GĐPTTTVN

BTH

TÀI LIỆU HỌC TẬP THÁNG SÁU

ĐỀ TÀI 6: GIÁO HỘI VIỆT NAM MUỐN TRỞ NÊN MỘT GIA Đ̀NH HƠN MỘT PHẨM TRẬT

A. TR̀NH BÀY

Trong việc xây dựng một Giáo Hội hiệp thông, điều cần quan tâm là xây dựng sự hiệp thông giữa các thành phần Dân Chúa. V́ Giáo Hội là của mọi người tín hữu, nên mọi thành phần trong Giáo Hội đều phải liên kết với nhau và cùng chia sẻ trách nhiệm. Vẫn biết không dễ ǵ hiện thực ngay được ư thức đó trong đời sống, thế nhưng, đây lại là điều cần làm ngay.

Chính các Giám mục Việt Nam đă nói đến nhu cầu cấp bách này trong Thượng Hội đồng Giám mục Á châu như sau: “Cần thiết phải xây dựng Giáo Hội như một gia đ́nh của những con cái Thiên Chúa hơn là như một phẩm trật được phú ban với những cơ cấu và luật lệ nghiêm minh. Giáo Hội như một gia đ́nh sẽ ḥa nhập tốt hơn vào xă hội Việt Nam.”

Những lá thư mục vụ của Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng liên tục nhắc lại lời mời gọi mọi phần tử trong Giáo Hội, chủ chăn cũng như giáo dân, đang hoạt động hoặc c̣n đang được đào tạo nơi các chủng viện hay ḍng tu, phải thật sự canh tân, đổi mới tư duy để cùng dựng xây một Giáo Hội như ḷng Chúa mong muốn (Đề Cương 20).

 

B. HỎI - ĐÁP

1- H. Công Đồng Vaticanô II dạy thế nào về vai tṛ của mọi tín hữu trong việc xây dựng Giáo Hội?

T. Công Đồng Vaticanô II khẳng định mọi thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, đều có quyền và trách nhiệm tham gia vào công việc xây dựng Giáo Hội Chúa Kitô.

2- H. Các Kitô hữu phải làm những ǵ để xây dựng Giáo Hội Hiệp Thông?

T. Một là phải hiệp thông với Chúa cũng như với nhau. Hai là phải loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Ba là yêu thương và phục vụ cho sự sống dồi dào của mọi người trong xă hội.

3- H. Theo các giám mục Việt Nam, chúng ta phải xây dựng Giáo Hội như thế nào để ḥa nhập tốt hơn vào xă hội?

T. Chúng ta phải xây dựng Giáo Hội như một gia đ́nh của những con cái Thiên Chúa, hơn là như một phẩm trật được phú ban với những cơ cấu và luật lệ nghiêm minh.

4- H. Để xây dựng Giáo Hội như một gia đ́nh, các giám mục Việt Nam mời gọi các tín hữu làm ǵ?

T. Các giám mục Việt Nam mời gọi các tín hữu, chủ chăn cũng như giáo dân, đang hoạt động cũng như đang được đào tạo nơi các chủng viện hay ḍng tu, phải đổi mới tư duy để chung xây một Giáo Hội như ḷng Chúa mong ước.

5- H. Để xây dựng sự hiệp thông giữa các thành phần Dân Chúa, Giáo Hội Việt Nam phải đối diện với những thách đố nào?

 

T. Giáo Hội Việt Nam phải quan tâm nhiều hơn đến vai tṛ của giáo dân, v́ giáo dân chỉ được xem là khí cụ của hàng giáo sĩ hơn là những người chia sẻ trách nhiệm trong cùng một sứ mệnh Chúa trao.

C. GỢI Ư TRAO ĐỔI

1. Theo bạn, có thể xây dựng Giáo Hội như một gia đ́nh trong khi vẫn duy tŕ phẩm trật không?

2. Bạn có những đề nghị nào để giúp giáo xứ trở thành một gia đ́nh, trong đó mọi người quan tâm đến nhau, liên đới và đoàn kết với nhau trong việc phục vụ ích chung?

3. Theo bạn, cần phải làm ǵ để giáo dân thực sự là những người chia sẻ trách nhiệm với linh mục trong cùng một sứ mệnh Chúa trao phó cho cộng đoàn?

