. Và này Ta sẽ ở với các ngươi mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:19-20).

 

 

 

38- Thần Khí

trong đời sống các tông đồ

 

Ngay ở những câu đầu Sách Tông Ðồ Công Vụ, tác giả đã giới thiệu các tông đồ như những người được Chúa Giêsu trao ban lời chỉ giáo “mà thể theo Thánh Thần Ngài đã tuyển lựa” (Acts 1:2).

Ðồng thời, tác giả Tông Ðồ Công Vụ đã cho thấy Chúa Giêsu đã chuẩn bị cho các tông đồ đón nhận Thần Khí như sức mạnh giúp họ trở nên những chứng tá đích thực của Người ở trần gian. Và chính sự hiện diện sung mãn của Thần Khí nơi Phép Rửa mà các tông đồ thực hiện là yếu tố phân biệt với phép rửa bằng nước của Gioan.

”Và đang khi đồng bàn với họ, Ngài đã truyền dạy họ chớ rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi điều Cha đã hứa: ‘Như các ngươi đã nghe Ta nói. Vì chưng Gioan đã thanh tẩy bằng nước; còn các ngươi, không mấy ngày nữa, sẽ được Thanh Tẩy bằng Thánh Thần’.

”Những người hội hiệp với nhau đó, mới hỏi Ngài rằng: ‘Lạy Chúa, phải chăng thời này là lúc Ngài khôi phục vương quyền cho Israel?’ Ngài nói cùng họ: ‘Không phải việc các ngươi là biết thời hay buổi Cha đã định do quyền riêng Người, nhưng các ngươi sẽ chịu lấy quyền lực Thánh Thần đến trên các ngươi. Và các ngươi sẽ là chứng tá của Ta ở Giêrusalem, trong toàn cõi Giuđa và Samari, và cho đến mút cùng trái đất’” (Acts 1:4-8).

Lời Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần cho các môn đệ đã được thực hiện trong Lễ Ngũ Tuần. Sách Tông Ðồ Công Vụ thuật lại biến cố này như một sự kiện đem lại sự biến đổi nơi con người và cuộc đời của các tông đồ cách triệt để:

”Khi thời đã mãn, đến lễ Năm Mươi, mọi người cùng nhau đang tề tựu một nơi; thì bỗng xảy ra từ trời một tiếng rào rào như thể cuồng phong thổi đến, vang dậy cả nhà, nơi họ đang ngồi. Và họ thấy những lưỡi như thể là lửa, phân tán dần mà đậu trên mỗi người trong họ. Và hết thảy họ được đầy Thánh Thần, và bắt đầu nói những tiếng lạ, tùy theo Thần Khí ban cho họ phát ngôn” (Acts 2:1-4).

Liền sau khi đón nhận Thần Khí, Thánh Phêrô, người tông đồ đã từng nhát đảm chối Chúa ba lần đã trở thành người đầu tiên mạnh dạn công bố Tin Mừng Phục Sinh, dùng Thánh Kinh để chứng minh Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Thế, và nhìn nhận sự hiện diện của Thần Khí trên các tông đồ:

”Ðức Giêsu đó, Thiên Chúa đã cho sống lại; chúng tôi hết thảy làm chứng về điều ấy. Vậy được nhắc lên bên hữu Thiên Chúa, Người đã lĩnh lấy nơi Cha ơn đã hứa là Thánh Thần mà đổ xuống, đó là điều các ông thấy được và nghe được” (Acts 2:32-33).

Thần Khí không những là Ðấng trợ giúp các tông đồ lên tiếng làm chứng cho Chúa Kitô, Người còn là Ðấng giúp cho những ai nghe các tông đồ tin nhận lời chứng của các ông và được ơn hối cải. Tin nhận Chúa Kitô luôn gắn liền với việc đón nhận Thần Khí. Ðó là điều Thánh Phêrô đã nói với những ai đón nhận lời chứng của ông:

”Hãy hối cải, và mỗi người hãy chịu thanh tẩy nhân Danh Ðức Giêsu Kitô để được tha thứ tội lỗi, và các ngươi sẽ được lĩnh ơn Thánh Thần. Vì lời hứa được ban cho các người, và con cái các người, cùng mọi kẻ xa gần, hết mọi người, Chúa, Thiên Chúa chúng ta đã kêu gọi”(Acts 2:38-39).

Thánh Phaolô cũng xác quyết rằng niềm tin vào Chúa Giêsu là hiệu quả của sự hiện diện của Thần Khí nơi người tin khi ngài viết: “Và không ai có thể nói: Giêsu là Chúa! mà lại không phải bởi sức của Thánh Thần” (1Cor 12: 3). Sự hiện diện của Thần Khí nơi người tín hữu là một điều kiện tuyệt đối phải có để họ thực sự thuộc về Chúa Kitô: “Nhưng anh em không theo xác thịt, mà là Thần Khí, nếu thực có Thần Khí Thiên Chúa cư ngụ trong anh em. Ai không có Thần Khí Ðức Kitô, kẻ ấy không thuộc về Ngài” (Rom 8:9).

Thiên Chúa sẽ dùng Thần Khí để thực hiện việc tác tạo và đổi mới nơi những người tin vào Chúa Giêsu theo cùng một cách thức màNgười đã thực hiện nơi cuộc Phục Sinh của Ðức Kitô: “Nếu Thần Khí của Ðấng đã cho Ðức Giêsu sống lại từ cõi chết cư ngụ trong anh em, thì Ðấng đã cho Ðức Giêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ tác sinh thân xác chết dở của anh em, nhờ bởi Thần Khí của Người cư ngụ nơi anh em” (Acts 8:11).

Thần Khí vừa là Ðấng làm phát sinh niềm tin vào Chúa Kitô nơi người tín hữu, vừa là Ðấng mà Thiên Chúa đã đặt vào lòng họ để họ có được tình thảo mến đối với Người. Chính Thần Khí là Ðấng giúp họ biết duy trì và phát triển tình tâm giao với Thiên Chúa qua việc cầu nguyêän một cách đẹp lòng Thiên Chúa. Và chính Người cũng bảo đảm cho họ được trở thành thừa tự của Thiên Chúa:

”Vì chưng phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa dẫn đưa, thì họ là con cái Thiên Chúa. Quả thế, không phải thần khí của hàng nô lệ là điều anh em đã chịu lấy, để mà phải sợ hãi. Nhưng anh em đã chịu lấy Thần Khí của hàng nghĩa tử; nhờ đó ta kêu lên: Abba, lạy Cha! Chính Thần Khí chứng thực cho thần hồn ta rằng: ta là con cái Thiên Chúa; mà nếu là con, thì cũng là kẻ thừa tự của Thiên Chúa, và đồng thừa tự với Ðức Kitô, một khi ta cùng cam chịu khổ với Ngài, để rồi cũng sẽ chia phần vinh hiển với Ngài” (Rom 8:14-17).

 

”Cũng vậy, Thần Khí đỡ đần tình cảnh yếu hèn của ta. Vì cầu nguyện thế nào cho phải, ta nào có biết. Song chính Thần Khí chuyển cầu cho ta, bằng những tiếng rên khôn tả. Nhưng Ðấng dò thấu lòng dạ biết hứng của Thần Khí, Người biết Thần Khí chuyển cầu cho các thánh rập theo ý Thiên Chúa” (Rom 8:26-27).

Sách Tông Ðồ Công Vụ nhiều lần trình bày cộng đoàn Hội Thánh tiên khởi như công đoàn của những người được đầy Thánh Thần. Và sự hiệp nhất của các tín hữu thời ấy được coi như hiệu quả của sự hiện diện của Thần Khí nơi họ:

”Họ cầu nguyện rồi, thì chỗ họ nhóm hội rung chuyển, và hết thảy, họ được đầy Thánh Thần; họ cứ ngang nhiên nói Lời Thiên Chúa. Ðoàn lũ những kẻ tin chỉ có một tấm lòng, một linh hồn. Không một người nào nói là mình có của gì riêng, nhưng đối với họ mọi sự đều là của chung” (Acts 5:31-32).

Khi làm chứng cho Chúa Giêsu trước Công Nghị Do Thái, Thánh Phêrô đã xác nhận Thần Khí là Ðấng cùng làm chứng với ngài:

”Phải vâng phục Thiên Chúa hơn là người ta! Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã cho Ðức Giêsu sống lại, kẻ các ông đã sát hại, là treo lên cây gỗ. Người ấy, như Vị khơi nguồn, như Ðấng Cứu tinh, Thiên Chúa đã nhắc lên bên hữu Người, để ban cho Israel ơn hối cải và tha tội. Về các điều ấy, chúng tôi đây là chứng nhân cùng với Thánh Thần Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng phục Người” (Acts 5:29-32).

Cũng như Chúa Giêsu đã nhờ Thần Khí mà thực hiện những phép lạvà dùng Thánh Kinh để giảng dạy, các tông đồ và các chứng nhân tiên khởi như Stêphanô cũng nhờ Thần Khí để thực hiện biết bao phép lạ và dùng Thánh Kinh để làm chứng về Chúa Kitô:

”Do tay các tông đồ, lắm dấu lạ điềm thiêng đã xảy ra trong dân” (Acts 5:12).

”Stêphanô, một người đầy lòng tin và Thánh Thần.Stêphanô đầy ân sủng và quyền năng, đã làm những điềm thiêng và dấu lạ cả thể trong dân.Nhưng họ không có sức cự lại sự khôn ngoan và Thần Khí làm cho ông nói.Ðược đầy Thánh Thần, ông trực thị ngó lên trời và được thấy vinh quang Thiên Chúa cùng Ðức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa.” (Acts 6:5,8,10; 7:55).

 

Việc đón nhận Thần Khí qua việc đặt tay cầu nguyện của các tông đồ được coi như một việc giúp kiện toàn niềm tin vào Chúa Kitô nơi những ai đã đón nhận Lời Thiên Chúa: “Các tông đồ ở Giêrusalem nghe tin xứ Samari đã đón nhận lời Thiên Chúa thì sai Phêrô và Gioan đến với họ. Các ngài xuống và đã khẩn nguyện cho họ được chịu lấy Thánh Thần. Vì Thánh Thần chưa xuống trên ai trong họ, họ mới chỉ được thanh tẩy nhân Danh Chúa Giêsu. Bấy giờ các ngài đặt tay cho họ, và họ đã được chịu lấy Thánh Thần” (Acts 8:14-17).

Như Thần Khí đã hướng dẫn các hoạt động của Chúa Giêsu khi Ngài sống trên trần gian, Thần Khí tiếp tục hướng dẫn các sinh hoạt truyền giáo của Hội Thánh như thế và cùng hoạt động với các tông đồ để củng cố niềm tin của các ông và làm cho Hội Thánh ngày thêm vững mạnh. Và các tông đồ được trình bày như những con người luôn luôn tuyệt đối vâng theo sự hướng dẫn của Thần Khí:

”Phêrô còn đang nói các điều ấy, thì Thánh Thần đã xuống trên mọi kẻ đang nghe Lời” (Acts 10:44).

”Thần khí phán bảo tôi (Phêrô) phải đi với họ đừng ngần ngại gì” (Acts 11:12).

”Tôi (Phêrô) vừa mới bắt đầu nói thì Thánh Thần đã xuống trên họ, cũng một thể như trên chúng ta lúc ban đầu. Tôi đã nhớ lại lời Chúa, như Ngài phán: Gioan đã thanh tẩy bằng nước, còn các ngươi sẽ được thanh tẩy bằng Thánh Thần” (Acts 11:15-16).

”Lần kia nhân lúc họ phụng sự Chúa, và ăn chay, Thánh Thần đã phán: ‘Hãy tách riêng Barnaba và Saulô ra cho ta, để sung vào việc Ta đã kêu gọi chúng làm’” (Acts 13:2). “Vậy các ông (Barnaba và Saulô) được Thánh Thần sai đi thì đã xuống Sêlêukia, rồi từ đó vượt biển qua Kyprô. Ðến Salamin, các ông đã loan báo Lời Thiên Chúa trong các Hội đường Do thái” (Acts 13:4).

”Các ông đi qua Phrygia và vùng Galát, vì Thánh Thần ngăn cản không cho giảng Lời ở Tiểu Á. Ðến sát vùng Mysia, các ông thou đi vào Bithynia, nhưng Thần Khí của Ðức Giêsu không cho phép nên các ông đã xuyên qua Mysia mà xuống Trôa” (Acts 16:6-8).

Theo Thánh Phaolô, tất cả những cố gắng trong việc thực hành niềm tin vào Ðức Kitô hay đời sống luân lý Kitô giáo phải được xem như những nỗ lực nhằm chống lại những khuynh hướng nhằm thỏa mãn những đam mê thấp hèn của xác thịt để sống theo những điều tốt lành thánh thiện do Thần Khí gợi hứng và nhờ sức mạnh của cùng một Thần Khí. Ðời sống Kitô hữu hoàn hảo phải là một đời sống được hướng dẫn bởi Thần Khí và tràn đầy hoa trái của Thần Khí:

”Tôi xin nói là: hãy bước đi theo Thần Khí, và anh em sẽ không làm thỏa đam mê xác thịt. Vì xác thịt có những đam mê chống lại Thần Khí; và Thần Khí có những đam mê chống lại xác thịt, đôi đàng cự lại nhau, khiến anh em không thể hễ muốn gì là làm được. Nhưng nếu anh em để Thần Khí dẫn đi, anh em không phải chịu quyền Lề Luật. Mà đã rõ việc vàn của xác thịt, tức là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, ma thuật, hằn thù, kình địch, ganh tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè đảng, ganh tị, say sưa, chè chén và các điều khác giống như vậy. Và tôi bảo trước cho anh em hay, như tôi đã từng bảo rồi, là những kẻ làm những điều ấy sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp!

”Còn hoa quả của Thần Khí là: mến yêu, vui mừng, bình an, rộng rãi, tốt lành, lương thiện, tín trực, hiền từ, tiết độ. Không có luật nào chống lại các điều ấy. Những ai thuộc về Ðức Kitô thì đã đóng đanh xác thịt vào thập giá, làm một với các tình dục và đam mê. Nếu sống bởi Thần Khí, thì ta cũng hãy hướng theo Thần Khí mà tiến bước!” (Gal 5:16-25).

 

 

 

39- Sống theo Thần Khí

 

Vì Thần Khí có một vai trò tuyệt đối cần thiết trong đời sống đức tin Kitô giáo, những người thực hành lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu đích thực phải luôn cố gắng sống theo sự hướng dẫn của Thần Khí. Người ta không thể đạt đến mục đích của lòng sùng kính Thánh Tâm là có được “tâm tư như đã có nơi Ðức Kitô” (Phil 2:5) nếu không được chính Thần Khí của Người hướng dẫn.

 

 

Cha Jean Croiset, SJ., linh hướng của Thánh Margarita Maria Alacoque, trong cuốn Thực Hành Lòng Sùng Kính Thánh Tâm, vạch ra 4 thái độ căn bản cần phải có nơi những ai sùng kính Thánh Tâm. Ðó là:

  1. một sự ghê tởm gớm ghét đối với tội lỗi
  2. một đức tin sống động
  3. một lòng khao khát yêu mến Chúa Giêsu Kitô thật nồng nàn
  4. một tinh thần hồi tâm cầu nguyện

 

Cả 4 thái độ này xét cho cùng đều góp phần giúp ta dễ dàng sống theo Thần Khí.

 

Cha Jean Croiset, SJ. cũng nói đến 4 trở ngại khiến ta không thể thực hành lòng sùng Kính Thánh Tâm một cách đúng đắn. Ðó là:

•     thái độ dửng dưng nguội lạnh lòng tự ái tính kiêu ngạo thầm kín những đam mê vô độ.

 

Cả 4 trở ngại này khiến người ta dễ buông thả theo tính xác thịt nên không thể sống theo Thần Khí.

 

Thánh Louis Maria Montfort nhấn mạnh đến lòng biệt kính Mẹ Maria như một bí quyết tuyệt hảo để được tràn đầy Chúa Thánh Thần. Ngài viết: “Chúa Thánh Thần càng thấy Maria, Bạn Chí Ái của Người, ở trong linh hồn nào, Người càng nỗ lực hoạt động để làm cho Chúa Kitô được thành hình và lớn lên trong linh hồn ấy.”

Các thánh giáo phụ nói đến việc yêu mến, vâng phục và hiệp thông với Hội Thánh như một điều kiện để được sống trong Thần Khí. Thánh Augustinô viết: “Bạn không thể có được Chúa Thánh Thần, nếu bạn ở ngoài Hội Thánh là Thân Mình Chúa Kitô.” Thánh Ambrose viết: “Nơi nào có sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, nơi có Hội Thánh.”

 

Một tác giả đề nghị chúng ta nên siêng năng suy nghĩ, cầu xin và sống theo các ơn Chúa Thánh Thần bằng việc dành mỗi ngày trong tuần để tôn kính và cầu xin một ơn Chúa Thánh Thần như sau:

 

Chúa Nhật: Xin ơn khôn ngoan để biết tìm Chúa trước tiên, yêu Chúa trên hết và biết nhìn mọi việc với cái nhìn của Chúa.

 

Thứ Hai: Xin ơn thông minh để biết cảm nhận các chân lý đức tin tự đáy lòng, sống theo các chân lý ấy và biết cách trình bày các chân lý ấy cho người khác.

 

Thứ Ba: Xin ơn biết lo liệu để biết sắp đặt mọi sinh hoạt trong đời sống hàng ngày đúng theo thánh ý và chương trình yêu thương của Chúa.

 

Thứ Tư: Xin ơn sức mạnh để nhẫn nại chịu đựng những khó khăn, đau khổ, thử thách trong cuộc sống hàng ngày và đủ can đảm thực hiện tất cả những yêu sách của Tin Mừng.

 

Thứ Năm: Xin ơn hiểu biết để nhìn thấy Chúa trong mọi người, mọi việc, mọi biến cố trong đời sống hàng ngày và biết thoát ly mọi tạo vật để kết hợp với Chúa.

 

Thứ Sáu: Xin ơn đạo đức để luôn đến với Chúa bằng tình con thảo và đến với mọi người bằng tình huynh đệ chân thành.

 

Thứ Bảy: Xin ơn kính úy để biết luôn sống với ý thức về sự hiện diện đầy thánh thiện, uy quyền và thương yêu của Chúa, để gắng sốáng đẹp lòng Chúa và thà chết chẳng thà phạm tội làm mất lòng Chúa.

 

Nhiều người có thói quen đọc bảy Kinh Kính Mừng mỗi ngày để kính Bảy Sự Thương Khó Ðức Mẹ và nhờ Mẹ chuyển cầu cho được đầy tràn Bảy Ơn Chúa Thánh Thần.

Vai trò tuyệt đối cần thiết của Chúa Thánh Thần trong việc sùng kính Thánh Tâm được nhắc đến một cách thật thích đáng trong kinh sau:

***

Kinh Dâng Mình

Cho Thánh Tâm Chúa Giêsu

 

Lạy Rất Thánh Trái Tim Chúa Giêsu, con nhờ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria mà dâng mình cho Rất Thánh Trái Tim Chúa.

Xin Chúa nhận lấy trót cả con người con và biến đổi con nên chính Chúa. Xin làm cho đôi tay con nên đôi tay Chúa, đôi chân con nên đôi chân Chúa, trái tim con nên trái tim Chúa. Xin cho con nhìn với đôi mắt Chúa, nghe với đôi tai Chúa, nói với đôi môi Chúa, yêu với trái tim Chúa, hiểu với tâm trí Chúa, phục vụ với ý chí Chúa và tận hiến cho Chúa với trót cả con người con. Xin làm cho con nên một Kitô khác.

Lạy Rất Thánh Trái Tim Chúa Giêsu, xin ban cho con Thần Khí Chúa để dạy con yêu mến Chúa và chỉ sống nhờ Chúa, với Chúa, trong Chúa và cho Chúa mà thôi.

Lạy Chúa Thánh Thần xin ngự đến và làm cho thân xác con thành đền thờ của Chúa. Xin ngự đến và ở lại cùng con luôn mãi. Xin ban cho con tình yêu sâu thẳm nhất dành cho Thánh Tâm Chúa Giêsu để con phụng sự Người với trọn cả tấm lòng, trọn cả linh hồn, trọn cả trí khôn và trọn cả sức lực con. Xin Chúa làm chủ tất cả các quan năng của xác hồn con. Xin điều chế mọi dục tình, cảm xúc và tình cảm trong con. Xin Chúa làm chủ trí khôn, trí hiểu và ý chí của con; trí tưởng tượng và trí nhớ của con.

Ôi Thần Linh Thánh Ái, xin ban cho con tràn đầy các ân sủng linh nghiệm của Chúa. Xin ban cho con đong đầy mọi nhân đức. Xin bồi dưỡng đức tin, củng cố đức cậy, gia tăng tín thác và đốt lên lửa mến trong con. Xin ban cho con đầy đủ bảy tặng ân, hoa trái và phúc lộc của Chúa.

Lạy Chúa Ba Ngôi Cực Thánh, xin làm cho linh hồn con nên cung thánh của Chúa. Amen.

_____________________

 

 

 

40- HỘI THÁNH:

 

 GIA NGHIỆP CỦA THÁNH TÂM

 

Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR.