6.1 VAI TR̉ CỦA KITÔ HỮU GIÁO DÂN

TRONG GIÁO HỘI

A. TR̀NH BÀY

Giáo dân là toàn bộ các Kitô hữu không thuộc thành phần có chức thánh hoặc tu sĩ, được tháp nhập với Chúa Kitô nhờ bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, được hội nhập vào dân Thiên Chúa, được tham dự chức năng tiên tri, tư tế và mục tử của Chúa Kitô theo cách thức riêng của ḿnh là “t́m kiếm Nước Thiên Chúa ngay trong chính việc quản trị và sắp đặt các sự việc trần thế theo ư Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và bổn phận trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đ́nh và ngoài xă hội... để như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới... hầu ca tụng Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Độ” (GH 31).

Cụ thể, giáo dân tham dự vào chức vụ tiên tri của Chúa Kitô bằng việc Phúc Âm hóa, “nghĩa là loan báo Chúa Kitô bằng đời sống chứng tá và bằng lời nói”. Đặc biệt trong đời sống hôn nhân và gia đ́nh, trong sinh hoạt nghề nghiệp và những dấn thân xă hội khác (x. GH 35). Những giáo dân có khả năng và được đào tạo c̣n có thể góp phần trong việc dạy giáo lư (GL 774), dạy các khoa học thánh (GL 229), và trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông xă hội (GL 823).

Giáo dân tham dự vào chức vụ tư tế của Chúa Kitô bằng việc làm cho “mọi hoạt động, kinh nguyện, công việc tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đ́nh, việc làm ăn thường ngày, việc giải lao cho tâm trí cũng như thể xác và mọi thử thách của cuộc sống... trở nên hiến lễ thiêng liêng đẹp ḷng Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô” (GH 34), và hiến lễ đó được liên kết với việc dâng lên Chúa Cha. Như thế “giáo dân thánh hiến thế giới này cho Thiên Chúa, thờ phượng Thiên Chúa khắp nơi bằng đời sống thánh thiện của ḿnh” (GH 34).

Giáo dân tham dự vào chức vụ mục tử của Chúa Kitô, khi họ “chiến thắng ách thống trị của tội lỗi nơi ḿnh, bằng một đời sống từ bỏ ḿnh và thánh thiện” (GH 36), khi “làm cho những giá trị luân lư thấm nhập vào văn hóa và các công tŕnh của loài người” (GH 36), khi “thi hành những tác vụ khác nhau tùy theo ơn huệ và đặc sủng mà Chúa trao ban” (LBTM 11).

Giáo Hội tại Việt Nam cách nào đó vẫn chưa quan tâm đủ đến vai tṛ người giáo dân trong Giáo Hội. Nhiều giáo dân vẫn tự cho ḿnh chỉ là một “cánh tay”, một dụng cụ hỗ trợ hàng giáo sĩ hơn là những người chia sẻ trách nhiệm trong cùng một sứ mệnh Chúa trao. Quả thật, đây vẫn c̣n là một thách đố cho Giáo Hội tại Việt Nam khi phải trở nên “cộng đoàn của các cộng đoàn”, hay “nguyên lư hiệp thông” của các cộng đoàn.

B. HỎI ĐÁP

1- H. Theo Công Đồng, giáo dân là ai?

T. Giáo dân là toàn bộ các Kitô hữu không thuộc thành phần có chức thánh hoặc tu sĩ, được tháp nhập với Chúa Kitô nhờ bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, được hội nhập vào dân Thiên Chúa, được tham dự các chức vụ tiên tri, tư tế và mục tử của Chúa Kitô theo cách thức riêng của ḿnh.

2- H. Vai tṛ chính yếu của giáo dân là ǵ?

T. Vai tṛ chính yếu của giáo dân là t́m kiếm Nước Thiên Chúa ngay trong chính việc quản trị và xếp đặt các sự việc trần thế theo ư Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và bổn phận trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đ́nh và ngoài xă hội... để như men từ bên trong, thánh hóa thế giới... hầu ca tụng Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Độ.

3- H. Giáo dân tham dự vào chức vụ tiên tri của Chúa Kitô như thế nào?

T. Giáo dân tham dự vào chức vụ tiên tri của Chúa Kitô bằng việc Phúc Âm hóa, nghĩa là loan báo Chúa Kitô bằng đời sống chứng tá và bằng lời nói.

4- H. Giáo dân tham dự vào chức vụ tư tế của Chúa Kitô như thế nào?