 

Mục đích của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là giúp người tín hữu có một tình yêu thiết thân nồng nàn đối với Chúa Giêsu và kết hợp mật thiết với Người. Thế nhưng tương quan thiết thân này chỉ có thể được thực hiện cách trọn hảo trong lòng Hội Thánh. Vì niềm tin Công Giáo không phải chỉ có tính cách thiết thân nhưng còn có tính cách cộng đồng: Tôi đích thân tin Chúa Kitô, nhưng tôi tin như Hội Thánh tin, tin với Hội Thánh, tin nhờ Hội Thánh và tin trong Hội Thánh.

Thật vậy, trong sự quan phòng đầy tình thương và khôn ngoan Thiên Chúa đã thiết lập Hội Thánh như một cộng đồng bao gồm tất cả những ai đặt niềm tin vào Người và đón nhận ơn cứu độ nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô qua mọi thời đại. Chân lý này đã được Thánh Giáo Phụ Irênê nhận định chính xác như sau: “Ngoài Hội Thánh không có ơn cứu độ.”

 

Ðối tượng của lòng thương xót và sự ưu tuyển của Giavê

Trong Cựu Ước, Dân Do thái, dân tộc đã được Thiên Chúa tuyển chọn bằng lời hứa và giao ước với các tổ phụ và các ngôn sứ chính là hình ảnh của Hội Thánh Chúa Kitô. Họ là đối tượng của lòng thương xót Chúa, được Chúa ở gần, hướng dẫn họ, dạy dỗ họ, gìn giữ họ, bênh vực họ, thánh hóa họ và chuẩn bị cho họ đón nhận Ðấng Cứu Thế. Người là Thiên Chúa của họ, và họ là dân của Người.

Giavê đã hứa với Tổ Phụ Abraham: “Hãy đi khỏi xứ sở ngươi, khỏi quê quán ngươi, khỏi nhà cha ngươi, đến đất Ta chỉ cho ngươi. Ta sẽ cho ngươi thành một dân lớn, Ta sẽ chúc lành cho ngươi, và Ta sẽ cho danh ngươi nên lớn lao, ngươi sẽ là một mối chúc lành” (Gen 12:1-2).

Sau đó Người lập lại giao ước với Isaác: “Ta sẽ giữ lời Ta đã thề với Abraham cha ngươi. Ta sẽ cho dòng giống ngươi nên đông đảo như sao trên trời, Ta sẽ ban cho dòng giống ngươi tất cả các xứ này. Mọi dân thiên hạ sẽ lấy dòng giống ngươi mà cầu phúc cho nhau, bởi chưng Abraham đã vâng nghe lời Ta và đã giữ trọn đạo với Ta, các luật điều, các thánh chỉ của Ta” (Gen 26:3-5).

Sau Isaác, Tổ Phụ Giacóp cũng được đón nhận lời hứa của Giavê: “Ta là Giavê, Thiên Chúa của Abraham cha ngươi, Thiên Chúa của Isaác. Ðất ngươi đang nằm Ta sẽ ban cho ngươi và dòng giống ngươi. Dòng giống ngươi sẽ đông như cát bụi bành trướng ra Ðông Tây Nam Bắc. Mọi tông tộc trên trần sẽ lấy ngươi mà cầu phúc cho nhau. Và này Ta sẽ ở cùng ngươi, Ta sẽ giữ gìn ngươi khắp nơi ngươi đi, Ta sẽ đem ngươi về lại đất đai này, vì Ta không bỏ ngươi, sao cho đến lúc Ta hoàn tất các điều Ta phán với ngươi” (Gen 28:13-15).

Sau khi giải thoát dân Dothái khỏi cảnh nô lệ, một lần nữa Giavê Thiên Chúa đã ký giao ước với Israel qua trung gian Môsê. Sách Xuất Hành thuật lại: “Rồi ông lấy quyển giao ước và đọc vào tai dân. Họ nói ‘Mọi điều Giavê đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và nghe theo’. Môsê lấy huyết mà rẩy trên dân. Ông nói: ‘Này là máu của giao ước đã kết với các ngươi, thể theo mọi lời ấy’” (Ex 24:7-8).

Môsê đã ân cần nhắc nhở dân chúng về sự ưu tuyển Thiên Chúa dành cho họ khi Người ở gần họ, ở giữa họ và hướng dẫn họ với thánh luật quang minh như sau: “Vì có dân nào lớn lao đến nỗi được thần ở gần mình như Giavê Thiên Chúa của chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu lên với Người. Và có dân nào lớn lao đến nỗi có được những luật điều, phán quyết công minh như toàn thể luật này ta đặt trước mặt các ngươi hôm nay” (Deut 4:7-8). Sự ưu tuyển này đòi hỏi Israel phải trở nên thánh thiện để đáp lại ân tình của Giavê: “Các ngươi sẽ là chư thánh của Ta, vì Ta là Thánh. Ta là Giavê, Ta đã tách các ngươi ra khỏi muôn dân, để được thuộc về Ta” (Lv 20:26).

Lời giao ước với dân Israel được Thiên Chúa lập lại với Thánh Vương Ðavít: “Nhà ngươi, vương quyền của ngươi sẽ kiên cố mãi mãi trước mặt Ta, ngai ngươi sẽ vững bền mãi mãi” (2 Samuel 7:16). Và Vua Ðavít đã thưa với Giavê: “Người đã thiết lập Israel dân Người, cho chúng làm dân của Người mãi mãi, và Người, lạy Giavê, Người làm Thiên Chúa của chúng” (2 Samuel 7:24).

Thánh Vịnh Gia cũng ca ngợi sự chăm sóc thật chu đáo, đầy tình thương và quyền năng Giavê Thiên Chúa dành cho bản thân ngài cũng như dành cho toàn dân thánh như sau: “Giavê chăn dắt tôi, tôi không thiếu gì.” (Tv 13) và “Lạy Thiên Chúa, đường của Người, con đường thánh, thần nào lớn bằng Thiên Chúa? Chính Người là Thần làm sự lạ, Người đã cho các dân thấy uy lực của Người, giương cánh tay Người đã chuộc dân Người, con cái Giacóp và Giuse.Người dẫn dân như thể đàn chiên, nhờ tay Môsê và Aharon” (Tv 77:14-16,21).

Trong lời kết, Tác giả Sách Khôn Ngoan nhìn nhận sự ưu tuyền của Thiên Chúa dành cho Israel là căn bản cho sự vinh hiển lớn lao của họ:

”Quả thế, lạy Chúa đủ mọi cách, Người đã làm cho dân Người nên lớn lao vinh hiển, Người đã chẳng khinh màng, nhưng mọi thời mọi nơi, Người đã phù hộ” (Wis 19:22).

Công việc chính của tất cả các ngôn sứ trong Cựu Ước đều hướng đến việc nhắc nhở dân Israel phải ghi nhớ rằng họ là một dân được Giavê ưu tuyển, một dân tộc đã có giao ước với Giavê và phải giữ vẹn giao ước ấy qua việc tuân giữ các giới răn của Người. Dù đã chứng kiến bao điềm thiêng dấu lạ, đã tận hưởng vô vàn phúc lộc của Giavê, dân Israel vẫn không ngừng bất trung với Giavê.

Trước sự bất trung của Israel, Thiên Chúa vẫn một mực thủy chung. Hơn nữa, Người còn muốn thi thố tình yêu của Người dành cho dân Người một cách trọn hảo hơn, nên Người đã hứa sẽ thiết lập với họ một giao ước mới, một giao ước vĩnh cửu để họ mãi mãi thuộc trọn về Người và tận hưởng sung mãn nguồn ơn phúc của Người:

”Vì này là giao ước Ta sẽ kết với nhà Israel sau những ngày ấy—sấm của Giavê—Ta đã đặt luật Ta vào bên trong chúng và Ta sẽ vết trên tim lòng chúng; và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng, chúng sẽ là dân của Ta.Ta sẽ kết với chúng một giao ước muôn đời, do đó Ta sẽ không ngừng theo dõi chúng để gây hạnh phúc cho chúng; Ta sẽ đặt sự kính sợ Ta nơi lòng chúng, để chúng không còn lìa bỏ Ta. Ta sẽ vui sướng mà gây hạnh phúc cho chúng và một cách chân thật, Ta sẽ đem hết lòng, hết sinh mạng Ta mà trồng chúng trong xứ này” (Jer. 31:33; 32:40-41).

Giao ước này còn có tính cách thiết thân và độc đáo như một hôn ước:

”Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ,

Ðấng xây dựng ngươi sẽ cùng ngươi kết nghĩa giao duyên.

Như tân lang hoan hỉ nơi một tân nương’

Người sẽ hoan hỉ nơi ngươi, Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62:5).

Và Giavê đã đặt Ðấng Cứu Thế mà Người hứa ban cho nhân loại từ dân thánh Israel làm giao ước vĩnh cửu này: “Chính Ta đã gọi ngươi phò đức nghĩa, Ta nắm tay ngươi, Ta đã nắn ra ngươi, và đã đặt ngươi làm giao ước của dân, làm ánh sáng các nước. Ðể mở những mắt mù lòa, để đưa tù nhân ra khỏi nhà lao, khỏi ngục thất, dân cư bóng tối” (Is 42:6-7).

__________________________

 

 

 

 

 

41- Gia nghiệp của Thánh Tâm

 

Lời hứa ban Ðấng Cứu Thế làm giao ước vĩnh cửu giữa Thiên Chúa và loài người đã được thực hiện nơi biến cố Truyền Tin, khi Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể trong lòng Ðức Trinh Nữ Maria. Dân mới của Giavê Thiên Chúa đã bắt đầu hình thành nơi Chúa Giêsu Kitô, một dân bao gồm tất cả những người đặt niềm tin vào Người và hiệp nhất với Người nhờ ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần.

Chúa Giêsu đã đích thân thiết lập Hội Thánh để tiếp tục công trình cứu độ của Người qua mọi thời đại qua việc tuyển chọn 12 tông đồ, 72 môn đệ và đặt Phêrô thay mặt Người nắm quyền thủ lãnh của Hội Thánh:

”Simon, con Giona, con có phúc, vì không phải thịt máu đã mạc khải cho con, mà là Cha Ta, Ðấng ngự trên trời! Và Ta, Ta bảo con: ‘Con là Ðá, và trên Ðá ấy, Ta sẽ xây Hội Thánh của Ta, và quyền môn Âm phủ sẽ không thắng nổi. Ta sẽ trao cho ngươi chìa khóa Nước Trời, và điều gì dưới đất ngươi cầm buộc, thì cũng sẽ bị cầm buộc trên trời, và điều gì dưới đất ngươi tháo cởi, thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời” (Mt 16:17-19).

Ðối với Chúa Giêsu, các môn đệ và các tín hữu là những người được chính Chúa Cha đặc tuyển làm quà tặng tình yêu dành cho Người. Họ không thuộc về thế gian. Chúa Giêsu yêu mến họ thiết tha. Người đã xin Chúa Cha thánh hóa các môn đệ và chính thức ủy thác họï sứ mạng rao giảng Tin Mừng như chính Người đã lãnh nhận từ Chúa Cha. Người còn thiết tha cầu nguyện cho họ và hết thảy những ai nghe họ để họ hiệp nhất với nhau trong Chúa Ba Ngôi mà làm chứng cho Chúa. Hơn nữa, Người còn ban tặng cho họ vinh quang của chính Người và cho họ được ở luôn bên Người:

”Chúng không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian. Xin hãy tác thánh chúng trong sự thật: lời của Cha tức là sự thật. Như Cha đã sai Con đến trong thế gian, Con cũng sai chúng đến trong thế gian. Và vì chúng, Con xin hiến thánh mình Con, ngõ hầu chúng được tác thánh cách chân thật. Con không chỉ cầu cho chúng mà thôi, nhưng còn cho những kẻ nhờ lời chúng mà sẽ tin vào Con, để hết thảy chúng nên một, cũng như, lạy Cha, Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, ngõ hầu chúng ở trong Chúng Ta, và thế gian tin là Cha đã sai Con. Phần Con, Con đã ban cho chúng vinh quang Cha đã ban cho Con để chúng nên một như Chúng Ta là một: Con ở trong Cha và Cha ở trong Con, để chúng được hoàn toàn nên một, ngõ hầu thế gian biết là Cha đã sai Con, và đã yêu mến chúng, như Cha đã yêu mến Con. Lạy Cha, điều Cha đã ban cho Con, thì Con muốn là Con ở đâu, chúng cũng ở đó với Con để chúng được ngắm vinh quang của Con, mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu mến Con từ trước tạo thiên lập địa” (Jn 17:16-24).

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã ban cho các môn đệ Thần Khí của Người để họ được quyền tha tội và tiếp tục sứ vụ cứu thế của Người ở trần gian . Và trước lúc lên trời, Người đã chính thức trao phó cho họ sứ mạng rao giảng Tin Mừng khắp nơi và hứa ở với họ mọi ngày cho đến tận thế:

”‘Bình an cho các ngươi! Cũng như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các ngươi.’ Nói thế rồi, Ngài thổi hơi trên họ và nói với họ: ‘Hãy chịu lấy Thánh Thần. Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ” (Jn 20:21-22).

”Mọi quyền năng trên trời dưới đất được ban cho Ta. Vậy các ngươi hãy đi thâu nạp môn đồ khắp nơi, thanh tẩy chúng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy chúng mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi. Và này Ta sẽ ở với các ngươi mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:18-20).

Chúa Giêsu còn đồng hóa với các môn đệ của Người khi họ thi hành sứ vụ chính Người đã ủy thác cho họ. Và Người hứa ban thưởng cho những ai làm ơn cho các môn đệ của Người:

”Kẻ tiếp đón các ngươi là tiếp đón Ta; và kẻ tiếp đón Ta là tiếp đón Ðấng đã sai Ta. Kẻ tiếp đón một tiên tri vì danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ lãnh phần thưởng của tiên tri, và kẻ tiếp đón người công chính vì danh nghĩa là công chính, thì sẽ lãnh phần thưởng của người công chính. Kẻ nào cho một người trong những kẻ bé mọn này uống một bát nước lã mà thôi vì danh nghĩa là môn đồ, thì quả thật, Ta bảo các ngươi: nó sẽ không mất phần thưởng của nó” (Mt 10:40-42).

Vì vậy, các tông đồ và môn đệ của Chúa Giêsu có thể được coi là những ngôn sứ thời Tân Ước, như các ngôn sứ của Giavê đáng được gọi là những tông đồ thời Cựu Ước.

Cũng thế, những hình ảnh được dùng trong Cựu Ước để diễn tả liên hệ yêu thương giữa Giavê và dân thánh Israel đã được Chúa Giêsu dùng để diễn tả liên hệ yêu thương giữa Người và Hội Thánh:

”Người chăn chiên tốt, chính là Ta! Người chăn chiên tốt thí mạng sống mình vì chiên. Người chăn chiên tốt chính là Ta! Ta biết các chiên Ta, và chiên của Ta biết Ta. Như Cha biết Ta, và Ta biết Cha và Ta thí mạng sống Ta vì đàn chiên. Ta còn những chiên khác nữa, không thuộc ràn này; các chiên ấy Ta cũng phải chăn dắt, và chúng sẽ nghe tiếng Ta; và sẽ thành một đàn chiên, một chủ chiên” (Jn 10:11,14-16).

”Cây nho đích thật, chính là Ta và Cha Ta là Người canh tác. Nhánh nào trong Ta không sinh quả, Người chặt nó đi; còn nhánh nào sinh quả, thì Người tỉa sạch để nó sinh quả nhiều hơn.Cây nho, chính là Ta, các ngươi là nhánh. Ai lưu lại trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy, thì nó sinh nhiều quả, vì ngoài Ta, các ngươi không thể làm gì” (Jn 15:1-2,5).

Như vậy, tình yêu và tấm lòng của Giavê Thiên Chúa dành cho dân thánh Israel nay đã được nhập thể sống động nơi chính tình yêu và tấm lòng của Chúa Giêsu dành cho Hội Thánh. Ðó là một tình yêu tận tuyệt, tình yêu hiệp nhất, tình yêu giao ước.

”Trước lễ Vượt qua, Ðức Giêsu biết rằng đã đến giờ Ngài qua khỏi thế gian này để đến cùng Cha—đã mến yêu các kẻ thuộc về Ngài còn trong thế gian—thì Ngài đã yêu mến họ đến cùng” (Jn 13:1).

”Như Cha đã yêu mến Ta, Ta đã yêu mến các ngươi. Hãy lưu lại trong lòng mến của Ta.Không có lòng mến nào lớn hơn là thí mạng sống mình vì bạn hữu.Các con là bạn hữu của Ta nếu các ngươi làm điều Ta truyền dạy các ngươi” (Jn 15:9,13,14).

”Và Ngài nói với họ: ‘Này là Máu Ta, Máu giao ước đổ ra vì nhiều người” (Mc 14:23).

Như dân thánh Israel từng được Giavê Thiên Chúa nhận là gia nghiệp riêng của Người dù Người là Chúa Tể vạn vật, Hội Thánh cũng được Chúa Giêsu đón nhận từ Chúa Cha như gia nghiệp hết sức quý yêu của riêng Người, được chuộc bằng giá Máu của chính Người và mãi mãi là đối tượng của tình yêu tuyệt đối của Thánh Tâm Người, như chính Người đã xác nhận: “Vì kho tàng các ngươi ở đâu, thì lòng các ngươi cũng ở đó” (Lc 12:34).

________________

 

 

42- Nhiệm Thân Chúa Kitô

 

Người tông đồ đích thực của Chúa Kitô phải là người có được tâm tư như đã có nơi Người (Phil 2:5). Thánh Phaolô Tông Ðồ Dân Ngoại—người được gọi là có trái tim giống hệt Trái Tim Chúa Giêsu—có lẽ là vị tông đồ được ơn hiểu biết và diễn giảng về mầu nhiệm Hội Thánh và có một tình yêu dành cho Hội Thánh một cách sâu xa và trọn hảo hơn cả.

Khi Thánh Phaolô bị quật ngã trên đường đi Ðama lùng bắt các tín hữu tiên khởi, Người nghe Chúa Giêsu phán: “Saolê, Saolê, tại sao ngươi bắt bớ Ta” (Acts 9:3). Từ kinh nghiệm này, Thánh Phaolô đã nhận ra sự kết hiệp mầu nhiệm thẳm sâu giữa Chúa Giêsu và Hội Thánh. Thánh nhân đã dùng hình ảnh giữa Ðầu và Thân Mình để diễn tả tương quan gắn bó mật thiết giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Căn nguyên sự hiệp nhất chính là sự hiện diện của Thần Khí, nguyên lý hiệp nhất nơi chính Chúa Ba Ngôi. Từ sự hiểu biết này, Thánh Phaolô mời gọi các tín hữu sống tinh thần yêu thương hiệp nhất, biết trân quý các ơn điển khác nhau nơi mỗi người và xử dụng các ơn riêng của mỗi người để xây dựng Hội Thánh, Thân Mình Chúa Kitô:

”Vì cũng như thân mình chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, và hết thảy các bộ phận tuy là nhiều cũng chỉ là một thân mình, thì Ðức Kitô cũng vậy. Vì trong Thần Khí độc nhất, hết thảy Ta được nhờ thanh tẩy mà nhập vào Thân mình độc nhất, dù là Dothái hay Hilạp, dù là nô lệ hay tự do; và hết thảy chúng ta đã được cùng uống Thần Khí độc nhất” (1Cor 12:12-14).

”Vì cũng như nơi thân mình ta, tuy nó là một, thế mà ta lại có nhiều chi thể, và các chi thể hết thảy lại không đồng một công việc. Cũng vậy, chúng ta tuy nhiều người, ta chỉ là một thân mình trong Ðức Kitô, còn thì ai tùy phận nấy, mà làm chi thể lẫn cho nhau. Ðược những ân lộc khác nhau, tùy theo ơn Thiên Chúa đã ban cho ta, thì nếu là tiên tri, hãy làm tiên tri theo mức độ lòng tin; nếu là phục vụ, hãy trọn niềm phục vụ; kẻ làm thầy dạy, hãy chuyên việc dậy dỗ; kẻ khuyến khích, hãy ra công khuyến khích; kẻ phân phát, hãy có lòng đơn thành; kẻ chủ sự, hãy gắng nhiệt thành; kẻ thương giúp, hãy được vui tươi” (Rom 12:4-8).

Thánh Phaolô cũng trình bày tình yêu Chúa Kitô dành cho Hội Thánh như tình yêu của Ðức Lang Quân dành cho Hiền Thê của mình. Ðây là hình ảnh các ngôn sứ trong Cựu Ước như Hôsê, Isaia, Giêrêmia và Êzekia đã dùng để diễn tả tình yêu Giavê dành cho dân thánh Israel. Và thánh nhân đặt tình yêu này làm lý tưởng cho tình yêu phu phụ nơi các tín hữu:

”Chồng hãy yêu mến vợ, cũng như Ðức Kitô đã yêu mến Hội Thánh, và đã phó nộp mình đi, ngõ hầu tác thánh, tẩy sạch, là tắm rửa cho bằng nước và lời, hầu tự hiến cho mình một Hội Thánh quang vinh, không một vết nhơ hay nét nhăn, hay chút gì như thế; trái lại để Hội Thánh thực là thánh thiện, vô tì tích...Ðó là một mầu nhiệm lớn, tôi muốn ám chỉ về Ðức Kitô và Hội Thánh” (Eph. 5:25-27,32).