T. Giáo dân tham dự vào chức vụ tư tế của Chúa Kitô qua việc làm cho “mọi hoạt động, kinh nguyện, công việc tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đ́nh, việc làm ăn thường ngày, việc giải lao cho tâm trí cũng như thể xác và mọi thử thách của cuộc sống... trở nên hiến lễ thiêng liêng đẹp ḷng Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô” (GH 34).

5- H. Giáo dân tham dự vào chức vụ mục tử của Chúa Kitô như thế nào?

T. Giáo dân tham dự vào chức vụ mục tử của Chúa Kitô khi “chiến thắng ách thống trị của tội lỗi nơi ḿnh, bằng một đời sống từ bỏ ḿnh và thánh thiện” (GH 36), khi “làm cho những giá trị luân lư thấm nhập vào văn hóa và các công tŕnh của loài người” (GH 36), khi “thi hành những tác vụ khác nhau tùy theo ơn huệ và đặc sủng mà Chúa trao ban” (LBTM 11).

C. GỢI Ư TRAO ĐỔI

1. Theo bạn, tính cách riêng và đặc thù của giáo dân trong Giáo Hội là ǵ?

2. Là giáo dân, bạn ư thức thế nào về vai tṛ và nhiệm vụ của ḿnh trong Giáo Hội?

3. Là giáo dân, bạn tham dự thế nào vào các chức vụ tiên tri, tư tế và mục tử của Chúa Kitô?

(Nguồn http://hdgmvietnam.org)

 

 

6.2 VAI TR̉ CỦA KITÔ HỮU GIÁO SĨ

TRONG GIÁO HỘI

A. TR̀NH BÀY

Trong Giáo Hội, các tác vụ đứng hàng đầu là các tác vụ phát xuất từ bí tích Truyền Chức Thánh. Qua bí tích này, các thừa tác viên lănh nhận thánh chức và quyền bính mà hành động “thay mặt Đức Kitô là Đầu” để phục vụ Giáo Hội và nhờ Lời Chúa và các bí tích mà quy tụ Giáo Hội trong Chúa Thánh Thần. Với danh nghĩa là chủ chăn, các thừa tác viên có chức thánh thi hành các nhiệm vụ giáo huấn, thánh hoá và hướng dẫn. “Nhiệm vụ giáo huấn là một nhiệm vụ trổi vượt trong các nhiệm vụ chính yếu của Giám mục” (GH 25). “Các linh mục, v́ là cộng sự viên của các Giám mục, nên trước tiên có nhiệm vụ loan báo cho mọi người Phúc Âm của Thiên Chúa” (LM 4). Đức Giáo Hoàng thủ lĩnh giám mục đoàn, được hưởng ơn vô ngộ khi lấy tư cách là chủ chăn và thầy dạy tối cao để công bố một giáo thuyết về đức tin và phong hóa bằng một phán quyết chung. Giám mục đoàn cũng được hưởng ơn vô ngộ khi đồng thanh giảng dạy không những trong Công Đồng chung, mà cả khi các ngài thông hảo với nhau và với Đấng kế vị Phêrô để giảng dạy những giáo lư về đức tin và phong hóa (x. GH 25).

Giám mục và linh mục – cộng sự viên của hàng giám mục – có nhiệm vụ phân phát các mầu nhiệm thánh; giúp các Kitô hữu lớn lên trong ơn nghĩa thánh nhờ lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa, lănh nhận các bí tích và trở nên nhân chứng trung thành của Chúa; giúp họ sống thánh thiện theo ơn gọi của mỗi người; và nêu gương thánh thiện bằng bác ái, khiêm nhường và đời sống đơn giản.

Các giám mục và linh mục sống giữa dân ḿnh như người cha và chủ chăn. Như những người cha, các ngài yêu thương và lo lắng cho hết mọi người. Như những chủ chăn, các ngài quy tụ đoàn chiên của ḿnh thành một gia đ́nh, trong đó, mọi người đều ư thức trách nhiệm của ḿnh, sống và hành động trong hiệp thông bác ái. Các ngài hướng dẫn Giáo Hội trong tinh thần phục vụ như Thầy ḿnh và trong sự hiệp thông với Hội Thánh toàn cầu, dưới sự hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng.

B. HỎI-ĐÁP

1- H. Giáo sĩ là ai?

T. Giáo sĩ là các Kitô hữu lănh nhận thánh chức và quyền bính mà hành động “thay mặt Đức Kitô là Đầu” để quy tụ và phục vụ Giáo Hội trong Chúa Thánh Thần.

2- H. Giáo sĩ gồm những ai và có những nhiệm vụ nào?

T. Giáo sĩ gồm có giám mục, linh mục và phó tế. Các ngài có nhiệm vụ giáo huấn, thánh hoá và hướng dẫn.

3- H. Giáo sĩ thi hành nhiệm vụ giáo huấn như thế nào?

T. Các ngài thi hành nhiệm vụ giáo huấn qua việc “loan báo cho mọi người Tin Mừng của Thiên Chúa” (LM 4). Đức Giáo Hoàng được hưởng ơn vô ngộ khi lấy tư cách là chủ chăn và thầy dạy tối cao để công bố một giáo thuyết về đức tin và phong hóa bằng một phán quyết chung.

4- H. Giáo sĩ thi hành nhiệm vụ thánh hóa như thế nào?

T. Các ngài thi hành nhiệm vụ thánh hóa qua việc phân phát các mầu nhiệm thánh hầu giúp các Kitô hữu lớn lên trong ơn nghĩa thánh, trở nên thánh thiện theo ơn gọi của ḿnh và nêu gương thánh thiện cho mọi người.

5- H. Giáo sĩ thi hành nhiệm vụ hướng dẫn như thế nào?

T. Các ngài sống giữa dân ḿnh như người cha và chủ chăn. Như những người cha, các ngài yêu thương và lo lắng cho hết mọi người. Như những chủ chăn, các ngài quy tụ đoàn chiên của ḿnh thành một gia đ́nh, trong đó, mọi người đều ư thức và chu toàn trách nhiệm của ḿnh trong hiệp thông huynh đệ.

C. GỢI Ư TRAO ĐỔI

1. Nếu giáo sĩ được mời gọi sống giữa Dân như người cha yêu thương và lo lắng cho hết mọi người trong gia đ́nh Giáo Hội, th́ giáo dân được mời gọi sống với các ngài như thế nào?

2. Nếu giáo sĩ được mời gọi sống giữa Dân như người chủ chăn chăm lo cho đoàn chiên của ḿnh, th́ giáo dân được mời gọi sống với các ngài như thế nào?

3. Trong trường hợp giáo sĩ sống giữa Dân không như người cha và chủ chăn, th́ giáo dân sẽ phải hành xử thế nào cho hợp với bản chất Giáo Hội là Hiệp Thông?

6.3 TƯƠNG QUAN GIỮA KITÔ HỮU GIÁO SĨ

VÀ KITÔ HỮU GIÁO DÂN TRONG GIÁO HỘI

A. TR̀NH BÀY

Trước khi nói đến sự khác biệt trong đời sống và chức vụ giữa giáo sĩ và giáo dân, thiết tưởng phải nói đến sự b́nh đẳng giữa những người lănh nhận bí tích Thánh Tẩy trong Chúa Kitô. Về điểm này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến chế Tín lư về Giáo Hội viết: “Mọi chi thể có chung một phẩm giá được của giáo dân (x. KTHGD 15). tái sinh trong Chúa Kitô, một ân huệ được làm con, một ơn gọi nên trọn lành; chỉ có một ơn cứu độ, một niềm hy vọng duy nhất và một đức ái không phân chia” (GH 32). Theo Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, v́ có chung phẩm giá, giáo dân là người đồng trách nhiệm với các thừa tác viên có chức thánh cũng như các tu sĩ trong sứ vụ của Giáo Hội. Tuy nhiên, nơi giáo dân, phẩm giá chung này có một thể thức khác, thể thức này phân biệt nhưng không tách biệt với linh mục và tu sĩ, mà nằm ngay trong tính cách trần thế là tính cách riêng và đặc thù