Như Thánh Phaolô nhận xét, sư hiệp nhất giữa Chúa Kitô và Hội Thánh là một mầu nhiệm lớn, một mầu nhiệm vô cùng sâu sa, phong phú và kỳ diệu. Vì vậy, để diễn tả mầu nhiệm Hội Thánh, các tác giả Thánh Kinh và các tác giả trong truyền thống Kitô giáo đã phải dùng nhiều hình ảnh khác nhau để diễn tả thực tại vừa huyền nhiệm cao siêu vừa gần gũi thiết thân của Hội Thánh. Theo đó, Hội Thánh được gọi là Nhiệm Thể Chúa Kitô, Hiền Thê Chúa Kitô, Mẹ Hội Thánh, Dân Thiên Chúa, Gia Ðình Chúa, Ðàn Chiên Chúa, Vườn Nho Chúa, Gia Nghiệp Chúa, Bí Tích Cứu Ðộ Phổ Quát của Chúa Kitô, Giêrusalem Mới.

Ðối với Ðức Giáo Hoàng Piô XII, “Nhiệm Thể Chúa Giêsu Kitô” là danh xưng cao quý nhất của Hội Thánh: “Ðể diễn tả Hội Thánh đích thực của Chúa Kitô—Hội Thánh Rôma Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền—không một danh xưng nào cao quý hơn, trỗi vượt hơn, thánh thiêng hơn danh xưng ‘Nhiệm Thể Chúa Giêsu Kitô’” (Mystici Corporis, 1943).

 

Những đặc nét của Hội Thánh như những chiều kích tình yêu của Thánh Tâm

 

Truyền thống Công Giáo thường nói đến bốn đặc tính của Hội Thánh đích thực của Chúa Kitô. Ðó là duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Bốn đặc tính này có thể được coi như bốn chiều kích tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu dành cho nhân loại nói chung và cho từng người nói riêng.

 

1. Hội Thánh duy nhất: Vì Hội Thánh chỉ có một Chúat, tuyên xưng một đức tin duy nhất, được sinh ra bởi một Phép Rửa duy nhất, làm thành một Thân Thể duy nhất, được sức sống bởi một Thần Khí duy nhất, hướng về một niềm hy vọng duy nhất là sau cùng tất cả mọi chia rẽ sẽ được vượt qua (Theo sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo= GLGHCG # 866).

Tính cách duy nhất này nói lên sức mạnh hiệp nhất nơi tình yêu tuyệt đối của Thánh Tâm Chúa Giêsu, một tình yêu có thể quy tụ bao người khác biệt trở thành một lòng một trí trong lý tưởng mến Chúa yêu người.

 

2. Hội Thánh thánh thiện: Thiên Chúa là tác giả của Hội Thánh là Ðấng Rất Thánh; Chúa Kitô, Hôn Phu của Hội Thánh, đã tự nộp mình để thánh hóa Hội Thánh; Chúùa Thánh Thần làm cho Hội Thánh sống động. Và mặc dù Hội Thánh gồm những người tội lỗi, Hội Thánh là “Người-Không-Tội-Lỗi gồm các tội nhân.” Sự thánh thiện của Hội Thánh vẫn rạng ngời nơi các thánh nam nữ; nơi Mẹ Maria, Giáo Hội là toàn thánh (GLGHCG # 867).

Tính cách thánh thiện này nói lên sức mạnh biến đổi và thánh hóa nơi tình yêu tuyệt đối của Thánh Tâm Chúa Giêsu, một tình yêu biến đổi những con người phàm tục tội lỗi trở thành những vị thánh mang hình ảnh rạng ngời của Thiên Chúa.

 

3. Hội Thánh công giáo: Hội Thánh loan truyền sự toàn diện của đức tin; Hội

Thánh mang trong mình và ban phát đầy đủ các phương tiện của ơn cứu độ; Hội Thánh được sai đến với tất cả các dân tộc; Hội Thánh đi tới mọi người; Hội Thánh bao gồm mọi thời đại; “do bản tính của mình, Hội Thánh là thừa sai” (GLGHCG # 868).

Tính cách công giáo này nói lên tính cách phổ quát rộng mở của tình yêu tuyệt đối nơi Thánh Tâm Chúa Giêsu, một tình yêu bao trùm toàn thể gia đình nhân loại không loại trừ ai nhưng mở rộng cho tất cả. Mọi người đều cho chỗ trong Thánh Tâm Giêsu.

 

4. Hội Thánh tông truyền: Hội Thánh được xây dựng trên những nền móng vững bền là “mười hai tông đồ của Chiên Con” (Rev 21:14). Hội Thánh không thể nào bị phá hủy. Hội Thánh được đứng vững trong chân lý một cách bất khả ngộ: Chúa Kitô cai quản Hội Thánh nhờ Phêrô và các tông đồ khác, các ngài vẫn hiện diện nơi các người kế vị mình là Ðức Giáo Hoàng và giám mục đoàn (GLGHCG # 869).

 

Tính cách tông truyền này chứng thực sự thủy chung nơi tình yêu tuyệt đối của Thánh Tâm Chúa Giêsu, Người vẫn hiện diện trong lòng Hội Thánh cho đến tận thế để gìn giữ đức tin nguyên tuyền Hội Thánh và bảo đảm cho mọi tín hữu tận hưởng trọn vẹn tình yêu tinh khiết của Người.

Theo Linh Mục John A. Hardon, SJ (1914-2000), dưới cái nhìn của Thánh Anphong Liguori (1696-1787), một đặc tính nổi bật nơi Hội Thánh Chúa Kitô là chiều kích Thánh Mẫu, hay sự hiện diện tuyệt vời và liên lỉ của Mẹ Maria trong tâm hồn từng tín hữu và giữa lòng Hội Thánh. Vì Mẹ Maria vừa là Mẹ Chúa Kitô vừa là người Kitô hữu đầu tiên và tuyệt hảo, yêu mến, kết hợp và noi gương sống đức tin trong lòng Hội Thánh của Mẹ là lối sống niềm tin trọn hảo nhất.

______________

 

 

 

43- Yêu mến Hội Thánh

 

Chính nhờ Mẹ Hội Thánh và trong lòng Mẹ Hội Thánh mà các tín hữu đón nhận niềm tin vào Chúa Kitô và sự sống thần linh của Người. Hội Thánh còn tiếp tục thi hành quyền cai quản, dậy dỗ và thánh hóa của mình để hướng dẫn các tín hữu trên cuộc hành trình dương thế và đưa họ về quê trời, với sự hướng dẫn và quyền năng của Thần Khí. Bằng Lời Hằng Sống được gìn giữ trong kho tàng mạc khải của Thánh Kinh và Thánh Truyền, cũng như bằng chính Thánh Thể Chúa Kitô và kho tàng ơn thánh từ lời cầu nguyện và công nghiệp của Chúa Kitô và các thánh, Hội Thánh không ngừng nuôi dưỡng các tín hữu giúp họ đạt đến mức trưởng thành trong Chúa Kitô.

Vì vậy, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu không thể tồn tại nếu không được thực hiện nhờ Hội Thánh, với Hội Thánh và trong Hội Thánh. Vì Hội Thánh là Nhiệm Thể Chúa Kitô và là đối tượng của tình yêu tuyệt đối của Thánh Tâm Chúa Giêsu, tình yêu đích thực dành cho Thánh Tâm Chúa Giêsu bao giờ cũng phải gắn liền với tình yêu chân thành dành cho Hội Thánh.

Người có lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu đích thực phải biết yêu mến và hiệp nhất với Hội Thánh bằng chính tình yêu hiệp nhất mà Chúa Giêsu dành cho Hội Thánh.

Ðó là điều đã được gặp thấy nơi Thánh Phaolô. Thánh nhân không ngừng quan tâm đến đời sống của Hội Thánh và sẵn sàng đón nhận nhận mọi gian khổ để chứng thực tình yêu sâu xa của người dành cho Hội Thánh. Người viết “.Không kể các điều khác nữa, lại còn cái nỗi bứt rứt thường nhật, mối lo canh cánh về các hội thánh. Ai yếu đuối, mà tôi lại không phải yếu liệt? Ai vấp ngã, mà tôi lại không sốt người lên?” (2 Cor 11:28-29). Và “Nay tôi vui sướng trong các nỗi thống khổ chịu vì anh em; và trong thân xác tôi, tôi bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách Ðức Kitô phải chịu vì Thân mình Ngài, tức là Hội Thánh, mà tôi đã trở thành người phục vụ, thể theo sự an bài Thiên Chúa đã trao phó cho tôi, để lo cho anh em: viên thành công việc của Lời Thiên Chúa” (Col 1:24-25).

Trung thành, yêu mến, vâng phục và bênh vực Hội Thánh luôn là dấu hiệu của các tín hữu chân chính của Hội Thánh qua mọi thời đại.

Trong Thông Ðiệp Ecclesiam Suam (Những Con Ðường của Hội Thánh-1964) Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI nhắc lại lời Ðức Giáo Hoàng Piô XII trong Thông Ðiệp Mystici Corporis (Thân Thể Nhiệm Mầu—1943) như sau:

”Chúng ta phải tập nhìn thấy Chúa Kitô trong Hội Thánh. Chính Chúa Kitô sống trong Hội Thánh là Ðấng giảng dạy, cai quản và thánh hóa Hội Thánh. Cũng chính Chúa Kitô là Ðấng tỏ mình cách khác nhau nơi các thành viên trong tổ chức của Người” (#35).

Và Ðức Phaolô VI viết tiếp:

”Thực thế, ý thức về mầu nhiệm Hội Thánh là kết quả của một đức tin trưởng thành và sống động. Từ một đức tin như thế sẽ nảy sinh một ‘cảm nghĩ với Hội Thánh’, cảm nghĩ này đong đầy người Kitô hữu đã được dưỡng dục trong Trường Lời Chúa. Người ấy đã được bồi dưỡng bởi ân sủng của các bí tích và của những linh hứng khôn tả của Ðấng An Ủi, đã được đào luyện trong việc thực hành các nhân đức của Phúc Âm, đã được thấm nhuần với đời sống văn hóa và cộng đoàn của Hội Thánh, và được hạnh phúc sâu xa khi nhận thấy mình được trao tặng Chức Tư Tế Vương Giả thuộc về Dân Thiên Chúa. Mầu nhiệm Hội Thánh không phải chỉ là một kiến thức thần học; nó là một điều để sống, một điều mà tâm hồn trung tín có thể có được một thứ cảm nghiệm rất tự nhiên, ngay cả trước khi có một ý tưởng rõ ràng về Hội Thánh” (#36-37).