Công Đồng trong Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân c̣n viết: “Các giám mục, các cha sở, các linh mục ḍng triều phải nhớ rằng quyền và bổn phận làm tông đồ là chung cho tất cả mọi tín hữu không phân biệt giáo sĩ hay giáo dân, và trong việc xây dựng Giáo Hội, giáo dân cũng có phần riêng của họ. V́ thế các ngài phải cùng với giáo dân làm việc trong Giáo Hội và cho Giáo Hội với t́nh huynh đệ, cũng như phải đặc biệt để tâm lo cho giáo dân trong khi họ làm việc tông đồ... Luôn trung thành với tinh thần và giáo lư của Giáo Hội, các ngài phải giúp cho giáo dân và hàng giáo phẩm có được những liên lạc thích đáng, phải ra sức nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và tinh thần tông đồ nơi các đoàn thể công giáo đă được trao phó cho các ngài, và phải hiện diện trong các hoạt động của các đoàn thể đó bằng ư kiến khôn ngoan và cổ vơ những sáng kiến của chúng. Qua các tiếp xúc thường xuyên với giáo dân, các ngài phải chú tâm t́m kiếm xem những h́nh thức nào đem lại kết quả hơn cho hoạt động tông đồ. Các ngài phải cổ vơ tinh thần hiệp nhất ngay trong đoàn thể ḿnh phụ trách cũng như giữa đoàn thể này với các đoàn thể bạn” (KTHGD 25).

Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng kêu gọi các giáo sĩ: “Với ư thức chân chính về mối hiệp thông giữa các thành phần dân Chúa, chúng ta nên mạnh dạn và nhanh chóng rời bỏ những cách hành xử “bao cấp” hay “quan liêu”, theo kiểu giáo sĩ cung ứng tất cả mọi sự, giáo dân phải lệ thuộc giáo sĩ, để xây dựng một Giáo Hội tham gia. Giáo Hội ấy, như thánh Phaolô mô tả, “không c̣n là Do Thái hay Hy Lạp” (1 Cr 3,28), nhưng chỉ là một trong đức tin, đức cậy, và đức mến, nhiệt t́nh trong một sứ mệnh duy nhất (Đề Cương 21).

B. HỎI-ĐÁP

1- H. Công Đồng Vaticanô II nói thế nào về sự b́nh đẳng giữa các Kitô hữu?

T. Theo Công Đồng Vaticanô II, “mọi chi thể đều có chung một phẩm giá được tái sinh trong Chúa Kitô, một ân huệ được làm con, một ơn gọi nên trọn lành; chỉ có một ơn cứu độ, một niềm hy vọng duy nhất và một đức ái không phân chia” (GH 32).

2- H. Dựa vào đâu mà Giáo Hội xác quyết giáo dân là người đồng trách nhiệm với các giáo sĩ và tu sĩ?

T. Giáo Hội xác quyết giáo dân là người đồng trách nhiệm với các giáo sĩ và tu sĩ dựa vào phẩm giá chung của các Kitô hữu.

3- H. Do đâu phẩm giá chung của các Kitô hữu, nơi giáo dân, có một thể thức khác với giáo sĩ và tu sĩ?

T. Phẩm giá chung của Kitô hữu, nơi giáo dân, có một thể thức khác với giáo sĩ và tu sĩ do tính cách trần thế là tính cách riêng và đặc thù của giáo dân.

4- H. Để cải thiện tương quan giữa giáo sĩ và giáo dân, các giám mục Việt Nam kêu gọi những ǵ từ phía các giáo sĩ?

T. Các giám mục Việt Nam kêu gọi các giáo sĩ nên mạnh dạn và nhanh chóng rời bỏ những cách hành xử “bao cấp” hay “quan liêu”, theo kiểu giáo sĩ cung ứng tất cả mọi sự, giáo dân phải lệ thuộc giáo sĩ, để xây dựng một Giáo Hội Hiệp Thông.

5- H. Giáo dân cần phải làm ǵ để góp phần cải thiện tương quan giữa giáo sĩ và giáo dân?

T. Giáo dân phải ư thức rơ vai tṛ và nhiệm vụ của ḿnh trong Giáo Hội, đồng thời thực thi vai tṛ và nhiệm vụ ấy như những người đồng trách nhiệm với các linh mục và tu sĩ.

C. GỢI Ư TRAO ĐỔI

1. Sự b́nh đẳng giữa các Kitô hữu có mâu thuẫn với việc có các chức vụ khác nhau trong Giáo Hội không? Nếu không th́ chúng ḥa hợp với nhau như thế nào?

2. Giáo xứ của bạn là cộng đoàn, trong đó, linh mục chu cấp hết mọi sự hay mọi người cùng chia sẻ trách nhiệm chung?

3. Theo bạn, giáo sĩ và giáo dân Việt Nam cần phải làm ǵ để đổi mới tương quan với nhau trong Giáo Hội?

 

********************************