Vì Ðức Giáo Hoàng là Ðại Diện Chúa Kitô ở trần gian để làm Thủ Lãnh Hữu Hình và trung tâm sự hiệp nhất trong Hội Thánh, lòng thảo mến sâu xa và tinh thần triệt để vâng phục dành cho Vị Cha Chung là một đặc nét của các tín hữu Công Giáo.

Chân Phước Jose Maria Escriva (1902-1975) viết: “Con phải yêu mến, tôn kính, cầu nguyện và hãm mình cho Ðức Giáo Hoàng, và làm thế với tình cảm gia tăng mỗi ngày. Vì người là đá tảng của Hội Thánh và qua bao thế kỷ cho đến tận thế, người tiếp tục thi hành giữa con người nhiệm vụ thánh hóa và cai quản mà Chúa Giêsu đã trao phó cho Thánh Phêrô. Tình mến sâu xa nhất, sự kính trọng lớn nhất, lòng tôn kính đậm đà, sự vâng phục trọn vẹn và tình cảm nồng nhiệt nhất của con cũng phải được thể hiện đối với Ðức Giáo Hoàng, Ðấng Ðại Diện Chúa Kitô trên trần gian. Người Công Giáo chúng ta phải đặt Ðức Thánh Cha liền sau Thiên Chúa và Rất Thánh Ðức Bà trong mực thang quyền bính và yêu thương” (The Forge #134-135).

Thánh Nữ Catarina thành Siena (1347-1380) gọi Ðức Giáo Hoàng là “Chúa Kitô ngọt ngào trên trần gian.”

Cha Matêô Crawley-Boevey, SSCC (1875-1960), vị linh mục cổ động phong trào tôn vương Thánh Tâm Chúa Giêsu trong các gia đình, nói: “Ðức Giáo Hoàng là Phép Thánh Thể thứ 2. Vì chính Người dạy chúng ta phải tin Chúa Giêsu ngự thật trong Phép Thánh Thể và kêu gọi chúng ta thờ lạy Chúa Giêsu Thánh Thể.”

Thánh Anphong Liguori (1696-1787) ngay cả khi bị Tòa Thánh không châu phê luật dòng nơi ngài ở vẫn tuyên xưng: “Ý Ðức Giáo Hoàng là ý Chúa.”

Msgr. James Turro, một học giả Thánh Kinh, nhận xét: “Hội Thánh là sự hiện diện hiện nay của Chúa Kitô. Hãy nhìn vào Hội Thánh trong quá khứ với niềm tự hào, trong hiện tại với lòng mến yêu, trong tương lai với niềm hy vọng.”

___________________

 

 

Msgr. David Liptak, một giáo sư thần học, khẳng định: “Không một cá nhân nào hơn Hội Thánh” để nhấn mạnh đến tính cách ưu việt của quyền giáo huấn của Hội Thánh trên ý kiến riêng tư của các nhà thần học lạm dụng uy tín cá nhân để làm lung lạc đức tin của các tín hữu.

Linh Mục Francis Lescoe minh định: “Chúa trao quyền giảng dạy đức tin cho các tông đồ chứ không phải cho các nhà thần học. Vì vậy, chỉ có Hội Thánh mới được ơn bất khả ngộ. Còn các nhà thần học, không hơn các triết gia, không được ơn bất khả ngộ.”

Trong tác phẩm thời danh Ðường Hy Vọng, Ðức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đưa ra những nhận định thật sâu sắc về thực tại Hội Thánh và những lời khuyên chân tình và quý giá sau về những bổn phận của người tín hữu phải có đối với Hội Thánh:

”‘Tôi tin có Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền’. Một niềm tin, một hạnh phúc, một quyết tâm.

”Ðừng ngạc nhiên khi người ta phá Hội Thánh, vì đó là Nhiệm Thể Chúa Kitô; họ tiếp tục giết Chúa Kitô, không giết Chúa Kitô được nữa, người ta phá Hội Thánh” (#250-251).

”Yêu mến Hội Thánh, vâng lời Hội Thánh, trung thành với Hội Thánh, cầu nguyện cho Hội Thánh” (#253).

”Con hãy sẵn sàng hy sinh cho Hội Thánh và hy sinh do Hội Thánh.

”‘Ai nghe các con là nghe Thầy, ai khinh các con là khinh Thầy’. Suốt đời con ghi lòng tạc dạ: luôn luôn kính trọng người của Hội Thánh, chỉ thị của Hội Thánh, phụng vụ của Hội Thánh; Chúa sẽ chúc lành cho con.

”Trong Hội Thánh mọi người được mời gọi và có bổn phận phải nên thánh. Nếu con không sống thánh thiện, con đừng lên mặt canh tân Hội Thánh. ‘Không ai có Thánh Thần mà chống lại Ðức Kitô” (#265-267).

”Có gì hạnh phúc bằng tin tưởng rằng mình đang ở trong Hội Thánh, ở đó những khắc khoải của tinh thần được giải quyết và quả tim đầy tràn hy vọng” (#281).

Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng bày tỏ niềm ước ao: “Trong trái tim Hội Thánh—Người Mẹ Nhân Lành—tôi sẽ là tình ái, nhiên hậu tôi sẽ là tất cả và nhiên hậu, mơ ước thiết tha của đời tôi sẽ thành sự thực cả trăm phần trăm.”

Năm 1870, trước những nguy nan Hội Thánh đang gặp phải, Ðức Giáo Hoàng Piô IX đã đặt Thánh Cả Giuse, Phu Quân Ðức Trinh Nữ Maria, làm Quan Thầy Giáo Hội Hoàn Vũ và kêu gọi các tín hữu kêu cầu sự trợ giúp của Thánh Cả.

Ðáp ứng lời Vị Cha Chung và để bày tỏ lòng yêu mến thiết tha và mối quan tâm chân thực dành cho Hội Thánh ngày nay, chúng ta hãy siêng năng tha thiết cầu nguyện cho Hội Thánh với Thánh Cả bằng lời nguyện sau:

 

 

Kinh Thánh Giuse Cầu Cho Hội Thánh

 

Lạy ơn Ông Thánh Giuse, chúng con chạy đến cùng Người. Trong cơn gian nan, chúng con mắc phải, chúng con đã kêu van cùng Rất Thánh Ðức Bà, là Ðấng đã làm Bạn cùng Người, phù hộ gìn giữ chúng con, thì chúng con cũng lấy lòng trông cậy cho vững vàng mà xin Ông Thánh Giuse bầu cử cho chúng con như vậy.

Chúng con xin vì nhân đức kính mến mà Người làm Bạn cùng Rất Thánh Ðồng Trinh, là Mẹ Chúa Trời và là Ðấng chẳng mắc phải tội tổ tông truyền, cùng vì lòng thương Người đã ẵm lấy Ðức Chúa Giêsu, thì xin Ông Thánh Giuse ghé mặt lại mà thương đến Hội Thánh, là phần sản nghiệp Ðức Chúa Giêsu đã lấy Máu Thánh mình mà chuộc. Lại xin Người dùng sức mạnh thiêng liêng và quyền phép phép Người mà giúp đỡ những sự chúng con còn thiếu thốn. Lạy Ðấng đã coi sóc Ðức Chúa Giêsu và Ðức Bà cho cẩn thận, thì chúng con xin Người bênh vực con cái Ðức Chúa Giêsu đã chọn.

Lạy Cha rất thương yêu, chúng con xin Người cất mọi sự dối trá cùng mọi tội lỗi, cho chúng con khỏi mắc phải những sự ấy. Lạy Ðấng rất mạnh đang ở trên trời hãy gìn giữ chúng con, xin Người dủ lòng thương mà che chở chúng con, đang khi chiến trận cùng kẻ thù tối tăm là các ma quỷ. Như xưa Người đã gìn giữ Ðức Chúa Giêsu cho khỏi cơn hiểm nghèo thể nào, thì rầy chúng con cũng xin Người cứu chữa lấy Hội Thánh cho khỏi các mưu kế giặc thù và các sự gian nan khốn khó như vậy. Lại xin Người hằng bầu cử cho chúng con được bắt chước Người, và trông cậy vào quyền thế Người, cho được giữ đạo cho trọn, cùng được chết lành và được hưởng phúc vui vẻ đời đời chẳng cùng. Amen.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  

44- THỰC HÀNH

 

 LÒNG SÙNG KÍNH

THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR.

Thực hành lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là tất cả những việc làm giúp chúng ta đạt đến mục đích tối hậu của đời sống Kitô hữu là mến Chúa yêu người cách hoàn hảo qua việc kết hợp tâm hồn làm một với chính Trái Tim Cực Thánh của Chúa Giêsu (hợp nhất mọi tâm hồn tín hữu lại với Thánh Tâm Chúa), hay "có được tâm tư như đã có nơi Ðức Kitô Giêsu" (Phil 2:5), theo ngôn ngữ của Thánh Phaolô.

Thánh Anphong Liguori, Tổ Phụ Dòng Chúa Cứu Thế, cho thấy ngài thực sự là một tông đồ của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu khi đã biên soạn tác phẩm Dẫn Ðường Mến Chúa Tuần Cửu Nhật Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu giúp biết bao tâm hồn bước vào tình thâm giao với Chúa Cứu Thế.

Với tác phẩm Sùng Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu--Làm Thế Nào Ðể Thực Hành Lòng Sùng Kính Thánh Tâm, Cha John Croiset, SJ, linh hướng của Thánh Margarita Alacoque, cũng đã giúp nhiều người tiến lên trong đường yêu mến Chúa Giêsu.

Theo sự hướng dẫn của Thánh Maria Margarita Alacoque, Thánh Anphong Liguori, Cha John Croiset, SJ và các bậc linh sư thế giá trong Giáo Hội, việc thực hiện lòng sùng kính Thánh Tâm phải bao gồm những điểm sau:

1. Chìm đắm trong Thánh Tâm:

Những người sùng kính Thánh Tâm sẽ năng suy niệm về Tình Yêu Tuyệt Ðối Thiên Chúa và kết hợp tâm hồn với Trái Tim Chúa Giêsu để luôn nỗ lực vui vẻ đón nhận và thực thi Thánh Ý Chúa, tuân giữ các giới răn Chúa và lề luật Hội Thánh.

Họ thực hiện việc dâng mình cho Thánh Tâm Chúa Giêsu cách long trọng để xác định Chúa Giêsu là Tình Yêu Tuyệt Ðối của lòng họ. Và họ năng lập lại việc dâng mình này nhiều lần mỗi ngày với lời nguyện tắt:

Text Box: 'Giêsu ơi, con xin dâng lòng con cho Chúa.' 

Họ cũng tôn Thánh Tâm là Vua Tình Yêu trong gia đình họ, tôn kính Ảnh Thánh Tâm trên bàn thờ của gia đình và đeo hay mang theo trong người để được nhắc nhở luôn về Tình Yêu Vô Biên Chúa dành cho họ.

Họ đặt nền tảng cuộc đời họ trên Tình Yêu Nhân Hậu Chúa. Năng đọc Chuỗi Thương Xót của Thánh Faustina và những lời nguyện tắt kêu cầu Danh Thánh Giêsu và Thánh Tâm Chúa Giêsu sẽ giúp họ dễ kết hợp với Người:

"Lạy Chúa Giêsu rất dịu hiền và khiêm nhường trong lòng, xin làm cho trái tim con nên giống Trái Tim Chúa";

"Lạy Chúa Giêsu, con cậy trông nơi Tình Yêu Chúa dành cho con";

"Giêsu ơi, Chúa là Thiên Chúa và mọi sự của con";

 "Lạy Chúa, Chúa biết con mến Chúa";

"Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con là người tội lỗi";

 "Tất cả là vì Thánh Tâm và cho Thánh Tâm."

2. Kết hợp với Thánh Giá:

Thánh Giá là nơi Chúa Giêsu thi thố tình yêu của Người đến tận cùng qua việc chịu chết vì ta. Chính nơi Thánh Giá, Trái Tim Chúa đã bị đâm thâu để khai nguồn ơn cứu độ cho nhân loại. Vì thế, những ai có lòng sùng kính Thánh Tâm thường chiêm ngắm Tượng Chịu Nạn, cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, 14 Chặng Ðường Thánh Giá hay Năm Dấu Thánh Chúa Giêsu. Nhờ việc suy ngắm này, họ cảm nghiệm sâu xa hơn tình yêu Chúa và dễ dàng chấp nhận để thánh hóa những khó khăn, thử thách, đau khổ, bệnh tật và trái ý trong cuộc sống hàng ngày. Hơn nữa, họ còn quảng tâm thực hiện những hy sinh hãm mình tự ý để bày tỏ lòng ước ao được kết hợp với Chúa Giêsu Chịu Ðóng Ðinh, để đền tạ tội lỗi của chính mình và tội lỗi của nhân loại, và cầu nguyện cho những người tội lỗi được ơn hối cải.

Những người sùng kính Thánh Tâm thường ăn chay và gia tăng các việc hy sinh hãm mình vào ngày Thứ Sáu hàng tuần để kính nhớ cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu và thể hiện tinh thần đền tạ. Một số người cũng theo lời Chúa Giêsu dạy Thánh Margarita làm giờ canh thức từ 11 đến 12 giờ đêm Thứ Năm để chia sẻ cơn hấp hối đau buồn của Chúa trong Vuờn Cây Dầu. Chúa Giêsu dạy Thánh Faustina lúc 3 giờ chiều mỗi ngày là lúc tốt nhất để đọc Chuỗi Thương Xót và ngắm Ðàng Thánh Giá, vì đó là giờ Chúa chết trên Thánh Giá. Từ 3 đến 4 giờ chiều mỗi ngày là giờ đặc biệt để kính Lòng Thương Xót Chúa. Chúa còn dạy Chị Maria Josefa Menendez đọc Năm Kinh Lạy Cha mỗi ngày để kính Năm Dấu Thánh Chúa.

3. No thỏa nơi Thánh Thể:

Nhờ đức tin, ta nhận biết Trái Tim Chúa Giêsu ngự thật trong Thánh Thể hằng mong chờ ta đến với Người. Vì thế, những người có lòng sùng kính Thánh Tâm sẽ đặt Chúa Giêsu Thánh Thể là Trung Tâm đời sống của họ. Họ luôn khao khát được kết hợp mật thiết với Thánh Tâm Chúa Giêsu qua việc dự lễ, rước lễ, tham dự các giờ chầu hay viếng Mình Thánh Chúa. Việc năng rước lễ thiêng liêng cũng giúp họ được bổ sức tâm linh rất nhiều.

Họ luôn cố gắng giữ mình sạch tội và năng đến với Bí Tích Giải Tội để được tắm gội và thanh tẩy tâm hồn và rước lễ cách sốt sắng hơn. Ðặc biệt, họ sẽ cố gắng dự lễ và rước lễ trong các Thứ Sáu, nhất là các Thứ Sáu Ðầu Tháng để kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Hơn nữa, họ sẽ là những tông đồ của Chúa Giêsu Thánh Thể, mời gọi mọi người siêng năng và sốt sắng tham dự Thánh Lễ, Viếng Chúa và rước lễ thiêng liêng. Hạnh phúc lớn nhất của họ trên đời này là được dự lễ và rước lễ mỗi ngày. Những giây phút gần Thánh Thể là những giây phút quý nhất đối với họ.

4. Biệt kính Mẹ Maria:

Trên Thánh Giá Chúa Giêsu đã trao phó Ðức Mẹ cho Thánh Gioan, Vị Tông Ðồ của Thánh Tâm. Những ai sùng kính Thánh Tâm đều phải noi gương Thánh Gioan để đưa Mẹ về nhà mình, vào tâm hồn mình, vào cuộc sống mình, để nhờ Mẹ, với Mẹ, trong Mẹ và vì Mẹ yêu mến Chúa Thánh Tâm Chúa Giêsu một cách hoàn hảo hơn. Thánh Margarita nói rằng: "Ai thật lòng làm con cái Ðức Mẹ, Ðức Mẹ sẽ làm cho kẻ ấy nên tôi tớ thật của Thánh Tâm Chúa." Thánh Nữ đã được Chúa cho thấy Trái Tim Chúa Giêsu dâng mình làm của lễ cho Ðức Chúa Cha "trên bàn thờ Trái Tim Ðức Mẹ." Vì vậy, cả đời Thánh Margarita chỉ có một ước nguyện là lo sao cho Thánh Tâm Chúa Giêsu ngự trong Trái Tim Ðức Mẹ được thống trị khắp nơi.

Những người biệt kính Mẹ Maria thường đọc Kinh Truyền Tin mỗi ngày 3 lần sáng, trưa và chiều để kính Mầu Nhiệm Nhập Thể. Họ siêng năng lần Chuỗi Mân Côi mỗi ngày để cùng với Ðức Mẹ suy ngắm cuộc đời Chúa Giêsu để noi gương Mẹ trong việc yêu mến Chúa Giêsu. Sống tinh thần tận hiến cho Ðức Mẹ theo phương pháp Thánh Louis de Montfort là cách tuyệt hảo để thực hiện việc biệt kính Ðức Mẹ. Tinh thần tận hiến này được thể hiện qua những lời nguyện tắt sau:

"Lạy Mẹ là Mẹ con, toàn thân con thuộc về Mẹ, mọi sự của con là của Mẹ";

 "Con xin dâng X (tên người cần được cầu nguyện).. cho Trái Tim Tinh Tuyết Mẹ";

 "Cùng với Mẹ, con..(làm việc này) để yêu mến và đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu";

"Giêsu, Maria, Giuse, con mến yêu, xin cứu các linh hồn."

 Những ai biệt kính Mẹ Maria cũng sẽ sùng kính Thánh Cả Giuse--Phu Quân của Mẹ-- cách đặc biệt và lưu tâm thánh hóa đời sống gia đình.

5. Gắn bó với Hội Thánh:

Những người sùng kính Thánh Tâm bao giờ cũng phải hết lòng trung thành, yêu mến, vâng phục và bênh vực Hội Thánh. Vì Hội Thánh là Hiền Thê và Nhiệm Thể của Chúa Giêsu. Họ nỗ lực học hỏi, suy niệm, trân quý, tuân giữ và truyền bá Lời Chúa và các giáo huấn của Hội Thánh vì xác tín rằng Chúa Giêsu tiếp tục cai quản, giảng dạy và chăm sóc các linh hồn qua Hội Thánh. Ðặc biệt, họ có lòng thảo mến Ðức Thánh Cha, Ðấng Ðại Diện Chúa Kitô ở trần gian, và dâng mọi hy sinh và kinh nguyện theo ý chỉ của người.

Họ cũng sẽ học hỏi, noi gương và khấn xin sự chuyển cầu của các thánh, nhất là các thánh có lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu như Thánh Gioan Tông Ðồ, Thánh Maria Mađalêna, Thánh Phaolô, Thánh Gioan Eudes, Thánh Phanxicô de Sales, Thánh Margarita, Thánh Claude de la Colombier, Thánh Anphong Liguori. Thánh Nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu ước nguyện: "Giữa lòng Hội Thánh, con sẽ là tình yêu." Ðức Ông James Turro khuyên: "Hãy nhìn Hội Thánh trong quá khứ với lòng tự hào, trong hiện tại với tình thảo mến, trong tương lai với niềm hy vọng."

6. Ghê tởm tội lỗi--Khát khao tiến đức:

Ý thức rằng tội lỗi là nguồn gốc mọi sự dữ và là điều làm cho Trái Tim Chúa bị đau buồn hơn cả, những người sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu luôn dốc lòng: "Thà chết chẳng thà phạm tội." Họ tìm cách xa lánh mọi dịp tội để làm đẹp lòng Chúa. Những tội làm Thánh Tâm Chúa Giêsu đau buồn hơn cả là sự vô ơn dửng dưng của con người trước lời mời gọi đầy yêu thương của Thánh Tâm Thánh Thể Chúa của những người tín hữu; tội bất phục giáo huấn Hội Thánh nơi những tín hữu; những tội xúc phạm đến phẩm giá và sự sống con người; tội kiêu ngạo, tự mãn, phô trương về tài đức hay công lênh; nhất là tội tuyệt vọng hay thiếu tín nhiệm nơi Lòng Thương Xót vô biên và Ân Sủng vạn năng của Thánh Tâm Người. Họ sẽ nỗ lực luôn sống trong tinh thần thống hối và đền tạ để được canh tân, bền đỗ và tăng tiến trong ân sủng và tình yêu Chúa.

Những người sùng kính Thánh Tâm luôn cố gắng kết hợp với Thánh Tâm qua việc trau giồi một đức tin mạnh mẽ, một đức cậy vững chắc và một đức mến nồng nàn. Ngoài ra, họ noi gương Chúa Giêsu cách đặc biệt trong việc tập đức hiền lành, khiêm nhường, bỏ mình và vâng phục của Người. Họ cũng noi gương Thánh Tâm yêu đời sống trầm lặng, nguyện cầu và ẩn dật của Người nơi Nhà Nazareth.

7. Sống theo Thần Khí--Chí hướng tông đồ:

Những người sùng kính Thánh Tâm đích thực cũng phải là những người được thúc đẩy và hướng dẫn để sống và hành động bởi chính Thần Khí của Chúa Giêsu. Họ sẽ năng kêu cầu Chúa Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn và trợ giúp họ trong đời sống hằng ngày. Ðược Thánh Thần thúc đẩy như thế, họ sẽ hăng say hoạt động tông đồ để giúp cho nhiều người nhận biết và yêu mến Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Hội Thánh. Họ sẽ cầu nguyện như Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu:

"Lạy Ðức Chúa Cha thương xót vô cùng, nhân danh Chúa Giêsu từ ái, nhân danh Mẹ Maria Ðồng Trinh, xin Chúa lấy lửa ái Chúa Thánh Thần mà thiêu đốt con và ban cho con ơn cảm hóa người đời thiết tha yêu mến Chúa" và

"Sứ mạng của tôi là yêu mến Chúa và làm cho mọi người yêu mến Chúa."

***

 

 

45- TIẾNG TƠ LÒNG

 NƠI TRÁI TIM CHÚA

  Trần Hữu Khắc

 

 Tháng sáu, tháng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu, đã trở về đặc biệt có Đại Lễ Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu vào ngày 18, thiết tưởng không gì hơn lắng đọng tâm hồn để nghe những Tiếng Tơ Lòng của Trái Tim Chúa qua một số Vị đã được thụ khải.

 

Người ta thường cho rằng Quả Tim có những bí ẩn của nó cũng như văn học Tây phương có câu : “Trái Tim có những lý do mà lý trí không hiểu” có nghĩa là không ai thấu nổi , không ai khám phá ra, không ai đo lường đựơc phù hợp với ngạn ngữ Việt nam “Đo sông, đo biển hồ dễ đo  được lòng người”. Nhưng Con Tim của Chúa Giêsu thì mọi điều bí ẩn đã được phơi bầy qua lồng ngực mở ra, một Trái Tim nồng cháy hiển hiện với lời của Chúa đã nói nhiều lần : “Thầy đã tỏ cho các con biết hết mọi điều” Jn 15:15. Bà Maguerite lúc chiêm ngắm Trái Tim Chúa bị thu hút đã diễn tả: “Chúa từ từ bước đến gần tôi. Tôi thấy Chúa càng lúc càng gần, gần đến nỗi tôi cảm thấy đựơc nhấc bổng lên trong tay Chúa, được đu đưa bên Trái Tim Người”.

 

  Cha Giacôbê Đào Hữu Thọ, một vị linh mục gắn bó suốt đời với phong trào LMTT cũng đã khám phá ra điều bí ẩn của Con Tim Chúa Giêsu. Cha nhiều lần tâm tình với anh em đoàn viên bằng một câu dí dỏm sâu sắc :

 

 “Cứ đụng vào Trái Tim Chúa Giêsu thì sẽ thấy mê ngay ấy mà, rút không ra đựơc”.

 

Hai tư tưởng trên tiêu biểu cho cả một kho tàng bút tích từ cổ chí kim viết về Thánh Tâm Chúa như là một Học Thuyết cao siêu trở thành Diệu Thuyết Thánh Tâm Chúa Giêsu.  Diệu Thuyết - Chữ Diệu có nghĩa là vừa tuyệt vời vừa nhiệm mầu đứng cạnh chữ Thuyết nói lên đây là một Học Thuyết, một Luận Lý cao siêu huyền nhiệm. Tác giả đựơc ơn Trên linh ứng đem lồng vào hai tiếng Thánh Tâm thì không còn gì đúng nghĩa hơn, vì Trái Tim của một Con Người siêu phàm như Chúa Kitô là nguồn mạch sự khôn ngoan, là tột đỉnh thông minh duệ trí. Diệu Thuyết Thánh Tâm lại chính là lời của Chúa mà lời  Chúa thì vượt ngàn lần khoa học của tất cả mọi triết nhân và các nhà thông thái trên đời. Sách Gương Phúc đã có câu mỉa mai: “Hỡi các nhà thông thái hãy im đi để một mình Chúa Giêsu nói với lòng con vì khoa học nhiều khi thiếu diệu năng chỉ làm cho trí thêm kiêu hãnh và làm cho hồn thêm giá lạnh”. Linh muc Crosier đã đưa diệu thuyết Thánh Tâm lên hàng Thần Học. Lại nữa nếu không là một diệu thuyết thì các vị Giáo Hoàng đã chẳng cả quyết qua Diệu Thuyết Trái Tim Chúa có thần lực cứu vãn xã hội khỏi những vết thương trầm trọng, nói cách khác có quyền lực thay đổi cục diện thế giới.

 

 

 

46- Những Sứ Giả  của Thánh Tâm

 

 - Chúa Giêsu đã mạc khải sự tôn sùng Thánh Tâm cho một số vị đã đựơc Chúa tuyển chọn. Có vị đựơc diễm phúc Chúa mở lồng ngực cho thấy Trái Tim bị thương tích và đựơc Chúa trao đổi tâm tình, có lúc Chúa than thở, nài van, có lúc Chúa cảnh giác. Có thể nói những lời Chúa thổ lộ là những Tiếng Tơ Lòng phát xuất từ Con Tim nhân hậu đầy tình xót thương. Các vị đã trở thành những Sứ Giả của Thánh Tâm và qua các vị lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa đựơc khai sinh, đựơc triển nở khắp nơi.

 

Mượn bút tích của mấy vị ưu tuyển xin đựơc nêu lên những câu tiêu biểu mà Chúa Giêsu đã tâm tình với các vị để Quý Bạn suy niệm, vì đây là những điều vừa quan trọng, vừa cấp bách Chúa muốn truyền đạt cho nhân loại, cho Giáo Hội.

 

Thánh Nữ  Margaret Mary Alacoque - sinh quán Pháp quốc:

 

 

 

 

Thánh Nữ Mechtilde -   sinh quán Đức quốc:

 

 

 Nữ Tu Josefa Memendez -  sinh quán Tây Ban Nha:

 

 

 

Nữ Tu Consolata Betrone -  sinh quán nứơc Ý:

 

 

 

Thánh Faustina Kowalska -  sinh quán Balan:

 

 

 

Nữ Giáo Dân Marguerite -   sinh quán nước Bỉ :

 

 

 

 

 

 

47- Hiện Tình Thế Giới.

          

Lời Chúa Giêsu tâm tình với Bà Marguerite như còn văng vẳng : “Than ôi! Ánh sáng đối với một số đông đã đổi thành bóng tối. Bóng tối diệt vong đang chập chờn trên vũ trụ nếu các dân tộc không hối cải. Ôi thế giới đang quằn quại trong đam mê”. Quả thật lúc này tội ác lan tràn nhiều nơi, bóng tối của ác thần bao phủ. Điều ngay thật, lẽ công chính không còn đụơc quý trọng. Tội lụy trà trộn cả trong các đạo giáo, nơi thì cực đoan cuồng tín mượn danh Đấng Tối Cao giết người không nương tay, nơi thì rơi vào vòng tình ái bẩn thỉu. Hai chữ Tự Do bị lạm dụng đi đến phóng túng, hết đồng tính luyến ái đến hôn nhân đồng phái. Về nền móng gia đình thì đã lung lay tận gốc, số gia đình tan vỡ lên quá cao, ly dị trở nên quốc sách nối tiếp từ đời ông đến đời cháu. Cái cảnh con cái khác cha khác mẹ dự lễ cưới của bố mẹ mình thậm chí còn đóng vai phù dâu phù rể cho đôi tân hôn là bố mẹ mình, cứ đà này tránh sao cảnh cha truyền con nối. Gía trị hôn nhân đã mất vẻ cao đẹp của nó. Đáng buồn hơn nữa là tệ trạng bỏ nhau ở những cặp vợ chồng lớn tuổi lên ông lên bà cả rồi.

 

Trước sự dữ càng ngày càng gia tăng và ý niệm về sự Thiện Ác, về Chính Tà bị đảo lộn, một câu hỏi đặt ra không biết có phải là thời điểm tiên báo trong Tin Mừng : “Thần Khí phán rõ ràng vào những thời cuối cùng một số người sẽ bỏ Đức Tin mà theo những tà thần lừa dối và những giáo huấn của ma quỉ” (2 Tm 3: 2,3).  Và thực sự Satan đang hoành hành khắp nơi với chủ đích phá vỡ tất cả những gì cao siêu, thánh thiện, thanh tao, trong sáng. Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI đã xác tín :

 “Ta có cảm giác hương khói của Satan đã lan tỏa cả trong Đền Thờ Chúa qua chỗ rạn nứt”.

 

Về hiện tình Giáo Hội, Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần thở than với Bà Marguerite :

“Giáo Hội Cha hiện đang trải qua một tình trạng hỗn mang, lộn xộn và Satan đã nhảy vào’

 

“Có những chó sói trong đàn chiên cuả Cha. Chúng ngụy trang dưới lớp lông chiên cừu”

 

Hiện tình thế giới thực sự bi quan khiến Đức Mẹ bùi ngùi xót thương đã hiện ra nhiều nơi giọt lệ tuôn rơi hòa với những giòng máu. Chúa Giêsu cũng đã minh xác việc Mẹ Người khóc với câu :

 “Mẹ khóc vì những sự khủng khiếp của thế giới ngày nay. Mẹ khóc vì sự điên cuồng của các dân tộc đang tự mình mài dũa khí giới hủy diệt mình”.

 

 

 

48- Sứ Vụ Người Tín Hữu

SÙNG KÍNH THÁNH TÂM

 

Trước những lời tâm sự của Chúa Giêsu nêu trên về hiện tình thế giới không thể không đánh động tâm trí người tín hữu, cách riêng Đoàn Viên GĐPTTT. Không lẽ tôi dửng dưng mà không đáp trả một phần nào. Vậy xin trích một ít tư tưởng trong Tông Huấn của vị đương kim Giáo Hoàng cùng một số văn kiện Công Đồng với những huấn thị :

 

 

 

 

 

Với chủ đích :

 

 

 

 

 

 

      

 

Về Hôn Nhân và Gia Đình trong tâm thư gửi các gia đình, Ngài viết :

 

 

 

 

 

Kết luận xin nhắc lại lời của vị Ngôn Sứ Cao Cả là Đức Giêsu Kitô :

 

“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian, ánh sáng phải sáng chói, chiếu giãi trứơc mặt thiên hạ để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5:16)

 

Nguyện chúc Sứ Vụ của Liên Đoàn GĐPTTT đem Thánh Tâm Chúa đến Gia Đình và Xã Hội đạt được kết quả tốt đẹp như ý sở cầu.  Một sự thật hiển nhiên là gia đình nào có trưng  ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu với kinh nguyện thường nhật thì đựơc Thiên Chúa chúc phúc.

 

 

**********

 

Gia đình Phạt Tạ Thánh Tâm VN

Ban Tuyên Huấn TGP SaiGon

Tổng hợp 2008